PGS.TS Trần Đình Tuấn
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Email: [email protected]
Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các lý thuyết tiếp cận trong khoa học giáo dục, bao gồm tiếp cận nội dung, tiếp cận mục tiêu và tiếp cận năng lực. Trên cơ sở phân tích khái niệm, bản chất, cơ sở triết học, ưu điểm và hạn chế của từng lý thuyết, bài viết làm rõ xu hướng chuyển đổi từ giáo dục định hướng truyền thụ tri thức sang giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực người học trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và chuyển đổi số. Đặc biệt, bài viết nhấn mạnh vai trò của lý thuyết tiếp cận năng lực như một nền tảng lý luận quan trọng của đổi mới giáo dục hiện đại, góp phần phát triển con người toàn diện, có khả năng thích ứng, sáng tạo và học tập suốt đời. Đồng thời, bài viết phân tích những đặc trưng, ý nghĩa và yêu cầu của giáo dục tiếp cận năng lực; đề xuất một số giải pháp vận dụng lý thuyết tiếp cận năng lực nhằm thúc đẩy đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: tiếp cận nội dung, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận năng lực, khoa học giáo dục, đổi mới giáo dục, giáo dục định hướng năng lực.

1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, giáo dục đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới căn bản và toàn diện nhằm đào tạo nguồn nhân lực có năng lực thích ứng với xã hội tri thức và nền kinh tế số. Thực tiễn đó đòi hỏi giáo dục không chỉ trang bị tri thức mà còn phải phát triển cho người học các năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng và phẩm chất để giải quyết hiệu quả các vấn đề trong học tập, nghề nghiệp và cuộc sống.
Ở Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định rõ yêu cầu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Quan điểm tiếp cận năng lực vì vậy trở thành định hướng quan trọng trong nghiên cứu và thực tiễn khoa học giáo dục hiện nay.
2. Khái quát quá trình phát triển của các quan điểm tiếp cận trong khoa học giáo dục
Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử có một quan điểm tiếp cận chính thống khác nhau trong khoa học giáo dục. Mỗi quan điểm tiếp cận đó được dựa trên một lý thuyết cụ thể. Đó là lý thuyết tiếp cận nội dung, lý thuyết tiếp cận mục tiêu và lý thuyết tiếp cận năng lực.
2.1. Lý thuyết tiếp cận nội dung
2.1.1. Tổng quan về lý thuyết tiếp cận nội dung
Tiếp cận nội dung là lý thuyết giáo dục xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của khoa học giáo dục. Quan điểm này hình thành từ nền giáo dục cổ đại ở Hy Lạp, La Mã và phát triển mạnh trong thời kỳ trung đại và cận đại khi giáo dục chủ yếu phục vụ việc truyền bá tri thức, kinh nghiệm và giá trị văn hóa xã hội.
Đến thế kỷ XVII–XIX, cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên và hệ thống trường học hiện đại, tiếp cận nội dung trở thành mô hình giáo dục chủ đạo ở nhiều quốc gia. Chương trình giáo dục được xây dựng theo hệ thống môn học khoa học và logic tri thức chuyên ngành.
Tác giả tiêu biểu của lý thuyết tiếp cận nội dung:
Jan Amos Comenius: Người đặt nền móng cho lý luận dạy học truyền thống với quan điểm giáo dục dựa trên hệ thống tri thức khoa học.
Johann Friedrich Herbart: Đại diện tiêu biểu của trường phái giáo dục truyền thống, nhấn mạnh vai trò truyền thụ tri thức và tính kỷ luật trong giáo dục.
John Locke: Đề cao vai trò của giáo dục trong hình thành tri thức và đạo đức con người.
2.1.2. Khái niệm
Tiếp cận nội dung là quan điểm giáo dục coi việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học là mục tiêu trung tâm của quá trình dạy học. Theo đó, chương trình giáo dục được xây dựng chủ yếu dựa trên nội dung kiến thức của các môn học.
Bản chất của tiếp cận nội dung là: Lấy tri thức làm trung tâm của giáo dục; Dạy học chủ yếu nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng; Giáo viên giữ vai trò trung tâm trong quá trình dạy học; Người học chủ yếu tiếp nhận, ghi nhớ và tái hiện kiến thức; Đánh giá kết quả học tập dựa vào mức độ lĩnh hội nội dung.
2.1.3. Cơ sở triết học chủ yếu của lý thuyết tiếp cận nội dung
Lý thuyết tiếp cận nội dung được hình thành trên nền tảng của triết học duy tâm kinh viện và tư tưởng giáo dục truyền thống, sau đó chịu ảnh hưởng mạnh của triết học duy lý (Rationalism) và quan điểm giáo dục hàn lâm cổ điển.
Triết học duy lý cho rằng tri thức khoa học là giá trị trung tâm của giáo dục; nhiệm vụ của nhà trường là truyền thụ hệ thống tri thức có sẵn cho người học. Quan điểm bản chất luận trong giáo dục xem tri thức là “chân lý khách quan”, tồn tại độc lập với người học; người học chủ yếu tiếp nhận, ghi nhớ và tái hiện nội dung đã được quy định.
Trong giáo dục phương Đông truyền thống, lý thuyết này còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, đề cao học vấn kinh điển, học thuộc, tôn sư trọng đạo và thi cử.
Biểu hiện trong dạy học: Chương trình dạy học được thiết kế theo hệ thống môn học và khối lượng kiến thức. Giáo viên giữ vai trò trung tâm, là người truyền đạt tri thức. Học sinh chủ yếu nghe giảng, ghi nhớ, tái hiện kiến thức. Đánh giá tập trung vào mức độ lĩnh hội nội dung học tập.
Tiếp cận nội dung phản ánh quan niệm giáo dục lấy tri thức làm trung tâm, coi giáo dục là quá trình truyền thụ di sản văn hóa – khoa học của nhân loại cho thế hệ sau.
2.1.4. Ưu điểm
Giúp truyền tải hệ thống tri thức khoa học một cách logic và có hệ thống. Thuận lợi cho tổ chức dạy học đại trà. Dễ xây dựng chương trình, giáo trình và kế hoạch giảng dạy. Tạo nền tảng tri thức cơ bản cho người học. Phù hợp với giai đoạn xã hội cần phổ cập tri thức khoa học.
2.1.5. Hạn chế
Quá coi trọng lý thuyết và ghi nhớ máy móc. Người học thụ động, ít phát huy tính sáng tạo. Chưa chú trọng năng lực vận dụng thực tiễn. Nội dung giáo dục dễ quá tải, nặng tính hàn lâm. Kiểm tra đánh giá thiên về tái hiện kiến thức hơn là khả năng thực hành. Trong thời đại thông tin, khi mà tri thức của nhân loại tăng lên theo cấp số nhân trong từng ngày, các nhà trường không thể dạy hết khối lượng thông tin khoa học khổng lồ cho người học.
Những hạn chế này dẫn đến sự ra đời của lý thuyết tiếp cận mục tiêu. Người học chỉ học những gì cần thiết theo mục tiêu nghề nghiệp đã xác định. Yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng chú trọng hiệu quả đầu ra và khả năng thực hành của người học.
2.2. Lý thuyết tiếp cận mục tiêu
2.2.1. Tổng quan về lý thuyết tiếp cận mục tiêu
Tiếp cận mục tiêu hình thành mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XX, đặc biệt sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong bối cảnh khoa học quản lý và tâm lý học hành vi phát triển mạnh ở Hoa Kỳ. Sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp hiện đại đòi hỏi giáo dục phải đào tạo con người theo những chuẩn đầu ra cụ thể và có thể đo lường được.
Lý thuyết này trở thành cơ sở cho việc thiết kế chương trình giáo dục hiện đại ở nhiều quốc gia trong nửa sau thế kỷ XX.
Tác giả tiêu biểu của lý thuyết tiếp cận mục tiêu bao gồm:
Ralph Tyler: Người đặt nền móng cho mô hình xây dựng chương trình theo mục tiêu với tác phẩm nổi tiếng “Basic Principles of Curriculum and Instruction”.
Benjamin Bloom: Xây dựng thang phân loại mục tiêu giáo dục Bloom (Bloom’s Taxonomy).
Burrhus Frederic Skinner: Đại diện tiêu biểu của tâm lý học hành vi, ảnh hưởng lớn đến giáo dục theo mục tiêu hành vi.
2.2.2. Khái niệm
Tiếp cận mục tiêu là quan điểm giáo dục xác định mục tiêu đào tạo là cơ sở trung tâm để thiết kế chương trình, lựa chọn nội dung, phương pháp và tổ chức kiểm tra đánh giá.
Bản chất của tiếp cận mục tiêu là mọi hoạt động giáo dục đều hướng tới đạt mục tiêu xác định trước. Mục tiêu được mô tả cụ thể, rõ ràng và có thể đo lường. Nội dung và phương pháp dạy học được lựa chọn theo mục tiêu. Kiểm tra đánh giá dựa trên mức độ hoàn thành mục tiêu học tập.
2.2.3. Cơ sở triết học chủ yếu của lý thuyết tiếp cận mục tiêu
Lý thuyết tiếp cận mục tiêu được xây dựng trên cơ sở của triết học thực chứng (Positivism), chủ nghĩa thực dụng (Pragmatism) và tâm lý học hành vi (Behaviorism).
Chủ nghĩa thực dụng của John Dewey nhấn mạnh giá trị thực tiễn của giáo dục, coi giáo dục là công cụ chuẩn bị cho cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp.
Triết học thực chứng đề cao khả năng đo lường, kiểm chứng và lượng hóa kết quả giáo dục.
Tâm lý học hành vi của B. F. Skinner và John B. Watson cho rằng học tập là sự thay đổi hành vi observable dưới tác động của kích thích và phản ứng.
Quan điểm quản lý khoa học trong giáo dục yêu cầu xác định rõ mục tiêu đầu ra để tổ chức, kiểm tra và đánh giá quá trình dạy học.
Biểu hiện trong dạy học: Mục tiêu dạy học được xác định cụ thể, chi tiết và có thể đo lường. Nội dung, phương pháp và kiểm tra đánh giá đều hướng tới việc đạt mục tiêu đã đề ra. Đề cao hiệu quả, chuẩn hóa và khả năng kiểm định chất lượng giáo dục.
Tiếp cận mục tiêu phản ánh quan niệm giáo dục lấy kết quả đầu ra làm trung tâm, coi giáo dục là quá trình tổ chức nhằm tạo ra những biến đổi hành vi và năng lực xác định trước.
2.2.4. Ưu điểm
Giúp quá trình giáo dục có định hướng rõ ràng. Tăng tính khoa học trong xây dựng chương trình đào tạo. Thuận lợi cho quản lý và kiểm tra chất lượng giáo dục. Tạo cơ sở đổi mới phương pháp dạy học. Giúp giáo viên và người học xác định rõ yêu cầu cần đạt. Lý thuyết này coi trọng rèn luyện kỷ năng thực hành, người học khi học xong có thể làm việc được ngay.
2.2.5. Hạn chế
Dễ làm giáo dục trở nên cứng nhắc và máy móc. Quá chú trọng mục tiêu cụ thể có thể làm giảm tính sáng tạo. Khó lượng hóa đầy đủ các giá trị nhân văn và cảm xúc. Có nguy cơ biến giáo dục thành quá trình “huấn luyện kỹ thuật”. Chưa phản ánh đầy đủ khả năng vận dụng tổng hợp của người học.
Mặc dù có nhiều tiến bộ so với tiếp cận nội dung, tiếp cận mục tiêu vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển toàn diện con người trong xã hội hiện đại.
2.3. Lý thuyết tiếp cận năng lực
2.3.1. Tổng quan về lý thuyết tiếp cận năng lực
Tiếp cận năng lực xuất hiện từ cuối thế kỷ XX và phát triển mạnh đầu thế kỷ XXI trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại đặt ra yêu cầu giáo dục phải đào tạo con người có khả năng thích ứng, sáng tạo và giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Từ những năm 1990, nhiều tổ chức quốc tế như UNESCO, OECD và Liên minh châu Âu đã thúc đẩy giáo dục định hướng năng lực như một xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại.
Tác giả tiêu biểu gồm:
Noam Chomsky: Người đầu tiên sử dụng khái niệm “competence” trong nghiên cứu ngôn ngữ học.
David McClelland: Đề xuất đánh giá năng lực thay cho chỉ số IQ trong đào tạo và tuyển dụng.
Philippe Perrenoud: Có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục phát triển năng lực.
UNESCO và OECD: Các tổ chức quốc tế thúc đẩy mạnh mẽ giáo dục tiếp cận năng lực. UNESCO đã chỉ ra 4 mục tiêu của nền giáo dục ở thế kỷ XXI theo hướng kết hợp giữa học để biết với học để làm và học để phát triển năng lực cá nhân.
Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã công bố: “từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam… một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, tr.34, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011)
2.3.2. Khái niệm
Tiếp cận năng lực là quan điểm giáo dục hướng vào việc hình thành và phát triển khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất cá nhân để giải quyết hiệu quả các vấn đề trong học tập, nghề nghiệp và cuộc sống.
Bản chất của tiếp cận năng lực là chuyển từ “truyền thụ tri thức” sang “phát triển khả năng vận dụng”. Người học là chủ thể tích cực của quá trình giáo dục. Dạy học gắn với thực tiễn, trải nghiệm và giải quyết vấn đề. Chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện. Đánh giá tập trung vào khả năng thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh thực tiễn.
2.3.3. Cơ sở triết học chủ yếu của lý thuyết tiếp cận năng lực
Lý thuyết tiếp cận năng lực được xây dựng trên nền tảng của triết học Mác – Lênin về sự phát triển con người toàn diện, kết hợp với triết học kiến tạo (Constructivism), triết học nhân văn (Humanism) và quan điểm học tập suốt đời của xã hội hiện đại.
Triết học Mác – Lênin khẳng định con người là chủ thể của hoạt động thực tiễn; giáo dục phải hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực con người.
Triết học kiến tạo cho rằng tri thức không phải là cái có sẵn để truyền thụ nguyên vẹn, mà người học phải chủ động kiến tạo thông qua trải nghiệm và tương tác xã hội.
Quan điểm nhân văn đề cao giá trị cá nhân, nhu cầu tự khẳng định, tự phát triển của người học.
Các lý thuyết của Jean Piaget, Lev Vygotsky và Jerome Bruner nhấn mạnh vai trò chủ động của người học trong quá trình hình thành năng lực.
Giáo dục hiện đại còn chịu ảnh hưởng của quan điểm phát triển nguồn nhân lực và thích ứng với xã hội tri thức, kinh tế số, cách mạng công nghiệp 4.0.
Biểu hiện trong dạy học: Chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Người học trở thành trung tâm của hoạt động giáo dục. Tăng cường học tập trải nghiệm, giải quyết vấn đề, hợp tác và sáng tạo. Đánh giá chú trọng khả năng thực hiện nhiệm vụ và vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ.
Tiếp cận năng lực phản ánh quan niệm giáo dục phát triển con người toàn diện, coi người học là chủ thể tích cực của quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn. Học không chỉ để “biết” mà còn để “làm”, để “tự khẳng định bản thân” và học để biết cách “chung sống cùng nhau” trong xã hội hiện đại.
2.3.4. Ưu điểm
Phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Tăng khả năng thích ứng với xã hội hiện đại. Phát huy tính tích cực, sáng tạo và tự học. Gắn giáo dục với thực tiễn nghề nghiệp và đời sống. Thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá. Phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và học tập suốt đời.
2.3.5. Hạn chế
Khó xác định và đo lường đầy đủ các năng lực. Đòi hỏi giáo viên có trình độ chuyên môn và kỹ năng sư phạm cao. Cần cơ sở vật chất và môi trường học tập hiện đại. Việc tổ chức kiểm tra đánh giá phức tạp và tốn nhiều nguồn lực. Nếu triển khai không phù hợp có thể dẫn đến xem nhẹ tri thức nền tảng.
Tiếp cận năng lực phản ánh yêu cầu đào tạo con người có khả năng thích ứng, sáng tạo và học tập suốt đời trong xã hội hiện đại.
2.4. Khái quát sự phát triển của các lý thuyết tiếp cận trong khoa học giáo dục
Sự phát triển từ tiếp cận nội dung đến tiếp cận mục tiêu và tiếp cận năng lực phản ánh quá trình đổi mới tư duy giáo dục trong lịch sử nhân loại.
Tiếp cận nội dung chú trọng “dạy cái gì”. Mục tiêu “học để biết” được đặt lên hàng đầu. Ai biết nhiều là người học giỏi.
Tiếp cận mục tiêu chú trọng “đạt tới kết quả nào”. Mục tiêu “học để làm” quan trọng hơn học để biết. Người lao động chỉ cần biết làm như thế nào cho đạt năng suất cao nhất mà không cần phải hiểu tại sao.
Tiếp cận năng lực chú trọng “người học có khả năng xử lý các tình huống biến động trong thực tiễn”. Mục tiêu “learning to be” học để phát triển hoàn toàn năng lực cá nhân được đặt ra là quan trọng nhất.
Ba lý thuyết này không hoàn toàn phủ định lẫn nhau mà có mối quan hệ kế thừa và bổ sung. Trong giáo dục hiện đại, việc vận dụng linh hoạt các quan điểm tiếp cận sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong thời đại mới.
3. Đặc trưng, ý nghĩa và yêu cầu của lý thuyết tiếp cận năng lực trong khoa học giáo dục
3.1. Đặc trưng của lý thuyết tiếp cận năng lực trong khoa học giáo dục
- Coi trọng phát triển năng lực cá nhân của người học. Mỗi con người cụ thể có những tố chất khác nhau. Giáo dục phải phát hiện ra những tố chất đó, tìm cách tác động làm cho những tố chất tốt đẹp được phát triển hoàn toàn.
- Định hướng phát triển toàn diện người học. Tiếp cận năng lực không chỉ hướng đến phát triển tri thức mà còn chú trọng phát triển phẩm chất, kỹ năng và thái độ của người học. Đây là cơ sở để hình thành con người phát triển toàn diện, có khả năng thích ứng với môi trường sống và làm việc hiện đại.
- Lấy người học làm trung tâm. Trong mô hình giáo dục tiếp cận năng lực, người học trở thành chủ thể của hoạt động học tập. Giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ và tạo môi trường học tập tích cực để người học tự khám phá và phát triển năng lực bản thân.
- Gắn lý thuyết với thực tiễn. Tiếp cận năng lực coi trọng khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tiễn. Vì vậy, hoạt động dạy học cần tăng cường trải nghiệm, thực hành, nghiên cứu tình huống và học tập dự án.
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá. Đánh giá trong tiếp cận năng lực không chỉ nhằm xác định mức độ ghi nhớ kiến thức mà tập trung đánh giá khả năng vận dụng, thực hành và giải quyết vấn đề của người học thông qua các nhiệm vụ thực tiễn.
3.2. Ý nghĩa của lý thuyết tiếp cận năng lực đối với đổi mới giáo dục hiện nay
- Đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong nền kinh tế tri thức, xã hội cần những con người có năng lực sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng hợp tác và thích ứng nhanh với sự thay đổi. Tiếp cận năng lực giúp hình thành những phẩm chất và năng lực đó cho người học.
- Thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học. Quan điểm tiếp cận năng lực tạo động lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học; hạn chế lối dạy học truyền thụ một chiều.
- Nâng cao chất lượng giáo dục. Khi giáo dục hướng tới phát triển năng lực thực tiễn, chất lượng đào tạo sẽ được nâng cao, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội.
- Phù hợp xu thế giáo dục hiện đại và chuyển đổi số. Trong bối cảnh chuyển đổi số, tiếp cận năng lực giúp người học phát triển năng lực số, năng lực tự học và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu của xã hội học tập hiện đại.
3.3. Một số yêu cầu trong triển khai giáo dục theo lý thuyết tiếp cận năng lực
- Đổi mới chương trình giáo dục. Chương trình giáo dục cần được thiết kế theo chuẩn đầu ra năng lực; giảm tải nội dung hàn lâm, tăng cường nội dung thực tiễn và tích hợp liên môn.
- Nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo. Giáo viên cần được bồi dưỡng về phương pháp dạy học tích cực, kỹ năng tổ chức hoạt động trải nghiệm, kiểm tra đánh giá theo năng lực và ứng dụng công nghệ số trong giáo dục.
- Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá. Cần đa dạng hóa hình thức đánh giá như đánh giá qua dự án, hồ sơ học tập, sản phẩm thực hành, thuyết trình và giải quyết tình huống nhằm phản ánh đúng năng lực của người học.
- Tăng cường cơ sở vật chất và môi trường học tập. Việc triển khai giáo dục tiếp cận năng lực đòi hỏi cơ sở giáo dục phải có môi trường học tập mở, hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin và tạo điều kiện cho người học trải nghiệm thực tiễn.
4. Giải pháp vận dụng lý thuyết tiếp cận năng lực trong đổi mới đột phá phát triển giáo dục trong kỷ nguyên mới
4.1. Đổi mới tư duy giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, quyết định định hướng đổi mới toàn diện giáo dục. Đổi mới tư duy giáo dục giúp chuyển từ mô hình giáo dục truyền thụ tri thức sang mô hình giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực người học. Mục tiêu của giải pháp nhằm hình thành nhận thức thống nhất về giáo dục tiếp cận năng lực; Nâng cao vai trò chủ thể của người học; Định hướng giáo dục gắn với yêu cầu phát triển con người trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế.
Nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Quán triệt quan điểm giáo dục phát triển toàn diện con người; Chuyển từ tư duy “dạy những gì có sẵn” sang “phát triển những gì người học cần”; Đề cao năng lực tự học, sáng tạo, tư duy phản biện và học tập suốt đời; Gắn giáo dục với thực tiễn xã hội, nghề nghiệp và chuyển đổi số.
Phương thức tổ chức thực hiện biện pháp này là tăng cường tuyên truyền, bồi dưỡng nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và người học về giáo dục tiếp cận năng lực. Tổ chức hội thảo khoa học, diễn đàn học thuật về đổi mới giáo dục. Đưa nội dung giáo dục phát triển năng lực vào chương trình đào tạo giáo viên. Xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục.
4.2. Đổi mới chương trình giáo dục theo chuẩn đầu ra năng lực
Chương trình giáo dục là cơ sở định hướng toàn bộ hoạt động dạy học và kiểm tra đánh giá. Đổi mới chương trình theo chuẩn đầu ra năng lực giúp bảo đảm sự phù hợp giữa đào tạo với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong thời đại mới. Mục tiêu của giải pháp nhằm phát triển năng lực thực tiễn cho người học. Tăng tính linh hoạt và hiện đại của chương trình giáo dục. Đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Xây dựng chuẩn đầu ra theo năng lực; Tinh giản nội dung hàn lâm, tăng nội dung thực hành và trải nghiệm; Tăng cường tích hợp liên môn và giáo dục STEM/STEAM; Bổ sung các nội dung về kỹ năng số, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp; Thiết kế chương trình theo hướng mở và linh hoạt.
Phương thức tổ chức thực hiện giải pháp này là thành lập các hội đồng chuyên gia xây dựng chương trình. Khảo sát nhu cầu xã hội và thị trường lao động. Thí điểm chương trình mới trước khi triển khai đại trà. Định kỳ rà soát, cập nhật chương trình theo yêu cầu thực tiễn. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển chương trình đào tạo.
4.3. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học
Đổi mới phương pháp dạy học là giải pháp trực tiếp nâng cao chất lượng giáo dục theo tiếp cận năng lực. Giải pháp này giúp người học phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề.
Mục tiêu của giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ thể của người học. Tăng cường khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn. Hình thành năng lực tự học và học tập suốt đời.
Nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực; Tăng cường hoạt động trải nghiệm, thực hành và nghiên cứu khoa học; Tổ chức dạy học theo dự án, tình huống và giải quyết vấn đề; Kết hợp dạy học trực tiếp với dạy học trực tuyến; Cá thể hóa hoạt động học tập.
Phương thức tổ chức thực hiện là bồi dưỡng giáo viên về phương pháp dạy học hiện đại. Xây dựng học liệu số và ngân hàng học liệu mở. Đầu tư trang thiết bị hỗ trợ dạy học thông minh. Tăng cường sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. Khuyến khích giáo viên đổi mới và sáng tạo trong tổ chức dạy học.
4.4. Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng tác động trực tiếp đến phương pháp dạy học và động cơ học tập của người học. Đổi mới đánh giá giúp phản ánh đúng năng lực thực tiễn của người học. Mục tiêu của giải pháp nhằm đánh giá toàn diện năng lực người học. Khắc phục tình trạng học tập thiên về ghi nhớ máy móc. Thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học.
Nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Chuyển từ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực; Đa dạng hóa hình thức kiểm tra, đánh giá; Kết hợp đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết; Tăng cường đánh giá qua sản phẩm, dự án và thực hành; Phát triển công cụ đánh giá năng lực theo tiêu chí cụ thể.
Phương thức tổ chức thực hiện là xây dựng ngân hàng câu hỏi và tiêu chí đánh giá năng lực. Tập huấn giáo viên về kỹ thuật kiểm tra, đánh giá hiện đại. Ứng dụng công nghệ số trong kiểm tra và đánh giá. Tăng cường tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng. Hoàn thiện cơ chế kiểm định chất lượng giáo dục.
4.5. Phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu giáo dục tiếp cận năng lực
Đội ngũ nhà giáo là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục. Trong giáo dục tiếp cận năng lực, giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn là người tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ phát triển năng lực người học. Mục tiêu của giải pháp nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Phát triển năng lực số và năng lực đổi mới sáng tạo của giáo viên. Xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện đại.
Nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Bồi dưỡng phương pháp dạy học phát triển năng lực; Nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số; Bồi dưỡng kỹ năng kiểm tra, đánh giá theo năng lực; Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục; Xây dựng đạo đức nghề nghiệp và văn hóa sư phạm.
Phương thức tổ chức thực hiện như sau: Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên. Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên và liên tục. Xây dựng cộng đồng học tập nghề nghiệp. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo giáo viên. Có cơ chế khuyến khích giáo viên đổi mới sáng tạo.
4.6. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục
Chuyển đổi số là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục theo tiếp cận năng lực. Đây là giải pháp tạo môi trường học tập hiện đại, linh hoạt và cá thể hóa. Mục tiêu của giải pháp nhằm phát triển giáo dục thông minh và học tập số. Nâng cao năng lực số cho giáo viên và người học. Mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức và học tập suốt đời.
Nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Xây dựng hạ tầng công nghệ và dữ liệu số; Phát triển học liệu số và thư viện số; Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học và quản lý giáo dục; Tăng cường dạy học trực tuyến và học tập kết hợp; Phát triển kỹ năng số cho người học.
Phương thức tổ chức thực hiện như sau: Đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ giáo dục. Xây dựng nền tảng học tập trực tuyến. Tập huấn kỹ năng số cho giáo viên và học sinh. Hợp tác với doanh nghiệp công nghệ. Hoàn thiện hành lang pháp lý cho chuyển đổi số giáo dục.
4.7. Tăng cường gắn kết giáo dục với thực tiễn xã hội và thị trường lao động
Giải pháp này giúp nâng cao tính thực tiễn của giáo dục và bảo đảm người học có khả năng thích ứng với yêu cầu nghề nghiệp trong xã hội hiện đại. Mục tiêu của giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động. Phát triển kỹ năng nghề nghiệp và năng lực thực hành. Nâng cao khả năng việc làm của người học.
Nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Tăng cường giáo dục hướng nghiệp; Đẩy mạnh thực hành, thực tập và trải nghiệm nghề nghiệp; Liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp; Phát triển kỹ năng mềm và kỹ năng nghề nghiệp; Tổ chức các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo.
Phương thức tổ chức thực hiện như sau: Ký kết hợp tác giữa cơ sở giáo dục với doanh nghiệp. Xây dựng mô hình đào tạo gắn với thực tiễn. Mời chuyên gia, doanh nhân tham gia giảng dạy. Tổ chức ngày hội nghề nghiệp và thực tập nghề. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo.
4.8. Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới giáo dục
Cơ chế, chính sách là điều kiện bảo đảm cho quá trình đổi mới giáo dục được triển khai hiệu quả và bền vững. Mục tiêu của giải pháp nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho đổi mới giáo dục. Khuyến khích sáng tạo và tự chủ trong giáo dục. Huy động nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục.
Nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục tiếp cận năng lực; Đổi mới quản lý giáo dục theo hướng hiện đại; Tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục; Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và xã hội hóa giáo dục.
Phương thức tổ chức thực hiện như sau: Rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật. Ban hành cơ chế hỗ trợ đổi mới giáo dục. Tăng đầu tư cho giáo dục và chuyển đổi số. Đẩy mạnh phân cấp quản lý giáo dục. Tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện chính sách.
Tóm lai, vận dụng lý thuyết tiếp cận năng lực trong đổi mới giáo dục là xu hướng tất yếu của giáo dục hiện đại. Đây không chỉ là sự đổi mới về phương pháp dạy học mà còn là sự chuyển biến toàn diện về tư duy giáo dục, chương trình đào tạo, kiểm tra đánh giá, quản lý giáo dục và phát triển đội ngũ nhà giáo.
Trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế, giáo dục cần hướng tới hình thành những con người có năng lực sáng tạo, thích ứng, học tập suốt đời và có khả năng giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn. Điều đó đòi hỏi phải triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới giáo dục theo tiếp cận năng lực nhằm tạo ra bước phát triển đột phá cho nền giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới.
5. Kết luận
Trong lịch sử phát triển của khoa học giáo dục, các lý thuyết tiếp cận nội dung, tiếp cận mục tiêu và tiếp cận năng lực phản ánh quá trình vận động, đổi mới không ngừng của tư duy giáo dục nhân loại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội qua từng thời kỳ lịch sử. Nếu tiếp cận nội dung chú trọng truyền thụ hệ thống tri thức khoa học, tiếp cận mục tiêu hướng vào kết quả đầu ra của quá trình giáo dục, thì tiếp cận năng lực nhấn mạnh khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất của người học để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn. Đây là bước phát triển quan trọng của lý luận giáo dục hiện đại trong bối cảnh kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ.
Thực tiễn giáo dục hiện nay cho thấy, tiếp cận năng lực không chỉ là sự đổi mới về phương pháp dạy học mà còn là sự chuyển biến toàn diện về triết lý giáo dục, mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, phương thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá và quản lý giáo dục. Quan điểm này góp phần khắc phục những hạn chế của giáo dục truyền thống vốn nặng về truyền thụ kiến thức, đồng thời tạo điều kiện phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực, khả năng sáng tạo và năng lực thích ứng của người học trong xã hội hiện đại.
Trong kỷ nguyên số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đặt ra đòi hỏi giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ theo hướng phát triển năng lực. Việc vận dụng lý thuyết tiếp cận năng lực vào đổi mới giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành con người có tư duy độc lập, năng lực đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, năng lực tự học và học tập suốt đời. Đây chính là những phẩm chất cốt lõi của công dân toàn cầu trong thế kỷ XXI.
Để thực hiện hiệu quả giáo dục theo tiếp cận năng lực cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: đổi mới tư duy giáo dục; xây dựng chương trình theo chuẩn đầu ra năng lực; đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá; phát triển đội ngũ nhà giáo; đẩy mạnh chuyển đổi số; tăng cường gắn kết giáo dục với thực tiễn xã hội và hoàn thiện cơ chế, chính sách giáo dục hiện đại. Các giải pháp này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau nhằm tạo ra sự đổi mới căn bản, toàn diện và mang tính đột phá đối với nền giáo dục Việt Nam.
Trong thời gian tới, giáo dục Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo lý thuyết tiếp cận năng lực phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước và xu thế phát triển giáo dục thế giới. Đồng thời cần kết hợp hài hòa giữa trang bị tri thức nền tảng với phát triển phẩm chất và năng lực người học; giữa giáo dục truyền thống với giáo dục hiện đại; giữa giáo dục dân tộc với hội nhập quốc tế. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, hiện đại và nhân văn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
[2]. Đỗ Mạnh Cường (2011), Năng lực thực hiện và dạy học tích hợp trong đào tạo nghề, Chuyên đề khoa học, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội.
[3]. Clayton M. Christensen, Michael E. Raynor, và Rory McDonald (2015), “Đổi mới đột phá là gì?”, Tạp chí Harvard Business Review, tháng 12 năm 2015.
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Văn phòng Trung ương Đảng. Hà Nội.
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024
[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025
[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2026
[8]. Xavier Rogiers (1996), Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[9]. John W Burke (1995), Competence – Based Assessment Techniques, Kogan Page Ltd, London
[10]. John W. Burke (1995), Competency Based Education and Training, The Flalmer Press, London.