GS. TS. Nguyễn Quang Uẩn,
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Đặt vấn đề: Cách đây không lâu, tôi đã viết bài nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày sinh của Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc với tư cách là học trò được thầy dạy dỗ, dìu dắt trong học tập, nghiên cứu khoa học và giảng dạy chuyên sâu về tâm lý học. Bài viết được đăng trong cuốn sách “Phạm Minh Hạc với đồng nghiệp, bầu bạn và học trò”. Trong hội thảo khoa học lần này do Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục phối hợp với Hội Cựu Giáo chức Việt Nam đồng tổ chức, tôi xin phép không tham luận về giá trị khoa học và thực tiễn của các công trình của giáo sư về tâm lý học, giáo dục học, quản lý giáo dục, chỉ nêu lên những ký ức sâu lắng nhất trong tâm thức, trong trải nghiệm mà tôi đã ghi nhận và tiếp tục phát huy.

1. Ký ức về một người thầy
Là một trong những hạt giống quý hiếm đầu tiên về khoa học tâm lý được đào tạo từ Trường Đại học Tổng hợp Matxcơva mang tên Lômônôxốv lừng danh thế giới. Năm 1962, thầy Phạm Minh Hạc nhận công tác tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cùng với đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên ngành tâm lý học giáo dục học, như: giáo sư Nguyễn Lân, các nhà giáo lão thành như: thầy Nguyễn Hữu Tảo, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Đỗ Thị Xuân, Lê Khánh Bằng, Đặng Vũ Hoạt, Phạm Hoàng Gia,… chuẩn bị cho sự ra đời của Khoa Tâm lý – Giáo dục đầu tiên của đất nước trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1965.
Chỉ sau một năm thành lập, năm 1966 Khoa đã tổ chức khóa đào tạo chuyên tu ngành tâm lý – giáo dục học, lớp chuyên nghiệp A gồm 50 học viên, là những cán bộ, sinh viên vừa tốt nghiệp Khoa cơ bản của các Trường Đại học Sư phạm ở miền Bắc lúc bấy giờ, nhằm tạo nguồn giảng viên ngành tâm lý giáo dục học cho cả nước, trong đó có tôi.
Thầy Phạm Minh Hạc trực tiếp giảng dạy những môn học rất cơ bản về tâm lý học như: Tâm lý học đại cương; lý luận hoạt động; hoạt động, giao tiếp với sự hình thành và phát triển nhân cách; lịch sử tâm lý học; phương pháp luận khoa học tâm lý.
Sau lớp chuyên nghiệp A tạo nguồn ấy, một số đồng chí được giữ lại làm giảng viên Khoa Tâm lý – Giáo dục thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Dưới sự dìu dắt, giúp đỡ ân tình của các Thầy như: Nguyễn Lân, Trương Anh Tuấn, Phạm Hoàng Gia, Lê Khánh Bằng, Đặng Vũ Hoạt và nhiều Thầy Cô giáo khác.
Năm 1968, thầy Phạm Minh Hạc tiếp tục học nghiên cứu sinh tại Liên Xô và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tâm lý học năm 1971 do giáo sư lừng danh A.R.Luria hướng dẫn.
Về nước công tác từ năm 1972, nhưng ngay sau đó, thầy Phạm Minh Hạc lần lượt được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Khoa giáo Trung ương,.. Tuy nhiên, với nhiệt huyết trong sự nghiệp giáo dục, Thầy vẫn tiếp tục tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên ngành tâm lý giáo dục, quản lý giáo dục qua các chuyên đề cao học, nghiên cứu sinh. Điều này góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu, giúp cho việc thắt chặt mối quan hệ giữa Khoa Tâm lý giáo dục học – nơi đào tạo cán bộ, giảng viên chuyên ngành với nhiều cơ sở đào tạo, nhiều cơ sở nghiên cứu khác, góp phần phát huy vai trò đầu tàu, tạo nguồn của Khoa Tâm lý Giáo dục với tư cách khoa sư phạm đầu ngành của một Trường Đại học Sư phạm trọng điểm, chuẩn mực của cả nước.
Năm 1977, thầy Phạm Minh Hạc bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học tâm lý về “Hành vi và hoạt động” tại Liên Xô. Cũng trong thời gian này, tôi có may mắn được học nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm Khoa học Giáo dục Liên Xô và bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ tâm lý học với sự động viên, khích lệ của các thầy cô đang học tập, nghiên cứu tại Matxcơva, trong đó có các thầy Phạm Minh Hạc, thầy Hồ Ngọc Đại, cô Đặng Xuân Hoài.
Thế hệ học trò chúng tôi tự hào về chức danh giáo sư mà thầy Phạm Minh Hạc được Nhà nước phong hàm năm 1984. Sau đó, năm 1999, Thầy được phong Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học chính trị Nga.
2. Ký ức về một nhà khoa học
Là một nhà khoa học thực thụ, giáo sư Phạm Minh Hạc đã chủ nhiệm nhiều chương trình khoa học cấp Bộ, cấp Ngành, cấp Nhà nước. Trong đó, ký ức sâu sắc nhất mà tôi ghi nhớ là hai chương trình khoa học nổi bật và có vinh dự được trực tiếp tham gia nghiên cứu, đó là:
1/Chương trình: “Con người là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế xã hội”, Mã số KX-07, gồm một hệ 29 đề tài khoa học, thu hút hơn 200 nhà khoa học các ngành trong cả nước cùng tham gia. Tiến hành khảo sát 66.165 khách thể thuộc nhiều nhóm lứa tuổi, nhóm dân tộc, các ngành khoa học khác nhau ở 31 tỉnh, thành phố trong cả nước, miền Bắc 13 tỉnh, miền Trung 11 tỉnh, miền Nam 7 tỉnh, kết quả nghiên cứu có nhiều ý nghĩa thực tiễn, khẳng định: con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
2/Chương trình “Phát triển văn hóa xây dựng con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Mã số KH-XH-04, Tiến hành vào những năm 1996-2000, Chương trình KH-XH-04, gồm 6 đề tài cấp Nhà nước với sự tham gia của 40 nhà khoa học, Chương trình đã tiến hành khảo sát, điều tra, đo đạc trắc nghiệm trên 6.739 khách thể và hồi cứu điều tra trên 35.000 khách thể, thu được nhiều tài liệu phong phú về phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong 2 chương trình trên, bản thân tôi có may mắn được tham gia 2 đề tài.
Chủ nhiệm đề tài KX-07-04 “Những đặc trưng và xu thế phát triển nhân cách con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội”.
Phó chủ nhiệm đề tài KH.XH-04-03 “Xây dựng lối sống đạo đức và chuẩn mực, giá trị xã hội, môi trường, điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Sau mỗi Chương trình, bản thân tôi nhận thấy có sự trưởng thành thêm, đem trí tuệ, công sức để hoàn thành tốt các đề tài nói trên. Từ các công trình trên, kết quả nghiên cứu được xã hội hoá trên các tạp chí uy tín trong nước. Các đề tài khi nghiệm thu được đánh giá với kết quả và chất lượng tốt.
Trong kho tàng khoa học quý báu của đất nước, giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc đã có nhiều đóng góp cả về lý luận và thực tiễn. Cho đến nay, các giá trị đó vẫn tiếp tục phát huy và có ý nghĩa khoa học trường tồn.
Không chỉ tham gia nghiên cứu, ứng dụng thành quả trong đào tạo, triển khai kết quả nghiên cứu các đề tài vào thực tiễn, tôi có may mắn được giáo sư Phạm Minh Hạc chỉ đạo sát sao, nhiệt tâm và có kết quả tích cực. Cũng vì vậy, tôi có điều kiện tổ chức và tham gia một số hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế và trong nước vào những năm 1990-1998 của thế kỷ qua.
Khi là phó chủ tịch Hội Tâm lý – Giáo dục học Việt Nam 2 nhiệm kỳ do giáo sư Phạm Minh Hạc là Chủ tịch Hội, chúng tôi đã tổ chức có kết quả các hội thảo có tầm cỡ quốc tế ở Việt Nam vào những năm 1996-1997, trong đó đáng kể nhất là 2 hội thảo khoa học:
Hội thảo “Jean Piaget – Nhà tâm lý học vĩ đại thế kỷ XX” nhân kỷ niệm 105 ngày sinh Jean Piaget, tháng 12 năm 1996 tại Hà Nội và tại Thành phố Hồ Chí Minh, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học quốc tế và trong nước có uy tín.
Hội thảo khoa học “L.X.Vưgốtxki – Nhà tâm lý học kiệt xuất thế kỷ XX” tại Hà Nội với sự tham gia của nhiều nhà tâm lý học quốc tế, trong đó có các nhà khoa học tâm lý Nga và các nhà khoa học của cả nước. Sau đó, hàng năm Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học và đã gây được tiếng vang trong nước, chẳng hạn:
Hội thảo “Tâm lý học – Giáo dục học trong thời kỳ đổi mới” tháng 12 năm 2006.
Hội thảo “Văn hóa học đường, lý luận và thực tiễn”, tháng ba, năm 2009.
Hội thảo “Động cơ học tập của người học và trách nhiệm của người dạy, thực trạng và giải pháp” tháng 7 năm 2015.
Hội thảo “Tâm lý học giáo dục học với việc thực hiện Nghị quyết 29-NQTƯ của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” tháng 12 năm 2016.
Và còn nhiều hội thảo khoa học khác.
3. Ký ức về một nhà quản lý giáo dục
Với cương vị là người thầy, nhà giáo, nhà khoa học mẫu mực, thầy Phạm Minh Hạc đã đảm nhiệm 3 nhiệm kỳ là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa VI, VII, VIII từ năm 1986-2001, 2 nhiệm kỳ là đại biểu Quốc hội các khoá VII và VIII từ năm 1981-1991, từng là Phó Chủ tịch và Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương.
Bên cạnh đó, Thầy còn đảm nhiệm trọng trách là Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phó Ban khoa giáo Trung ương. Giáo sư Phạm Minh Hạc từng là Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước. Tôi có may mắn 2 kỳ là Ủy viên Hội đồng Chức danh Giáo sư, Phó giáo sư chuyên ngành Tâm lý – Giáo dục học. Bản thân tôi được phong hàm phó giáo sư tâm lý học vào năm 1991 và giáo sư năm 2001 với sự quan tâm ân cần, chu đáo của người thầy kính yêu, giáo sư Phạm Minh Hạc.
Là nhà khoa học, nhà quản lý trên nhiều cương vị khác nhau, Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc có công lớn trong việc xây dựng tổ chức các hội khoa học. Năm 1990, Hội khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam ra đời, thầy đã đảm nhiệm chức danh chủ tịch Hội trong nhiều khóa liên tiếp, Hội Tâm lý Giáo dục Việt Nam đã phát huy vai trò tích cực trong việc tư vấn, phản biện nhiều văn bản pháp luật, văn hóa và khoa giáo cho Nhà nước.
Trên cơ sở Hội Tâm lý Giáo dục Việt Nam, nhiều phân hội tâm lý giáo dục được thành lập, hoạt động có kết quả ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước và trong các bộ như: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và nhiều bộ khác.
Tôi có may mắn là một trong các Phó Chủ tịch Hội Tâm lý – Giáo dục Việt Nam, và là Chủ nhiệm Khoa Tâm lý – Giáo dục của một Trường Đại học Sư phạm trọng điểm, được tham gia vào nghiên cứu, điều tra dư luận xã hội của các tầng lớp nhân dân trong cả nước về các cơ quan dân cử, phục vụ trực tiếp các kỳ họp của Quốc hội các khóa VIII, IX, tôi đã nhiều lần xin ý kiến chỉ đạo của giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc đáng kính - Nhà quản lý đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau lúc bấy giờ về một số vấn đề mà tôi đã phát biểu ý kiến với các đồng chí lãnh đạo Văn phòng Quốc hội, các cơ quan chuyên môn của Quốc hội.
Trong bài viết này, tôi chỉ nêu lên một vài thông tin về việc trao đổi, góp ý về một số vấn đề trước đây chúng tôi đã nêu lên với Văn phòng Quốc hội.
3.1. Khi tiến hành khảo sát, lấy ý kiến của nhân dân các dân tộc ít người ở huyện Na Rỳ, tỉnh Bắc Kạn, nhiều người dân tộc Tày nêu ý kiến: cấp trên không nên gọi chúng tôi là dân tộc thiểu số, người thiểu số, nên gọi chúng tôi là dân tộc ít người. Bởi lâu nay, Đảng và Nhà nước Chủ trương thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương. Do vậy, chúng tôi, những người dân tộc thiểu số có những thiệt thòi so với dân tộc đa số về nhiều quyền lợi trong chính trị cũng như các quyền lợi xã hội. Vì vậy, Quốc hội nên gọi chúng tôi là dân tộc ít người, không nên gọi là dân tộc thiểu số. Chúng tôi đã báo cáo ý kiến này với Văn phòng Quốc hội ngay từ Quốc hội khóa VIII.
3.2. Khi thảo luận về Luật Giáo dục sửa đổi, chúng tôi đã nêu lên một số ý kiến sau: Ban đầu chúng ta có 2 bộ, Bộ Giáo dục, quản lý các bậc học, cấp học từ mầm non đến đại học sư phạm; Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, quản lý các loại trường, các cơ sở đào tạo từ trung học, cao đẳng chuyên nghiệp, dạy nghề đến các trường đại học đa ngành, chuyên ngành. Sau đó chúng ta nhập 2 Bộ thành Bộ Giáo dục và Đào tạo như hiện nay. Thực ra, trong giáo dục không chỉ nâng cao dân trí mà còn có đào tạo nhân lực, đào tạo nhân tài, không nên chỉ dùng từ bồi dưỡng, nhân tài, không nên chỉ có Luật Giáo dục mà phải nói tới Luật Giáo dục và Đào tạo.
Trong Luật Giáo dục có nói tới tổ chức “Hội phụ huynh học sinh”, thực ra không nên gọi là “Hội phụ huynh” mà chỉ nên gọi là “Ban đại diện gia đình học sinh” trong mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Lâu nay, trong dân gian và trong quản lý vẫn chịu ảnh hưởng của chế độ phụ hệ, quyền huynh thế phụ, chỉ nói tới cha anh bỏ qua người mẹ, trọng nam khinh nữ, như: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, vì quan niệm như vậy nên đã gán lỗi cho người phụ nữ: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Theo chúng tôi, có thể “Con hư tại cả mẹ cha, cháu hư, hư tại cả tại bà lẫn ông, tại xã hội, cộng đồng còn nhiều thói hư”. Mặt khác, nếu được gọi là Hội, điều này đồng nghĩa với việc hội phải có Cương lĩnh, phải có Điều lệ. Trong thực tế, hội phụ huynh không có Cương lĩnh, cũng không có Điều lệ hoạt động. Do đó, nên bỏ cách gọi hội phụ huynh trong văn bản Luật Giáo dục và cả trong thực tiễn lâu nay vẫn đang sử dụng.
Theo chúng tôi, nên chuyển Bộ Giáo dục và Đào tạo như lâu nay trở lại thành Bộ Giáo dục, vì trong giáo dục có đào tạo.
Trước đây, Quốc hội và Nhà nước đã nói tới Bộ Giáo dục, Bộ Văn hóa, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an,... Sau đó, trong việc đổi mới cơ cấu tổ chức của các cơ quan bộ, đã có lúc chúng ta quy gán chưa chính xác, chưa hợp lý tên một số bộ, chẳng hạn: Bộ Công an gọi là Bộ Nội vụ. Thực, ra Bộ Nội vụ phụ trách các vấn đề nội chính, khác với Bộ Ngoại giao (ngoại vụ) để thu gọn đầu mối, nhằm giảm bớt cán bộ quản lý, các cơ quan chức năng và nhân viên, chúng ta đã gộp một số bộ thành bộ mới có quy mô, chức năng, trọng trách ôm đồm chưa hợp lý, chẳng hạn: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Công thương gồm công nghiệp và thương nghiệp.
Chúng tôi cho rằng, công thương phụ trách những vấn đề thương mại có tính công ở tầm quốc tế, khu vực, quốc gia, còn tư thương là thương mại có tính gia đình, cá nhân. Nếu có Bộ Công thương phụ trách các lĩnh vực gồm công nghiệp và thương nghiệp thì tại sao nhiều lĩnh vực khác như nông nghiệp không có nông thương, lâm nghiệp không có lâm thương, ngư nghiệp không có ngư thương, thủ công nghiệp không có thủ công nghiệp thương?
Trên thực tế có thể tồn tại một số bộ ghép như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài nguyên và Môi trường,… có thể có sự hợp lý nhất định cả về hình thức và nội dung.
Trong việc thu gọn đầu mối tinh giản cơ cấu tổ chức và biên chế, số lượng nhân viên được tổ chức theo hướng hợp lý hóa, tối ưu hoá, hiện đại hoá cần tiến hành công việc toàn diện hơn. Không nên vì mục tiêu thu gọn, giảm biên chế mà làm vội và làm thiếu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Chưa chú ý đầy đủ, sâu sắc, hợp lý, nguồn cội lịch sử, văn hóa, truyền thống, nghề nghiệp,… của các bộ phận được ghép lại với nhau thành một tổ chức có tên mới. Chẳng hạn như, việc sắp xếp lại các thôn, xã, phường đang triển khai mạnh mẽ trong bối cảnh hiện tại.
3.3. Nói về “chí công vô tư”. Trong Báo cáo tổng kết nghiệm thu đề tài KX-07-04 “Đặc trưng xu thế phát triển nhân cách con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế-xã hội”, chúng tôi là chủ nhiệm thuộc chương trình khoa học cấp Nhà nước KX-07, từ kết quả nghiên cứu chúng tôi nêu lên một số ý nói lên sự biến đổi về định hướng giá trị ở nước ta từ những năm 90 của thế kỷ qua:
Giá trị lợi ích cá nhân và gia đình trội hơn giá trị lợi ích tập thể và xã hội.
Giá trị kinh tế trội hội hơn giá trị tinh thần.
Giá trị lợi ích trước mắt trội hơn lợi ích lâu dài.
Giá trị hiện đại lấn át giá trị truyền thống.
Từ đó, chúng tôi nêu lên một số quan niệm về “chí công vô tư” như sau:
Trong tác phẩm Đường Kách mệnh viết năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên 23 Điều tư cách người Kách mệnh, thể hiện qua 3 mối quan hệ: Với bản thân qua 14 Điều, với người khác 5 Điều và với công việc 4 Điều. Trong 14 Điều với bản thân, Nguyễn Ái Quốc có nêu lên vị công vong tư – có nghĩa là vì cái chung mà bớt đi, làm giảm đi cái riêng không phù hợp, không phải là chỉ vì cái chung mà bỏ hẳn cái riêng. Triết học duy vật biện chứng đã khẳng định cái riêng, cái bộ phận nằm trong cái chung, cái toàn thể, cái chung phải chú ý tới cái riêng, cái bộ phận, vì thế nên dùng quan niệm vị công vong tư đầy đủ hơn, đúng hơn so với chí công vô tư.
Trên đây, trong bản tham luận này, chúng tôi đã trình bày một số ý cơ bản nói lên ký ức sâu lắng của bản thân về giáo sư, viện sĩ, nhà khoa học Phạm Minh Hạc với tư cách một người thầy, một nhà giáo, một nhà quản lý giáo dục mẫu mực. Viết về thầy giáo, giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc có biết bao điều muốn nói. Tuy nhiên, đây là những điều tâm huyết ăn sâu trong tâm thức, qua các trải nghiệm thực tiễn mới thấy hết các giá trị chân, thiện, mỹ của tình người. Ký ức của tôi về giáo sư viện sĩ Phạm Minh Hạc là một trong những ký ức sâu lắng ấy.