MINH TRIẾT VIỆC HỌC

PGS.TS Phạm Minh Giản – Trường Đại học Đồng Tháp PGS.TS Đặng Quốc Bảo – Học viện Quản lý Giáo dục Tóm tắt: Con người từ khi chào đời đã bắt đầu cho một quá trình học tập suốt đời như học nói, học chữ, học tri thức, học làm người…. Từ trước đến nay, người Việt Nam luôn quan niệm việc học là vô cùng cần thiết đối với mỗi con người, cha mẹ luôn quan tâm đến việc học của con cái, cho dù mục đích cuối cùng của việc học là gì, nhìn chung vẫn là muốn cho tương lai của thế hệ sau tốt đẹp hơn. Thế nhưng
15:53 | 11/09/2025

PGS.TS Phạm Minh Giản –

Trường Đại học Đồng Tháp

PGS.TS Đặng Quốc Bảo – Học viện Quản lý Giáo dục

Tóm tắt: Con người từ khi chào đời đã bắt đầu cho một quá trình học tập suốt đời như học nói, học chữ, học tri thức, học làm người…. Từ trước đến nay, người Việt Nam luôn quan niệm việc học là vô cùng cần thiết đối với mỗi con người, cha mẹ luôn quan tâm đến việc học của con cái, cho dù mục đích cuối cùng của việc học là gì, nhìn chung vẫn là muốn cho tương lai của thế hệ sau tốt đẹp hơn. Thế nhưng trong quá trình học tập đó, đã xảy ra không ít những vấn đề khó khăn, như người học không rõ mục đích học làm gì, cần phải học cái gì và phải học như thế nào, phương pháp học ra sau mới đạt hiểu quả,… Từ thực tế đó, bài viết tổng hợp đưa ra những quan điểm của các học giả xưa và nay về vấn đề học để làm gì, học cái gì, học như thế nào… nhằm giúp người học có thể đạt được hiệu quả cao trong quá trình học tập của bản thân.

Từ khoá: Học để làm gì, học cái gì, học như thế nào, việc học.

Nhận bài: 9/9/2025; Biên tập: 10/9/2025; Duyệt đăng: 11/9/2025

1. Đặt vấn đề

"Học" là phạm trù trung tâm để cá nhân sinh tồn/cộng đồng phát triển. Nhà giáo dục Pháp Z. Kijerbo có nói rằng: "Sau khi sinh ra con người còn lại là học". UNESCO từng có khuyến cáo: "Ngày nay bất cứ sự tiến bộ nào của cộng đồng quốc gia cũng bắt đầu từ "việc học" và "cộng đồng quốc gia nào coi thường việc học hoặc không biết cách tiến hành hiệu quả việc này thì số phận cộng đồng quốc gia đó xem như đã an bài hoặc tồi tệ hơn là sự phá sản".

Việt Nam có truyền thống văn hiến lâu đời. Các nhà văn hóa chính trị từng có các phát biểu chứa đựng minh triết sâu sắc về "học". Vào thế kỷ XV, người anh hùng, nhà văn hóa lớn của dân tộc Nguyễn Trãi có lời thơ: "Nên thợ, nên thầy vì có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm."

Thế kỷ XVIII, sau khi đại phá quân Thanh, Hoàng đế Quang Trung với sự tham mưu của nhà văn hóa ngoại giao Ngô Thì Nhậm ban Chiếu Khuyến học, nội dung được cô đọng qua thông điệp:

"Xây dựng đất nước lấy việc học làm đầu,

Tìm lẽ trị - bình lấy tuyển nhân tài làm gốc"

"Lẽ trị - bình" có hàm ý: Quy luật làm cho đất nước hưng trị, thiên hạ thanh bình.

Thời đại mới, Hồ Chí Minh tiếp thu văn minh nhân loại và kế thừa tinh hoa tiền nhân đã chỉ đạo cho việc học của dân tộc vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của công cuộc giải phóng đất nước khỏi sự đô hộ của ngoại bang và giải phóng số phận cá nhân khỏi sự dốt nát.

Tiếp thu Hồ Chí Minh, ngành giáo dục đang cố gắng thực hiện sự "Tam hóa" với việc học: Hiện đại hóa tinh hoa tư tưởng của tiền nhân; Việt Nam hóa giá trị tiên tiến của thời đại; Lành mạnh hóa việc học trong các thiết chế xã hội, gia đình, nhà trường theo mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

Cuộc đổi mới giáo dục đang diễn ra chỉ có thể thành công khi mỗi nhà trường/gia đình và cộng đồng có kế hoạch làm tốt điều Hồ Chí Minh từng huấn đức:

"Học để làm việc, làm người… Muốn đạt mục đích thì phải: Cần - Kiệm - Liêm - Chính".

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Học để làm gì

2.1.1. Khổng Tử (551 - 479 TCN)

Bậc vạn thế sư biểu có nêu mục tiêu của việc học là để trở thành con người cao quý của cuộc sống.

Khổng Tử và trường phái của ông còn có lời khuyên người đi học (Kẻ sĩ) thực hiện 4 điều sau:

Học để biết cách tu dưỡng bản thân (Tu thân).

Học để biết lo toan cho gia đình (Tề gia).

Học để có lý tưởng làm cho đất nước hưng trị (Quốc: Trị).

Học để biết cách góp phần làm cho thiên hạ thanh bình (Thiên hạ: Bình).

Cùng 4 điều nêu trên, trong sách Đại học, môn đệ của Khổng Tử có lưu ý người đi học phải quán triệt: “Cách vật - Trí tri - Thành ý - Chính tâm” (Nghĩa là: Muốn cải cách sự vật phải hiểu biết mọi điều, muốn hiểu biết phải thành ý, muốn thành ý phải chính tâm, chính tâm để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ).

MINH TRIẾT VIỆC HỌC

Sơ đồ 1. Lời khuyên Khổng Tử dành cho người đi học

Nhà cách mạng Tôn Dật Tiên trong sách Tam dân Chủ nghĩa có nhận xét: “Nói về cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ mà trong sách “Đại học” đã giải thích dù cho những nhà chính trị đại tài của nước ngoài cũng vẫn chưa có ai nghĩ tới và nói đến một cách mạch lạc rõ ràng như vậy” (Phan Ngọc, 2002, tr. 446)

2.1.2. Nguyễn Trãi (1380 - 1442)

Như đã nhắc nhà văn hóa của dân tộc Việt có lời thơ rất bình dị với 2 câu sau:

“Nên thợ, nên thầy vì có học, No ăn, no mặc bởi hay làm” (Bài số 173 trong “Quốc Âm Thi Tập”).

Nhà nghiên cứu minh triết Hoàng Ngọc Hiến thu hoạch về hai câu thơ này: "Vẻn vẹn trong hai câu thơ đã đặt ra những vấn đề và những yêu cầu cơ bản nhất của cuộc sống làm người: “làm và học”, “no ăn no mặc”, “nên thợ nên thầy”.

“No ăn no mặc” là điều kiện tối thiểu để phát triển,

“Nên thợ nên thầy” là sự đòi hỏi để phát triển năng lực nhân tính.

Trong quan niệm truyền thống “Học” được gắn với những yêu cầu “Thông kinh thuộc sử” “Khoa danh hoạn lộ”, ở đây “Học” được gắn với “Nên thợ nên thầy” không có sự phân biệt năng lực “làm thợ”, năng lực “làm thầy”, đó là tư tưởng giáo dục học vĩ đại của Nguyễn Trãi". (Hoàng Ngọc Hiến, 2011, tr. 47)

Ý tưởng của Nguyễn Trãi vận dụng vào hoàn cảnh hiện đại được hiểu: "Học là để có nhân cách cho mỗi cá nhân và để có nhân lực kỹ thuật phát triển sản xuất của cộng đồng".

Học chỉ phục vụ cho cá nhân mà coi nhẹ phục vụ cộng đồng hoặc ngược lại chỉ chú ý cho cộng đồng mà thiếu quan tâm cá nhân đều chưa đạt được sự hài hòa và toàn vẹn.

2.1.3. Hồ Chí Minh (1890 - 1969)

Tháng 9/1949, đến dự khai giảng Trường đảng đặt tại Chiến khu Việt Bắc. Hồ Chí Minh viết vào sổ vàng của Nhà trường dòng chữ: "Học để làm việc, Làm người … Muốn đạt mục đích, thì phải Cần - Kiệm - Liêm - Chính" (Hồ Chí Minh Toàn tập, 2011, tập 6, tr. 208)

Như vậy, quan niệm của Hồ Chí Minh, việc học trước hết để phục vụ cho công việc (tất nhiên là những việc ích nước lợi dân) và tiếp đó làm người có "nhân tính - quốc tính - cá tính". Đặt trong hoàn cảnh của dân tộc lúc đó là nhân cách của con người "Cần - Kiệm - Liêm - Chính".

2.2. Học cái gì

Trong bối cảnh có tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0 nhiều học giả thế giới đã bàn đến "Học cái gì". Ông Harari (Nhà sử học Israel nổi tiếng trên thế giới) có nêu lên "4 phạm trù C" và mong các nền giáo dục phải quan tâm. Ông nói: “Nhiều chuyên gia sư phạm cho rằng trường học nên chuyển sang việc dạy “bốn chữ C”, tức tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo (critical thinking, communication, collaboration, creativity). Nói rộng hơn, họ tin là trường học nên giảm bớt các kỹ năng kỹ thuật và nhấn mạnh vào các kỹ năng sống đa mục đích. Quan trọng hơn cả sẽ là khả năng đối phó với thay đổi, học điều mới và duy trì cân bằng tâm lý trong các tình huống xa lạ. Để theo kịp thế giới năm 2050, bạn sẽ không chỉ cần sáng tạo các ý tưởng và sản phẩm mới mà trên hết, bạn sẽ cần tự đổi mới mình hết lần này đến lần khác”

2.3. Học thế nào

2.3.1. Khổng Tử với việc đề ra 5 công đoạn: “Bác học; Thâm vấn; Thận tư; Minh biện; Đốc hành”

(Học cho rộng, Hỏi cho kỹ, Nghĩ cho cẩn thận, Phân biệt cho rõ ràng, Làm cho hết sức)

Ông nhắn nhủ môn đệ:

"Cũng có điều chưa học, nhưng đã học điều gì mà không được thì không thôi.

Cũng có điều chưa hỏi, nhưng đã hỏi điều gì mà chưa rõ thì không thôi.

Cũng có điều chưa nghĩ, nhưng đã nghĩ điều gì thì phải nghĩ cho cẩn thận

Cũng có điều chưa phân biệt được, nhưng đã phân biệt được gì thì phân biệt cho minh bạch.

Cũng có điều chưa làm, nhưng đã làm điều gì mà không xong thì không buông xuôi”.

Người ta dụng công một mà không được thì ta dụng công gấp trăm lần.

Quảng cáo

Người ta dụng công mười, ta cũng dụng công mười mà chưa được thì dụng công gấp ngàn lần kỳ được mới thôi.

Nếu làm theo được điều ấy thì đầu ngu cũng hoá sáng, yếu cũng thành mạnh".

Tiếp thu ý tưởng trên Hồ Chí Minh đã Việt Nam hóa vào Nhà trường Việt Nam với phương châm "4H": "Học - Hỏi - Hiểu - Hành".

Bác đã hợp nhất 2 khâu "Thận tư; Minh biện" thành "Hiểu". Muốn "Hiểu" một vấn đề nào đó thì "Tư duy phải cho cẩn thận", tiếp đó phân biệt phải cho sáng sủa tránh lối "ngụy biện" càng phải tránh xa quỷ biện" để có "minh biện".

2.3.2. Hồ Chí Minh căn dặn phải có tinh thần tự học song sự tự học này phải được hỗ trợ bởi môi trường thảo luận và sự quản lý chu đáo

Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Bác có lời huấn đức về cách học tập: "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào"(Hồ Chí Minh Toàn tập, 2011, tập 5, tr. 312). Nhiều nhà trường Việt thời Kháng chiến chống Pháp đã nhận thức lời của Bác qua ý tưởng sau: Bất cứ sự học tập nào muốn đạt tới kết quả tốt, "Người học" cần hội tụ được ba nhân tố:

Nội lực: Lòng ham học - ham tiến bộ. Trong lời huấn đức, Bác dùng cụm từ "Lấy tự học làm cốt".

Có môi trường tốt: Trong lời huấn đức, Bác nêu "Sự thảo luận". Chính nhờ sự thảo luận này mà nội lực người học được nhân lên "Học thầy không tày học bạn".

Và chỉ đạo giúp vào: Trong lời huấn đức, Bác có hàm ý: Người thầy có vai trò dù hiển thị hay khi phi hiển thị song tối thiểu phải làm tốt ba yêu cầu sau:

Thứ nhất, người thầy phải kích thích cho trò "ham học, ham làm, ham tiến bộ".

Thứ hai, người thầy kiến tạo được môi trường học tập thuận lợi, khắc phục những nhân tố gây tác hại cho tư duy và hứng thú của trò.

Thứ ba, người thầy làm cho mục tiêu của trò và môi trường học tập luôn luôn tương tác tích cực. Chú ý bốn tình huống sau:

Nếu trò có năng lực giỏi, thì kích thích trò học tập với mục tiêu sáng tạo nội dung thầy đã giảng.

Nếu trò năng lực khá, thì kích thích trò học tập với mục tiêu tái tạo được nội dung thầy đã giảng.

Nếu trò năng lực trung bình, thì kích thích trò học tập với mục tiêu tái hiện nội dung thầy đã giảng.

Nếu trò năng lực bình thường, thì ít nhất khích lệ trò cố gắng "bắt chước" nội dung thầy đã giảng.

Tối thiểu làm theo điều thiện trong cuộc sống Có thể dùng Paradigm sau thu hoạch lời Bác:

MINH TRIẾT VIỆC HỌC

Sơ đồ 2. Ba nhân tố người học cần có để đạt kết quả tốt

Theo Paradigm này nhân tố 3 (sự chỉ đạo) tác động đồng thời tới nhân tố 1 (nội lực), nhân tố 2 (môi trường) và mối quan hệ "1" ó "2" (nội lực với môi trường)

2.3.3. Một số nhà trường Châu Âu thường nêu lên mô hình Power

"POWER" biểu tượng cho năm phạm trù P, O, W, E, R:

P: Planning (Học sinh tự vạch kế hoạch học tập theo tiến bộ bản thân).

O: Organizing (Học sinh tự tổ chức học tập theo kế hoạch vạch ra).

W: Working (Học sinh tự làm việc theo mục tiêu kế hoạch).

E: Evaluating (Học sinh tự đánh giá sự tiến bộ của mình).

R: Recognizing (Học sinh tự rút ra những nhận thức mới).

2.3.4. Quan điểm của Alvin-Toffler về cách học

Trong Cú sốc tương lai, Alvin Toffler đề xuất 4 bước của học tập: Học cách tích lũy kiến thức; Học cách liên hệ, kết nối kiến thức; Học cách chọn lựa kiến thức, cần thiết cho cuộc sống bản thân; Học cách dùng điều mình tiếp nhận từ kiến thức để thích ứng với môi trường sống.

Alvin-Toffler phê phán một cách mạnh mẽ về sự bảo lưu ngu xuẩn của quá khứ đối với nội dung đào tạo và phương pháp đào tạo.

MINH TRIẾT VIỆC HỌC

Sơ đồ 3: Quan điểm của Alvin- Toffler về cách học

2.4. "Người ta không thể dạy một người nào đó mà chỉ có thể giúp đỡ để người đó tự mình khám phá"

Khi đề cập tới việc dạy học kiến tạo thay thế cho dạy học chỉ thị, dạy học mệnh lệnh. Sách báo thường nêu lời khuyên "Người ta không thể dạy một người nào đó mà chỉ có thể giúp đỡ để người đó tự mình khám phá" của Galileo Galilei

Thật ra cuộc đời mỗi con người đều được thụ hưởng hai sự giáo dục: "Sự giáo dục do tác động từ bên ngoài (có thầy ngoài) và nỗ lực của nội lực (có thầy trong).

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã bàn về mối liên hệ thầy ngoài và thầy trong ấn tượng như sau: "Khi một người tự học thì người đó vừa là trò, vừa là thầy; là trò khi tiếp xúc với nội dung học, chưa hiểu gì cả hoặc hiểu lơ mơ, sau đó ra sức phát huy nội lực để chiếm lĩnh cho bằng được nội dung học đến mức có thể tự giải đáp mọi thắc mắc và vận dụng được vào thực tiễn cuộc sống, thì sự phấn đấu đó được nhân cách hóa thành một ông thầy mà ta sẽ gọi là thày trong; còn ông thầy truyền thống thì sẽ gọi là thầy ngoài. Tuy con người sinh ra là có khả năng tự học bẩm sinh (đứa trẻ trong nôi cũng biết được nhiều điều mà chẳng ai dạy) nhưng con người sống trong xã hội có tiếng nói và chữ viết để giao lưu thì chẳng dại gì mà không giúp đỡ lẫn nhau về mặt hiểu biết, từ đó mà có "dạy". Trong đời "học" của một người, giai đoạn đầu thế nào cũng phải có người dạy vì lao động học tập không phải là chuyện đơn giản, nhưng đến một lúc nào đó thì tất yếu phải "cai dạy" giống như đứa bé bú mẹ tất yếu phải đến ngày "cai sữa".

Ba mối quan hệ người thầy ngoài cần bao quát trong tiến trình dạy học:

Giáo sư Hồ Ngọc Đại có một chỉ dẫn khá ấn tượng về mối quan hệ của người thầy trong hoạt động dạy học. Trong chuyên khảo “Vấn đề dạy Văn”, ông nêu ra nhận xét: “Đối với việc học, vấn đề có ý nghĩa quyết định là đối tượng hoạt động. Về mặt chức năng hai chủ thể (Thầy - Trò/ NBS) có hai tư cách khác nhau của đối tượng ấy. Đối với thầy giáo đối tượng là cái có sẵn. Nó là sản phẩm của quá khứ, của chính thầy giáo. Nhưng nó lại là sản phẩm sẽ phải có trong tương lai của học sinh, ở đây không có sự khác nhau về bản chất đối tượng, chỉ có sự phân biệt là trật tự xảy ra trong lịch sử hiện thực”.

Từ kiến giải của Hồ Ngọc Đại có thể rút ra nhận xét: trong tiến trình dạy học có sự vận động của 3 nhân tố cốt lõi: Tri - Trò - Thầy.

Tri vừa là mục tiêu hướng tới của thầy và trò vừa là động lực thúc đẩy
thầy - trò cộng sinh với nhau.

Người có trách nhiệm với chính sách dạy học phải thúc đẩy điều trên thì dạy học mới đem lại hiệu quả tích cực. Nếu "Thầy - Trò" đồng sàng dị mộng trước "Tri" thì kết quả dạy học không có hoặc ít có hiệu quả.

Người thầy cần chú ý ba vấn đề sau:

Từ “Tri” tổng thể của nhân loại, thầy chọn ra được các thông tin (Information) cơ bản, hiện đại, thực tiễn (trong hoàn cảnh của thầy - trò và bối cảnh xã hội).

Từ “Lý luận dạy học tổng quát” và đặc thù môn học, thầy xác định được phương thức giáo dục (Education) sao cho: “Tri” à “Trò” có tính tổ chức/ tính mục đích/ tính kế hoạch.

Từ quan hệ “người - người”, thầy và trò là hai chủ thể bình đẳng trên tư cách công dân, thầy chọn được sự giao tiếp (communication) bảo đảm.

“Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm”

Như vậy, người thầy có tam giác dạy học IEC (Thông tin - Giáo dục - Truyền thông), một biến thể của Tam giác đã nêu trên.

Trong một giờ học/bài học, ba nhân tố này đều phải (+). Nếu nhân tố nào đó trung tính (0) hoặc (-) đều phá vỡ kết quả tích cực của dạy học.

3. Kết luận

Học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là một xu thế phát triển tất yếu khi thế giới bước vào nền kinh tế tri thức. Có thể nói, xã hội học tập chính là mô hình được các quốc gia trên thế giới hiện nay quan tâm và phấn đấu hướng tới. Để được mục đích xây dựng một xã hội học tập hoàn thiện, không thể thiếu phương pháp học tập hiệu quả. Thông qua những tổng hợp tri thức của các học giả nổi tiếng, đạt được những thành tựu nhất định trong xã hội mà họ đã và đang sống, bài viết đúc kết lại những tinh hoa trong quan niệm, nhận thức của học về việc học như học để làm gì, học cái gì, học như thế nào. Từ đó, cung cấp cho người học những thông tin hữu ích, giúp việc học đạt hiệu quả cao hơn, mang lại thành quả như mong đợi trong quá trình học tập của bản thân, góp phần hoàn thiện bản thân, cũng như đóng góp cho sự phát triển của xã hội, đất nước.

Tài liệu tham khảo

1. Hoàng Ngọc Hiến. (2011). Luận bàn về minh triết và minh triết Việt. Hà Nội: NXB Tri thức.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập. (2011). tập 5. Hà Nội: NXB. Chính trị quốc gia - Sự thật.

3. Hồ Chí Minh, Toàn tập. (2011). tập 6. Hà Nội: NXB. Chính trị quốc gia - Sự thật.

4. Jacques Delors. (2012). Học tập: Một kho báu tiềm ẩn. Hà Nội: NXB. Giáo dục.

5. Phan Ngọc. (2002). Bản sắc văn hóa Việt Nam. Hà Nội: NXB Văn học.

6. Trần Văn Nhung. (2016). Sộp thành nhà giáo. Hà Nội: NXB. Giáo dục Việt Nam.