Lê Thị Tuyết Mai
Trường Đại học Nguyễn Huệ
Email: [email protected]
Tóm tắt: Huấn luyện cường độ cao là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao năng lực tác chiến và sẵn sàng chiến đấu cho học viên tại các nhà trường quân đội trong tình hình mới. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra thách thức lớn đối với công tác bảo đảm và chăm sóc sức khỏe cho người học. Bài viết phân tích thực trạng, những yêu cầu khách quan và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho học viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong quân đội hiện nay.
Từ khóa: Chăm sóc sức khỏe; học viên; nhà trường quân đội; huấn luyện cường độ cao.
1. Đặt vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 tiến lên hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, công tác giáo dục - đào tạo tại các nhà trường quân đội đã và đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ. Để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược này, các nhà trường quân đội tích cực đổi mới nội dung, tăng cường thời lượng thực hành, diễn tập, hành quân dã ngoại và huấn luyện trong các điều kiện thời tiết, địa hình phức tạp với cường độ ngày càng cao.
Trong bối cảnh đó, sức khỏe của học viên trở thành nhân tố cốt lõi quyết định đến kết quả học tập, rèn luyện và là nền tảng để xây dựng quân đội vững mạnh từ gốc. Khi cường độ huấn luyện tăng lên, cơ thể học viên phải đối mặt với những áp lực rất lớn về cả thể chất lẫn tinh thần. Nếu công tác chăm sóc sức khỏe, bảo đảm dinh dưỡng, phòng chống dịch bệnh và quản lý tâm lý không được thực hiện một cách khoa học, hệ thống, sẽ dễ dẫn đến tình trạng quá tải, chấn thương hoặc suy giảm sức chiến đấu của người học.
Do đó, việc tìm kiếm và thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho học viên trong điều kiện huấn luyện cường độ cao không chỉ là yêu cầu chuyên môn của ngành quân y, mà còn là một nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn, cấp bách, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quân đội trong tình hình mới.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Vai trò của công tác chăm sóc sức khỏe học viên quân đội trong huấn luyện cường độ cao
Thứ nhất, là nhân tố nền tảng bảo đảm duy trì và nâng cao quân số khỏe trong huấn luyện. Huấn luyện cường độ cao đòi hỏi học viên phải tiêu hao năng lượng lớn và đối mặt với các nguy cơ chấn thương cơ học hoặc bệnh lý thời tiết (say nắng, say nóng, mất nước). Công tác chăm sóc sức khỏe chủ động, từ việc quản lý thực phẩm, bổ sung vi chất dinh dưỡng đến việc chuẩn bị phương án y tế thao trường, giúp hạn chế tối đa tỷ lệ ốm đau phát sinh. Bảo đảm tốt sức khỏe là điều kiện tiên quyết để nhà trường duy trì quân số khỏe tham gia huấn luyện thường xuyên đạt tỷ lệ cao, tránh việc đứt gãy tiến trình biểu học tập do học viên phải điều trị, nằm viện.
Thứ hai, trực tiếp quyết định đến kết quả học tập, rèn luyện và chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường. Sức khỏe dẻo dai và tinh thần ổn định là động lực cốt lõi giúp học viên vượt qua các bài tập thể lực khắc nghiệt, nâng cao khả năng chịu đựng và tiếp thu tốt các kiến thức quân sự phức tạp. Ngược lại, nếu sức khỏe không được bảo đảm, học viên dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi kéo dài, giảm khả năng tập trung, tư duy chiến thuật chậm và giảm tính chính xác trong thực hành vũ khí, trang bị. Chăm sóc sức khỏe tốt chính là một biện pháp gián tiếp nhưng mạnh mẽ giúp nâng cao kết quả thi, kiểm tra và bảo đảm chất lượng đầu ra của đội ngũ sĩ quan tương lai.
Thứ ba, góp phần xây dựng bản lĩnh tâm lý vững vàng và nâng cao khả năng thích ứng cho người học. Quá trình chăm sóc sức khỏe hiện đại không chỉ dừng lại ở thể chất mà còn bao gồm cả sức khỏe tinh thần. Sự quan tâm chu đáo về đời sống, sự bám sát kịp thời của lực lượng quân y và cán bộ quản lý giúp học viên giải tỏa căng thẳng (stress), tạo cảm giác an tâm, tin tưởng để cống hiến. Thể lực tốt kết hợp với tâm lý vững vàng là cơ sở để hình thành nên bản lĩnh của người chiến sĩ, giúp học viên nhanh chóng thích ứng với mọi điều kiện tác chiến khó khăn, gian khổ, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu rèn luyện để sẵn sàng chiến đấu sau khi tốt nghiệp ra trường.
2.2. Các yếu tố tác động đến công tác chăm sóc sức khỏe học viên trong huấn luyện cường độ cao
Một là, tính chất đặc thù của nội dung và cường độ huấn luyện. Đây là yếu tố trực tiếp nhất tác động đến trạng thái thể chất của học viên. Các nội dung huấn luyện chiến thuật, hành quân dã ngoại, diễn tập vòng tổng hợp đòi hỏi học viên phải vận động liên tục với mật độ lớn. Theo các nghiên cứu về Y học quân sự, huấn luyện cường độ cao làm gia tăng đột biến nguy cơ chấn thương cơ học và tiêu hao năng lượng lớn. Điều này đòi hỏi công tác bảo đảm quân y và hậu cần phải chuyển dịch linh hoạt, bám sát từng nội dung cụ thể để có phương án dự phòng phù hợp, như Hướng dẫn của Tổng cục Hậu cần đã nhấn mạnh: “Công tác quân y phải đi trước một bước, bám sát bộ đội, bám sát thao trường để chủ động phương án bảo đảm kịp thời”.
Hai là, điều kiện thời tiết, khí hậu và môi trường thao trường. Học viên quân đội thường xuyên huấn luyện ngoài trời dưới tác động trực tiếp của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Khi nhiệt độ bãi tập tăng cao, cơ thể người học dễ rơi vào trạng thái mất nước, rối loạn điện giải, say nắng, say nóng; ngược lại, thời tiết mưa rét dầm dề tiềm ẩn nguy cơ về bệnh đường hô hấp, tai nạn do trơn trượt. Việc quán triệt nghiêm túc Thông tư số 122/2020/TT-BQP của Bộ Quốc phòng quy định về phòng, chống tai nạn thương tích trong huấn luyện chính là một mắt xích quan trọng giúp giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực của yếu tố môi trường đến sức khỏe bộ đội.
Ba là, năng lực bảo đảm của hệ thống y tế và hậu cần nhà trường. Nhân lực, trang thiết bị của bệnh xá, quân y tiểu đoàn và năng lực cung ứng của hệ thống nhà ăn giữ vai trò quyết định. Nếu đội ngũ quân y nhạy bén trong dự báo bệnh dịch, xử lý cấp cứu tốt; đồng thời cơ sở hậu cần chế biến khoa học, bảo đảm tốt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm thì sức khỏe học viên sẽ được bảo vệ vững chắc. Thực tế đòi hỏi các nhà trường phải duy trì nghiêm các tiêu chuẩn định lượng quy định tại Thông tư số 168/2021/TT-BQP của Bộ Quốc phòng về tiêu chuẩn vật chất hậu cần, đồng thời linh hoạt điều chỉnh cơ cấu vi chất dinh dưỡng theo từng giai đoạn huấn luyện đỉnh điểm để tăng khả năng phục hồi của học viên.
Bốn là, nhận thức, kỹ năng của học viên và vai trò chỉ huy của cán bộ quản lý. Ý thức tự giác, kỹ năng tự sơ cứu, chế độ sinh hoạt và nếp sống vệ sinh khoa học của chính học viên là yếu tố nội sinh cốt lõi. Bên cạnh đó, vai trò điều hành, bám nắm bãi tập của đội ngũ cán bộ đại đội, tiểu đoàn trong việc xen kẽ hợp lý giữa huấn luyện và nghỉ ngơi, phát hiện sớm các dấu hiệu đuối sức của học viên có ý nghĩa quyết định, ngăn ngừa hiệu quả các sự cố sức khỏe đáng tiếc trên thao trường.
2.3. Yêu cầu đối với công tác chăm sóc sức khỏe học viên trong điều kiện hiện nay
Thứ nhất, bảo đảm tính toàn diện và đồng bộ. Chăm sóc sức khỏe hiện nay không đơn thuần là hoạt động khám bệnh, phát thuốc đơn lẻ khi học viên có biểu hiện đau ốm, chấn thương. Yêu cầu đặt ra là phải kết hợp chặt chẽ giữa “phòng bệnh” và “chữa bệnh”; giữa bảo đảm chế độ dinh dưỡng, nâng cao thể lực với phòng chống dịch bệnh và quản lý sức khỏe tinh thần. Điều này hoàn toàn quán triệt tinh thần Nghị quyết số 290-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, đó là: “Đổi mới mạnh mẽ cơ chế hoạt động, nâng cao chất lượng y tế y học dự phòng, chủ động quản lý, chăm sóc sức khỏe bộ đội toàn diện, đồng bộ từ sớm, từ xa”. Theo đó, hệ thống quân y và quản lý phải theo dõi, bảo vệ người học xuyên suốt từ khi nhập học đến khi tốt nghiệp, cả ở giảng đường lẫn ngoài thao trường.
Thứ hai, bảo đảm tính kịp thời, chủ động và có tầm dự báo cao. Do tính chất huấn luyện cường độ cao diễn ra liên tục, các tình huống tai nạn thương tích hoặc bệnh lý thời tiết thường xảy ra rất nhanh và đột ngột. Do đó, công tác y tế học đường đòi hỏi phải chuyển mạnh từ tư duy “đối phó, thụ động” sang “chủ động phòng ngừa, dự báo”. Lực lượng quân y và cơ quan hậu cần phải nắm chắc tiến trình biểu huấn luyện, dự báo trước các nguy cơ dịch bệnh hoặc chấn thương đặc thù của từng môn học để chuẩn bị sẵn sàng phương án, cơ số thuốc và trang thiết bị cấp cứu ngay tại thực địa, bảo đảm xử lý hiệu quả ngay từ giờ đầu.
Thứ ba, bảo đảm tính khoa học, linh hoạt và bám sát thực tiễn. Các biện pháp chăm sóc sức khỏe, bổ sung năng lượng, vi chất dinh dưỡng hay phân bổ thời gian nghỉ ngơi phải dựa trên các cơ sở khoa học về y học thể thao và y học quân sự. Yêu cầu này đòi hỏi sự linh hoạt rất lớn từ phía nhà trường: khi thời tiết khắc nghiệt (nắng nóng cực đoan, mưa rét) hoặc khi bài tập kéo dài qua đêm, cơ cấu bữa ăn, nguồn nước uống bổ sung điện giải và chế độ ngủ nghỉ phải được điều chỉnh tức thì, không rập khuôn máy móc, bảo đảm phù hợp với khả năng chịu đựng sinh lý của cơ thể học viên nhằm duy trì tối đa quân số khỏe.
Thứ tư, bảo đảm tính kỷ luật và chấp hành nghiêm các quy định. Công tác chăm sóc sức khỏe phải đặt dưới sự chỉ huy, chỉ đạo thống nhất, nghiêm túc theo các điều lệnh, điều lệ của Quân đội và quy định của ngành Quân y. Đúng như định hướng chiến lược trong Nghị quyết 290-NQ/QUTW về việc xây dựng ngành quân y chính quy, quản lý chặt chẽ; mọi cán bộ quản lý và học viên phải chấp hành nghiêm chỉnh quy trình an toàn trong huấn luyện, các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch. Tuyệt đối không được chủ quan, lơ là hoặc bớt xén tiêu chuẩn, định lượng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến thể lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của người học.
2.4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe học viên ở các nhà trường quân đội trong điều kiện huấn luyện cường độ cao hiện nay
Một là, chủ động đổi mới cơ chế quản lý, giám sát và dự báo sức khỏe từ sớm, từ xa dựa trên nền tảng số.
Giải pháp này hoàn toàn quán triệt sâu sắc mục tiêu chiến lược trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, đó là: “Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên các lĩnh vực; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, rèn luyện thể lực, bản lĩnh chính trị, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại”.
Để cụ thể hóa định hướng này, các nhà trường quân đội cần chấm dứt phương thức quản lý y tế thủ công, chuyển mạnh sang ứng dụng chuyển đổi số vào y tế học đường thông qua việc xây dựng, đồng bộ hóa hệ thống “Hồ sơ sức khỏe điện tử” cho 100% học viên ngay từ khi nhập học. Trước áp lực của các giai đoạn huấn luyện đỉnh điểm; nơi học viên phải đối mặt với bài toán giới hạn bền bỉ của cơ thể như hành quân dã ngoại dài ngày vượt địa hình phức tạp, diễn tập vòng tổng hợp bắn đạn thật hay huấn luyện đêm liên tục; lực lượng quân y không thể đợi học viên có bệnh mới xử lý. Thay vào đó, phải sử dụng dữ liệu số để chủ động phân tích xu hướng thể lực, sàng lọc và phân loại sức khỏe khoa học khoa học trước khi ra thao trường.
Sự kết nối dữ liệu thời gian thực giữa bệnh xá và tiến trình biểu huấn luyện giúp phát hiện sớm từ sớm các trường hợp có bệnh lý nền ẩn nấp, dấu hiệu suy nhược cơ bắp tích tụ, hoặc những học viên có chỉ số thích nghi tim mạch kém dưới áp lực tải cao. Từ đó, kịp thời đề xuất với ban giám hiệu và đơn vị quản lý phương án bồi dưỡng, điều trị dự phòng hoặc điều chỉnh phân pha huấn luyện hợp lý cho từng đối tượng, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng đột biến hay suy giảm quân số khỏe do quá tải cơ học, quyết tâm giữ vững dòng máu khỏe cho các đơn vị chiến đấu.
Hai là, cơ cấu lại chế độ dinh dưỡng khoa học, tối ưu hóa năng lượng phục hồi và bảo đảm tuyệt đối vệ sinh an toàn thực phẩm.
Các khoa mục huấn luyện nặng như vượt vật cản, võ thuật, chiến thuật bãi tập và bơi vũ trang thường tiêu hao một lượng calo rất lớn, dao động từ 4.000 đến hơn 4.500 kcal mỗi ngày. Trước thực tế đó, cơ cấu bữa ăn tại các nhà ăn, nhà bếp hoàng bộc không thể duy trì theo lối mòn cào bằng mà phải được tính toán khoa học, linh hoạt điều chỉnh tỷ lệ cân đối giữa ba nhóm chất sinh năng lượng chính là protein, lipid, glucid, đồng thời tăng cường các vi chất dinh dưỡng và vitamin nhóm B, C nhằm hỗ trợ tối đa cho quá trình chuyển hóa, chống dị hóa cơ bắp của học viên.
Đặc biệt, trong những giai đoạn thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng cực đoan trên bãi tập, lực lượng quân y và cơ sở hậu cần cần chủ động phối hợp chặt chẽ để triển khai các biện pháp chống say nắng, say nóng ngay tại thực địa. Việc đưa các loại nước bổ sung muối khoáng, nước chanh đường hoặc dung dịch oresol, chất điện giải ra tận thao trường là giải pháp thiết thực nhằm cân bằng áp suất thẩm thấu, bù đắp kịp thời lượng nước và muối mất đi qua đường mồ hôi, từ đó ngăn ngừa hiệu quả tình trạng co rút cơ và kiệt sức do nhiệt của người học.
Bên cạnh việc bổ sung năng lượng, nhà trường cần thiết lập và duy trì nghiêm ngặt quy trình kiểm nghiệm ba bước từ khâu thu mua, tiếp nhận nguồn thực phẩm đến chế biến và lưu mẫu thức ăn 24 giờ. Trước áp lực huấn luyện cao điểm, hệ miễn dịch của học viên thường bị suy giảm tạm thời do mệt mỏi thể xác tích tụ, khiến cơ thể nhạy cảm hơn với các tác nhân gây bệnh. Vì vậy, việc siết chặt vệ sinh an toàn thực phẩm, kiên quyết không để xảy ra ngộ độc hay dịch bệnh đường tiêu hóa lây lan trong đơn vị là yếu tố then chốt để bảo đảm nguồn thể lực sạch và bền bỉ cho học viên.
Ba là, tích hợp giáo dục kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe và phòng tránh tai nạn thương tích vào chương trình ngoại khóa.
Giải pháp này nhằm cụ thể hóa một trong những mục tiêu cốt lõi của Nghị quyết số 290-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, đó là chú trọng công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, phát huy vai trò chủ động của mọi cán bộ, chiến sĩ trong việc tự quản lý, bảo vệ và nâng cao sức khỏe bản thân. Để đáp ứng yêu cầu đó, các nhà trường quân đội cần phát huy tối đa tính năng động, tự giác của học viên thông qua việc tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, diễn đàn tọa đàm và hướng dẫn kỹ năng y học thường thức, biến quá trình chăm sóc sức khỏe thụ động thành hành động tự giác, thường xuyên của người học.
Trong điều kiện huấn luyện cường độ cao hiện nay, nhà trường cần tập trung huấn luyện cho học viên nắm vững kỹ thuật khởi động khoa học trước khi bước vào bãi tập, cũng như các bài tập giải cơ, thả lỏng sâu sau khi kết thúc môn học nhằm phòng ngừa các tổn thương về dây chằng và cơ bắp. Đồng thời, chương trình ngoại khóa phải tăng cường thời lượng thực hành, trang bị cho học viên các kỹ năng tự sơ cứu và cấp cứu chấn thương cơ bản như cách băng bó cố định xương gãy, xử lý nhanh tình trạng bong gân, kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực và hà hơi thổi ngạt.
Đặc biệt, học viên phải được thục luyện thành thục phương pháp phát hiện và sơ cứu tại chỗ cho đồng đội khi bị say nắng, say nóng trên thao trường trước khi lực lượng quân y tiếp cận. Việc nâng cao các kỹ năng này không chỉ giúp học viên tự bảo vệ an toàn cho chính mình mà còn nâng cao năng lực tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong các tình huống đột xuất, giảm thiểu tối đa các tai nạn thương tích nghiêm trọng trong huấn luyện, bảo đảm cho đơn vị luôn duy trì sức chiến đấu bền bỉ cao nhất.
Bốn là, đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe tinh thần và chủ động tư vấn tâm lý học đường.
Áp lực từ những bài tập nặng, dài ngày với cường độ tăng dần rất dễ gây nên trạng thái căng thẳng, mệt mỏi tâm lý (stress) đối với học viên, nhất là đối tượng học viên năm thứ nhất mới bước vào môi trường quân ngũ, phải thay đổi hoàn toàn thói quen sinh hoạt và đối mặt với kỷ luật thép. Y học quân sự đã chứng minh sức khỏe tinh thần và thể chất luôn có mối quan hệ hữu cơ; một trạng thái tâm lý bất ổn, lo âu sẽ trực tiếp làm suy giảm khả năng tập trung, đẩy nhanh sự mệt mỏi cơ bắp và làm tăng nguy cơ mất an toàn trong huấn luyện. Vì vậy, công tác chăm sóc sức khỏe tinh thần phải được xem là một nội dung then chốt, song hành cùng việc bảo đảm thể lực cho bộ đội.
Để giải quyết triệt để vấn đề này, đội ngũ cán bộ quản lý đại đội, tiểu đoàn phải phát huy cao độ vai trò trách nhiệm, thường xuyên sâu sát, bám nắm bãi tập để kịp thời động viên, sẻ chia và phát hiện sớm các dấu hiệu khủng hoảng tâm lý của học viên. Nhà trường cần phát huy hiệu quả hệ thống hòm thư góp ý, hoạt động của các phòng tư vấn tâm lý chuyên trách hoặc câu lạc bộ kỹ năng sống nhằm tạo dựng những không gian đối thoại cởi mở, lành mạnh. Những mô hình này không chỉ giúp giải tỏa áp lực tinh thần cho học viên sau những giờ huấn luyện vất vả trên thao trường, mà còn trang bị cho họ bộ lọc tâm lý vững vàng, sẵn sàng thích ứng và vượt qua mọi thử thách, gian khổ của đời sống chiến sĩ.
Năm là, tăng cường mối quan hệ phối hợp hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong nhà trường.
Đây là giải pháp có tính tổ chức, giữ vai trò quyết định đến hiệu quả thực tế và tính đồng bộ của toàn bộ công tác bảo đảm y tế. Mối quan hệ hiệp đồng này đòi hỏi cơ quan huấn luyện phải chủ động phối hợp chặt chẽ với lực lượng quân y ngay từ khâu xây dựng kế hoạch, phân bổ thời gian huấn luyện khoa học, đan xen hài hòa giữa các nội dung có cường độ nặng và nhẹ, bảo đảm cho học viên luôn có những khoảng lặng hợp lý để phục hồi thể lực và tái tạo năng lượng.
Song song với đó, đơn vị quản lý học viên phải duy trì nghiêm túc, chặt chẽ các chế độ ngày, tuần, đặc biệt là chế độ ngủ nghỉ, sinh hoạt điều độ, không để tình trạng cắt xén thời gian nghỉ ngơi làm suy kiệt sức đề kháng của bộ đội. Trong khi đó, lực lượng quân y phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, luôn bám sát thao trường, bãi tập, chuẩn bị đầy đủ cơ số thuốc, cáng thương và trang thiết bị y tế lưu động, sẵn sàng xử trí nhanh chóng, chính xác các tình huống chấn thương hay cấp cứu đột xuất ngay tại thực địa. Sự vận hành nhịp nhàng của cơ chế phối hợp này chính là lá chắn vững chắc bảo vệ an toàn tuyệt đối cho người học trước mọi áp lực rèn luyện cao điểm.
3. Kết luận
Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe học viên ở các nhà trường quân đội trong điều kiện huấn luyện cường độ cao hiện nay là một nhiệm vụ chính trị trọng yếu, có tính cấp bách cao. Công tác này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của các cấp, các ngành và toàn thể lực lượng trong nhà trường, từ khâu quản lý y tế số, bảo đảm dinh dưỡng, tư vấn tâm lý đến sự phối hợp hiệp đồng trên thao trường.
Thực hiện thắng lợi các giải pháp trên chính là cơ sở vững chắc để duy trì tỷ lệ quân số khỏe tham gia huấn luyện, trực tiếp góp phần nâng cao thể lực, bản lĩnh và chất lượng “rèn cán, luyện quân”. Đây là tiền đề cốt lõi giúp các nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới./.
Tài liệu tham khảo
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[2]. Đảng bộ Quân đội (2025), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII (nhiệm kỳ 2025 - 2030), Hà Nội.
[3]. Quân ủy Trung ương (2025), Nghị quyết số 290-NQ/QUTW về Đột phá phát triển giáo dục, đào tạo trong quân đội, Hà Nội.
[4]. Bộ Quốc phòng (2020), Thông tư số 122/2020/TT-BQP ngày 08 tháng 10 năm 2020 quy định về phòng, chống tai nạn thương tích trong huấn luyện, diễn tập, lao động sản xuất và trong các hoạt động của Quân đội nhân dân Việt Nam.
[5]. Bộ Quốc phòng (2021), Thông tư số 168/2021/TT-BQP ngày 18 tháng 12 năm 2021 quy định về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với quân nhân đang tại ngũ.
[6]. Tổng cục Hậu cần (2023), Hướng dẫn công tác quân y và bảo đảm sức khỏe bộ đội trong huấn luyện, diễn tập, Cục Quân y, Hà Nội.
IMPROVING THE QUALITY OF HEALTHCARE FOR CADETS AT MILITARY ACADEMIES UNDER CURRENT HIGH-INTENSITY TRAINING CONDITIONS
Le Thi Tuyet Mai
Nguyen Hue University
Email: [email protected]
Abstract: High-intensity training is an essential requirement to enhance the combat capacity and combat readiness of cadets at military academies in the new context. However, this also poses a significant challenge to the task of health assurance and medical care for learners. This article analyzes the current situation, identifies objective requirements, and proposes several fundamental solutions to improve the quality of healthcare for cadets, thereby contributing to elevating the quality of education and training in the military today.
Keywords: Healthcare; cadets; military academies; high-intensity training.