Đại tá,ThS Mầu Văn Hải -
Phòng Khoa học quân sự, Học viện Chính trị
Tóm tắt: Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, công tác quản lý khoa học quân sự trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, Học viện Chính trị nói riêng, đang đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện. Quản lý khoa học quân sự không chỉ dừng lại ở công tác hành chính, mà còn bao gồm quản trị tri thức, lưu trữ, chia sẻ và ứng dụng kết quả nghiên cứu trong đào tạo, huấn luyện, và tham mưu chính trị.
Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, nhân viên tham gia quản lý hoạt động khoa học tại Học viện hiện nay còn gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng các nền tảng số, công cụ quản trị dữ liệu, phần mềm nghiên cứu và hệ thống quản lý khoa học điện tử. Việc bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số trở thành nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả, tính chuyên nghiệp và năng lực hội nhập của đội ngũ này. Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm bồi dưỡng và nâng cao năng lực chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hiện đại hóa công tác quản lý khoa học quân sự trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Từ khóa: chuyển đổi số, kỹ năng số, quản lý khoa học quân sự, Học viện Chính trị, bồi dưỡng cán bộ.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số là một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược. Thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp. Trong đó, bồi dưỡng kỹ năng CĐS cho cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ nói chung và bồi dưỡng kỹ năng CĐS quản lý hoạt động KHQS được xác định là khâu trọng tâm nhằm hướng đến xây dựng quân nhân số có đầy đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ trên môi trường số, nâng cao hiệu quả quản lý KHQS, chất lượng công tác tham mưu, đề xuất, tổ chức hoạt động KHQS ở Học viện Chính trị, góp phần đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS quốc gia của Đảng.
Trong thời gian vừa qua, Thường vụ Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện đã thường xuyên quan tâm bồi dưỡng kỹ năng CĐS quản lý hoạt động KHQS cho cán bộ, nhân viên của Học viện, nâng cao chất lượng công tác CĐS, ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại với nội dung, hình thức, biện pháp phong phú, sát đối tượng và yêu cầu, nhiệm vụ công tác KHQS. Công tác bồi dưỡng kỹ năng CĐS cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động KHQS được xác định là một giải pháp căn cốt, cần thực hiện trước hết nhằm đẩy nhanh quá trình hoạch định, xác định bước đi, nội dung, lộ trình, hình thức, biện pháp phù hợp với yêu cầu, tính chất nhiệm vụ; xây dựng nhiều chủ trương, biện pháp đột phá, thay đổi toàn diện phương thức quản lý hoạt động KHQS. Tuy nhiên, bồi dưỡng kỹ năng CĐS cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động KHQS là vấn đề mới, quá trình tổ chức thực hiện cũng là quá trình tìm tòi, sáng tạo, đề xuất lựa chọn, xác định nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng. Do đó, không thể tránh khỏi những hạn chế trong công tác bồi dưỡng kỹ năng CĐS.
Trước yêu cầu ngày càng cao của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo; nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường theo hướng “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”; yêu cầu đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS Quốc gia, CĐS trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, xây dựng nhà trường thông minh,... đòi hỏi phải đẩy mạnh bồi dưỡng kỹ năng CĐS nói chung và kỹ năng CĐS cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động KHQS ở Học viện Chính trị nói riêng.
2. Giải pháp bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động khoa học quân sự ở học viện chính trị hiện nay
Một là, tạo chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm cho các tổ chức, lực lượng về bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động khoa học quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong bồi dưỡng kỹ năng CĐS cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động KHQS ở HVCT hiện nay cần quán triệt sâu sắc, toàn diện quan điểm của Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Học viện về năng lực CĐS trong quản lý hoạt động KHQS. Đề cao trách nhiệm của cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong bồi dưỡng kỹ năng CĐS cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động KHQS. Căn cứ vào nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về bình dân học vụ số, Học viện chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng CĐS cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động KHQS theo từng giai đoạn, hằng năm, sát với mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm tình hình thực tiễn. Trên cơ sở đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị xác định rõ định hướng lãnh đạo, ban hành biện pháp cụ thể, lựa chọn nội dung trọng tâm, trọng điểm để triển khai phù hợp; thường xuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá, kịp thời điều chỉnh, khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Đồng thời, cần coi việc bồi dưỡng kỹ năng CĐS là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, bình xét thi đua, khen thưởng hằng năm. Đổi mới hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa bồi dưỡng kỹ năng CĐS cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động KHQS ở Học viện
Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, vai trò của cơ quan chức năng, của cán bộ chỉ huy các cấp bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động khoa học quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay
Đảng ủy Học viện cần họp, ra các nghị quyết chuyên đề, chỉ thị, kế hoạch hành động phù hợp với đặc thù nghiên cứu khoa học của Học viện. Điểm mới nổi bật là Học viện phát động Phong trào “Bình dân học vụ số”, coi đây là một bước đi sáng tạo nhằm phổ cập tri thức số cho toàn thể cán bộ, giảng viên, học viên. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần cụ thể hóa nghị quyết, chủ trương thành chương trình, kế hoạch hành động khoa học, sát thực, tránh tình trạng chung chung, hình thức. Trong đó, việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy Học viện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng số ở từng cơ quan, đơn vị cần xác định rõ mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể; xác định lộ trình bồi dưỡng theo từng giai đoạn (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); xây dựng nội dung, chương trình phù hợp với đặc điểm công tác của từng nhóm đối tượng (cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên kỹ thuật, học viên…). Phương pháp lãnh đạo, chỉ huy cần đổi mới theo hướng khoa học, hiện đại, dân chủ và công khai. Bên cạnh việc ban hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải tăng cường chỉ đạo trực tiếp bằng hệ thống CNTT: ứng dụng phần mềm quản lý kế hoạch, hệ thống giám sát tiến độ bồi dưỡng trực tuyến, bảng điểm đánh giá kết quả học tập số.
Ba là, xây dựng, hoàn thiện quy chế, quy định bảo đảm cho bồi dưỡng kỹ năng cho chuyển đổi số trong quản lý hoạt động khoa học quân sự ở Học viện Chính trị phát triển mạnh mẽ
Tập trung hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy: Xây dựng các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, quy định, hướng dẫn cụ thể về tổ chức, triển khai bồi dưỡng kỹ năng CĐS trong quản lý hoạt động KHQS. Văn bản phải mang tính pháp lý, tính bắt buộc, có chế tài rõ ràng để bảo đảm thực hiện thống nhất trong toàn Học viện. Cụ thể hóa cơ chế, chính sách: Bổ sung, hoàn thiện các chính sách khuyến khích, đãi ngộ, tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong ứng dụng CNTT, CĐS; tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, quản lý KHQS trên nền tảng số.
Để việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản lãnh đạo, chỉ đạo đạt hiệu quả, Học viện cần thực hiện theo hướng toàn diện và hệ thống, đảm bảo mọi quy định, hướng dẫn đều thống nhất, đồng bộ từ cấp Học viện đến các cơ quan, đơn vị trực thuộc. Để cơ chế khuyến khích đãi ngộ phát huy hiệu quả, Học viện cần xây dựng chính sách minh bạch, công bằng và gắn kết trực tiếp với kết quả bồi dưỡng kỹ năng CĐS. Việc khen thưởng không chỉ dừng lại ở hình thức khen thưởng bằng giấy khen, mà nên kết hợp với các phần thưởng vật chất, cơ hội đào tạo nâng cao, hoặc các chế độ ưu tiên trong đánh giá thi đua, xét nâng lương, đề bạt, bổ nhiệm. Xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan đơn vị CĐS trong quản lý KHQS là lĩnh vực liên ngành, liên cơ quan.
Bốn là, đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng phần mềm toàn diện, đồng bộ, an toàn cho bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động khoa học quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay
Học viện cần nâng cấp hạ tầng CNTT và cơ sở vật chất kỹ thuật như hệ thống mạng nội bộ (LAN), mạng Internet tốc độ cao, hệ thống máy chủ trung tâm (Data Center) với dung lượng lớn, khả năng xử lý mạnh, bảo đảm phục vụ cho các phần mềm quản lý khoa học và cơ sở dữ liệu số, hệ thống máy chủ và Data Cente. Đầu tư trang thiết bị hiện đại cho các phòng học thông minh, phòng thí nghiệm ảo, hệ thống hội nghị trực tuyến, lớp học trực tuyến, cá thiết bị mạng (routers, switches), máy tính cá nhân, máy in cho cán bộ, nhân viên đáp ứng yêu cầu công việc và xử lý dữ liệu lớn nhằm phục vụ công tác bồi dưỡng CĐS. Xây dựng “Hạ tầng đám mây quân sự” để bảo đảm tính chủ động, an toàn, tránh phụ thuộc vào nền tảng bên ngoài.
Xây dựng hệ thống phần mềm đồng bộ, toàn diện: các phần mềm xây dựng và tích hợp phần mềm quản lý khoa học, quản lý chương trình, công trình, đề tài, khoa học; sách, tài liệu..., hệ thống quản lý thư viện, thông tin khoa học; hệ thống quản lý sách, tài liệu tạp chí và các sản phẩm khoa học,... sở hữu trí tuệ; hệ thống quản lý đội ngũ cán bộ khoa học... Công cụ AI có thể tự động kiểm tra tính nhất quán của dữ liệu, phát hiện sai sót trong phương pháp luận, và thậm chí đánh giá mức độ độc đáo của một đề tài.
Trong môi trường số, an toàn thông tin là yếu tố sống còn. Cần triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng như đầu tư vào các phần mềm, thiết bị bảo mật tường lửa (firewall), hệ thống phát hiện và ngăn chặn xâm nhập (IDS/IPS), phần mềm diệt virus chuyên dụng, giải pháp mã hóa dữ liệu để bảo vệ hệ thống khỏi các mối đe dọa từ không gian mạng.
Năm là, đổi mới nội dung, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động khoa học quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay
Đổi mới nội dung bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ, nhân viên trong quản lý khoa học quân sự cần tập trung cập nhật kiến thức nền tảng về chuyển đổi số và quản lý khoa học số như khái niệm cơ bản về chuyển đổi số, vai trò và xu hướng tất yếu của nó trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học quân sự, giáo dục - đào tạo, cũng như trong tiến trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud Computing), chuỗi khối (Blockchain)…
Trang bị kỹ năng ứng dụng CNS trong quản lts hoạt động khoa học quân sự như hướng dẫn, thực hành thành thạo kỹ năng sử dụng các nền tảng quản lý đề tài khoa học số như hệ thống quản lý nghiên cứu khoa học trực tuyến, cổng thông tin khoa học quân sự, hay kho dữ liệu mở của Học viện; kỹ năng số hóa, lưu trữ, chia sẻ và khai thác dữ liệu nghiên cứu; kỹ năng sử dụng các phần mềm phân tích dữ liệu, xử lý văn bản khoa học, các công cụ thống kê, trực quan hóa dữ liệu; kỹ năng bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu và tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước trong môi trường số.
Phát triển kỹ năng quản lý dự án khoa học trong môi trường số, bồi dưỡng kỹ năng lập kế hoạch, giám sát và đánh giá tiến độ nghiên cứu thông qua các công cụ quản lý số hiện đại. Việc sử dụng các nền tảng như Microsoft Project, Trello, Asana và hệ thống phần mềm sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hoặc các phần mềm nội bộ giúp theo dõi thời gian, phân công nhiệm vụ, cập nhật kết quả và đưa ra cảnh báo sớm khi tiến độ bị chậm trễ. Kỹ năng quản lý nhân sự, tài chính và tài nguyên nghiên cứu thông qua các hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) hoặc phần mềm quản lý dự án tích hợp. Kỹ năng phối hợp nhóm, tổ chức hội nghị, trao đổi học thuật qua các nền tảng trực tuyến như Zoom, Microsoft Teams, hay hệ thống quản lý học tập (LMS). Hình thành tư duy và văn hóa làm việc số.
Để hiện thực hóa các nội dung trên, Học viện Chính trị cần triển khai đồng bộ một số biện pháp chủ yếu đổi mới chương trình và giáo trình bồi dưỡng; đổi mới phương pháp bồi dưỡng theo hướng hiện đại, thực hành và trải nghiệm; xây dựng đội ngũ giảng viên, chuyên gia số chất lượng cao; kết hợp đào tạo tập trung với bồi dưỡng trực tuyến linh hoạt; tăng cường hợp tác và trao đổi kinh nghiệm.
Sáu là, thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra giám sát, sơ tổng kết, khen thưởng, biểu dương nhằm nâng cao chất lượng về bồi dưỡng kỹ năng CĐS cho cán bộ, nhan viên trong quản lý hoạt động KHQS ở Học viện Chính trị hiện nay.
Kiểm tra, giám sát toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm. Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc quán triệt nghị quyết, chỉ thị về chuyển đổi số; kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số của từng cơ quan, đơn vị; kết quả triển khai các chương trình, đề án số hóa; chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên. Đặc biệt, cần chú trọng kiểm tra an toàn thông tin, an ninh mạng, khai thác và sử dụng hệ thống dữ liệu, phần mềm quản lý, hoạt động đào tạo và bồi dưỡng nhân lực. Kiểm tra định kỳ nhằm nắm tiến độ và kết quả, trong khi kiểm tra đột xuất giúp phát hiện kịp thời sai sót, hạn chế, vi phạm. Hằng quý và hằng năm tổ chức sơ kết đánh giá kết quả bước đầu; chu kỳ 3 đến 5 năm tổ chức tổng kết toàn diện. Xây dựng cơ chế khen thưởngn biểu dương kịp thời, công bằng. Để nội dung công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, khen thưởng đi vào nền nếp, hiệu quả, cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp về kiểm tra, giám sát, sơ kết, khen thưởng là bộ phận hữu cơ của công tác lãnh đạo. Xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát khoa học, chặt chẽ. Phát huy vai trò của cơ quan chức năng như Phòng Khoa học quân sự, Ban Công nghệ thông tin/Văn phòng, Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Học viện, đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết thực chất, thực hiện tốt công tác khen thưởng, biểu dương.
3. Kết luận
Bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động khoa học quân sự là một giải pháp quan trọng, mang tính đột phá, có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với Học viện Chính trị. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu, giảng dạy, quản lý và đấu tranh tư tưởng, mà còn là nền tảng vững chắc để xây dựng “Học viện số” trong tổng thể chiến lược phát triển “Chính phủ số” và “Quân đội số”. Chỉ bằng việc coi trọng, triển khai đồng bộ và thường xuyên công tác bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ, nhân viên trong quản lý hoạt động khoa học quân sự, Học viện Chính trị mới có thể tiếp tục khẳng định vị thế là trung tâm hàng đầu của Quân đội và quốc gia trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực làm chủ khoa học - công nghệ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới./.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng bộ Học viện Chính trị (2025), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ Học viện Chính trị lần thứ XVII, Hà Nội.
2. Đảng uỷ Học viện Chính trị (2021), Nghị quyết 1652-NQ/QUTW về lãnh đạo công tác khoa học quân sự năm 2030 và những năm tiếp theo, Hà Nội.
3. Nguyễn Đức Thăng (chủ nhiệm, 2024), Năng lực chuyển đổi số của đội ngũ giảng viên trẻ ở nhà trường quân đội hiện nay, Đề tài khoa học Học viên, Học viện Chính trị.
4. Phạm Thanh Tuấn (2019), “Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở Học viện Chính trị hiện nay”, Đề tài cấp Học viện.