Đinh Thị Chinh – Võ Phú Hữu,
Đại học Cần Thơ
Email: [email protected]
Tóm tắt: Không gian mạng đang trở thành môi trường sống, học tập và hình thành bản sắc của sinh viên, đồng thời là mặt trận nơi các giá trị văn hóa dân tộc chịu tác động mạnh từ toàn cầu hóa, kinh tế nền tảng, thuật toán gợi ý và các chiến dịch thao túng thông tin. Bài viết tiếp cận vấn đề nâng cao nhận thức bảo vệ nền tảng văn hóa dân tộc cho sinh viên theo hướng nghiên cứu lý luận và phân tích chính sách. Cơ sở lý thuyết chủ đạo là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người, kết hợp khung lý thuyết xã hội hóa, kiến tạo xã hội và năng lực công dân số. Bằng cách hệ thống hóa lý luận, phân tích cơ chế tác động của môi trường số và tổng hợp thực tiễn giáo dục đại học, nghiên cứu chỉ ra các biểu hiện bào mòn nhận thức, lai ghép giá trị và thiếu năng lực đề kháng thông tin ở sinh viên. Bài viết làm rõ điều kiện chuyển hóa từ tri thức sang hành vi văn hóa số và đề xuất bốn nhóm giải pháp đồng bộ theo hướng thống nhất nhận thức, đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp tổ chức và hoàn thiện cơ chế chính sách, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng trong bối cảnh số hóa.
Từ khóa: Nền tảng văn hóa dân tộc, sinh viên, không gian mạng, năng lực công dân số, giáo dục chính trị tư tưởng, an ninh văn hóa
1. Đặt vấn đề
Sự phát triển của internet và các nền tảng số đã tạo ra một môi trường xã hội mới, nơi thông tin lan truyền với tốc độ cao và tác động trực tiếp tới nhận thức, thái độ, hành vi. Với sinh viên, môi trường số không còn là không gian phụ trợ mà là không gian tồn tại thường xuyên. Nhiều hoạt động học tập, giải trí, kết nối cộng đồng, thể hiện bản thân đều diễn ra trong môi trường này. Vì vậy, quá trình hình thành nhân cách, hệ giá trị, chuẩn mực ứng xử của sinh viên ngày càng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi nội dung số và cơ chế vận hành của nền tảng.
Trong các thiết chế truyền thống, quá trình tiếp nhận văn hóa thường diễn ra qua gia đình, nhà trường, cộng đồng địa phương, các hình thức truyền thông đại chúng có tính kiểm duyệt và nhịp độ chậm. Trong môi trường số, văn hóa và thông tin được tiếp nhận theo dòng chảy liên tục, có tính phân mảnh cao, ưu tiên cảm xúc mạnh và tương tác nhanh. Thuật toán gợi ý của nền tảng tối ưu hóa thời gian ở lại và mức độ tương tác thường ưu tiên nội dung gây chú ý, gây tranh cãi hoặc kích thích tò mò. Điều này tạo nên nguy cơ bào mòn nền tảng văn hóa dân tộc theo cách âm thầm. Nền tảng văn hóa không nhất thiết bị phủ định trực diện, mà có thể suy yếu do thói quen tiêu thụ nội dung hời hợt, do chuẩn mực ứng xử lệch chuẩn, do ngôn ngữ thô ráp, do sự thờ ơ với lịch sử và biểu tượng, hoặc do tiếp nhận phiến diện các giá trị ngoại lai mà thiếu khả năng chọn lọc và đối thoại.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế, giao lưu và tiếp biến văn hóa là xu thế tất yếu và cần thiết. Tiếp biến đúng nghĩa là tiếp nhận có chọn lọc, biến cái hay của nhân loại thành nguồn lực làm giàu văn hóa dân tộc, đồng thời giữ vững giá trị cốt lõi của bản sắc Việt Nam. Tuy nhiên, môi trường số làm tăng nguy cơ tiếp biến lệch hướng. Một số sinh viên có thể rơi vào khuynh hướng sính ngoại cực đoan, coi cái ngoại là chuẩn mực duy nhất, đánh giá thấp văn hóa dân tộc, thậm chí phủ định truyền thống. Một số khác có thể rơi vào khuynh hướng bài ngoại cực đoan, nhìn giao lưu văn hóa như mối đe dọa tuyệt đối, từ đó hình thành tư duy đóng kín và thiếu khoan dung. Cả hai xu hướng đều bất lợi, vì đều làm suy giảm năng lực đối thoại, suy giảm tư duy phản biện và làm nghèo năng lực văn hóa trong một thế giới đa văn hóa.
Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu mới cho giáo dục chính trị, tư tưởng trong trường đại học. Nếu trước đây nhiệm vụ trọng tâm là truyền đạt nền tảng lý luận, bồi dưỡng lý tưởng và đạo đức, thì nay cần mở rộng sang nhiệm vụ hình thành năng lực công dân số, năng lực truyền thông, năng lực phản biện và năng lực ứng xử văn hóa trong môi trường mạng. Bảo vệ nền tảng văn hóa dân tộc vì thế không chỉ là tuyên truyền tri thức văn hóa, mà là tổ chức một hệ sinh thái giáo dục giúp sinh viên biết nhận diện thông tin độc hại, biết kiểm chứng, biết đối thoại văn minh, biết sáng tạo nội dung tích cực và biết tự điều chỉnh hành vi số theo chuẩn mực văn hóa dân tộc.
Thực tiễn giáo dục đại học cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách giữa mục tiêu và công cụ. Nhiều nơi giáo dục văn hóa còn thiên về truyền thụ một chiều, ít gắn với tình huống số và ít rèn kỹ năng. Hoạt động truyền thông nhà trường đôi khi chưa đủ sức cạnh tranh trong môi trường kinh tế chú ý. Nhiều hoạt động Đoàn, Hội có tính phong trào nhưng thiếu sản phẩm số bền vững. Cơ chế phối hợp nhà trường, gia đình, xã hội và nền tảng số chưa chặt. Công cụ đo lường nhận thức, thái độ, năng lực, hành vi văn hóa số của sinh viên còn thiếu, dẫn tới khó quản trị bằng dữ liệu.
Bài viết hướng tới mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích cơ chế tác động của không gian mạng tới nhận thức văn hóa của sinh viên và đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ để nâng cao nhận thức bảo vệ nền tảng văn hóa dân tộc trong bối cảnh hiện nay. Ý nghĩa nghiên cứu là bổ sung luận cứ khoa học cho đổi mới giáo dục chính trị, tư tưởng trong môi trường số, đồng thời đề xuất mô hình triển khai thực tiễn có thể áp dụng tại các trường đại học.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống
Trong nghiên cứu quốc tế, các chủ đề liên quan đến văn hóa trong kỷ nguyên số thường tập trung vào xã hội mạng, quyền lực thuật toán, phân cực công luận, năng lực truyền thông, giáo dục công dân số và bảo vệ đa dạng văn hóa. Nhiều công trình nhấn mạnh sự chuyển dịch từ truyền thông đại chúng sang truyền thông nền tảng, nơi thuật toán và mô hình kinh doanh dựa trên quảng cáo định hình hành vi người dùng. Một hướng nghiên cứu khác tập trung vào năng lực truyền thông và thông tin, coi đây là năng lực thiết yếu để cá nhân tự bảo vệ trước tin giả, thao túng và cực đoan hóa. Những tiếp cận này gợi ý rằng giáo dục văn hóa trong môi trường số phải chuyển trọng tâm từ truyền đạt nội dung sang xây dựng năng lực.
Trong nghiên cứu trong nước, nhiều công trình bàn về giữ gìn bản sắc, xây dựng con người Việt Nam, giáo dục đạo đức, lối sống, lý tưởng cách mạng cho sinh viên. Một số nghiên cứu gần đây bắt đầu đề cập tác động của mạng xã hội và tin giả tới nhận thức chính trị, tư tưởng. Tuy nhiên, khoảng trống vẫn tồn tại ở ba điểm. Điểm thứ nhất là thiếu khung phân tích kết nối trực tiếp giữa nền tảng văn hóa dân tộc và cơ chế thuật toán, kinh tế chú ý trong không gian mạng. Điểm thứ hai là thiếu khung năng lực văn hóa số có thể đo lường và can thiệp trong nhà trường. Điểm thứ ba là thiếu mô hình triển khai cụ thể kèm công cụ đánh giá trước và sau can thiệp để nâng cao tính khả thi chính sách.
2.2. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
Bài viết sử dụng cách tiếp cận liên ngành kết hợp giáo dục, văn hóa, truyền thông và chính sách công. Phương pháp hệ thống hóa lý luận được dùng để tổng hợp quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người và vai trò của giáo dục trong xây dựng nhân cách. Phương pháp phân tích chính sách được vận dụng để nhận diện khoảng cách giữa mục tiêu, công cụ và tổ chức thực thi trong giáo dục đại học và quản trị không gian mạng. Phương pháp luận giải cấu trúc và chức năng được dùng để làm rõ cấu trúc nhận thức theo các tầng tri thức, thái độ, năng lực và hành vi, đồng thời giải thích cơ chế tác động của thuật toán, kinh tế chú ý và buồng vang. Vì là nghiên cứu lý luận và phân tích chính sách, phần thực trạng dựa trên tổng hợp quan sát, tình huống điển hình và logic chính sách, chưa triển khai khảo sát định lượng diện rộng.
2.3. Cơ sở lý luận và khái niệm trung tâm
Nền tảng văn hóa dân tộc được hiểu là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần bền vững do lịch sử dân tộc hun đúc và kết tinh thành hệ giá trị, chuẩn mực, bản sắc, chi phối lối sống và phương thức ứng xử của cộng đồng. Nền tảng đó không chỉ là những biểu đạt nhìn thấy được như di sản, lễ hội, trang phục, ẩm thực, nghệ thuật, mà còn là hệ giá trị chi phối cách nghĩ và cách sống. Có thể khái quát các giá trị nổi bật của văn hóa Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, nhân ái, nghĩa tình, hiếu học, cần cù, sáng tạo, trọng danh dự, tôn trọng gia đình, khoan dung trong ứng xử và tinh thần đoàn kết. Trong môi trường hiện đại, những giá trị này cần được diễn giải theo ngôn ngữ của thời đại số để sinh viên có thể chuyển hóa thành hành vi cụ thể.
Bảo vệ nền tảng văn hóa dân tộc trong không gian mạng không mang nghĩa khép kín hay phủ nhận giao lưu văn hóa. Bảo vệ được hiểu là giữ vững hệ giá trị cốt lõi, tăng năng lực chọn lọc, tiếp biến, sáng tạo, đồng thời ngăn chặn và giảm thiểu tác động của nội dung phản văn hóa, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm biểu tượng, cổ súy bạo lực và kích động thù ghét. Bảo vệ còn mang nghĩa chủ động, nghĩa là chủ động tạo nội dung tích cực, tạo cộng đồng lan tỏa chuẩn mực văn minh và tạo sức hấp dẫn cho văn hóa dân tộc trong môi trường số.
Nhận thức bảo vệ nền tảng văn hóa dân tộc của sinh viên cần được hiểu theo cấu trúc bốn tầng. Tầng tri thức bao gồm hiểu biết về lịch sử, giá trị, biểu tượng và hiểu biết về cơ chế vận hành thông tin số. Tầng thái độ bao gồm niềm tự hào đúng mực, sự trân trọng, sự sẵn sàng bảo vệ giá trị và thái độ phản đối nội dung phản văn hóa. Tầng năng lực bao gồm khả năng kiểm chứng thông tin, nhận diện thao túng, lập luận dựa trên bằng chứng, ứng xử văn minh và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tầng hành vi bao gồm lựa chọn nội dung, cách bình luận và chia sẻ, cách tham gia tranh luận, mức độ tham gia tạo nội dung tích cực và mức độ tham gia cộng đồng.
Cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp định hướng căn bản. Văn hóa được nhìn như nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển. Con người được nhìn như chủ thể của văn hóa, cần được giáo dục toàn diện, kết hợp đức và tài, lý tưởng và năng lực. Tư tưởng đó cho phép hiểu rằng bảo vệ văn hóa trong môi trường số không chỉ là nhiệm vụ quản lý mà là nhiệm vụ xây dựng con người, xây dựng bản lĩnh và năng lực lựa chọn.
Khung lý thuyết xã hội hóa và kiến tạo xã hội nhấn mạnh rằng bản sắc và nhận thức hình thành qua tương tác. Trong môi trường số, tương tác xã hội bị trung gian hóa bởi nền tảng và thuật toán, do đó quá trình xã hội hóa có thể diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn nhưng cũng dễ méo mó hơn. Năng lực công dân số và năng lực truyền thông là điều kiện để cá nhân làm chủ tương tác, không bị thuật toán dẫn dắt một cách vô thức.
Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất khung phân tích bốn tầng. Tầng giá trị là hệ giá trị văn hóa dân tộc kết hợp giá trị công dân số như tôn trọng sự thật, trách nhiệm, văn minh, liêm chính. Tầng cơ chế mạng là thuật toán gợi ý, kinh tế chú ý, buồng vang, văn hóa người nổi tiếng và nội dung xuyên biên giới. Tầng năng lực sinh viên là tri thức văn hóa, tư duy phản biện, đạo đức số, kỹ năng truyền thông. Tầng thể chế và tổ chức là chương trình giáo dục, hoạt động Đoàn, Hội, truyền thông nhà trường và phối hợp xã hội.
2.4. Thực trạng nhận thức và những vấn đề đặt ra
Thực tiễn cho thấy có những biểu hiện tích cực đáng ghi nhận. Nhiều sinh viên quan tâm đến lịch sử, di sản, bản sắc địa phương, tham gia các hoạt động cộng đồng gắn với văn hóa. Một số nhóm sinh viên sáng tạo nội dung số về văn hóa Việt Nam, kể chuyện lịch sử bằng hình thức gần gũi, giới thiệu di sản, quảng bá tiếng Việt và văn hóa ứng xử. Sự phát triển của công cụ số giúp sinh viên có thể trở thành người kể chuyện văn hóa, có thể làm dự án số hóa di sản địa phương, có thể kết nối với cộng đồng yêu văn hóa trên toàn quốc. Đây là điểm tựa quan trọng nếu nhà trường biết tạo điều kiện và có chính sách khuyến khích.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực là những hạn chế và nguy cơ. Nhiều sinh viên có tri thức văn hóa ở mức khái quát nhưng thiếu năng lực kiểm chứng trong môi trường số. Họ có thể phân biệt đúng sai khi được giảng giải trong lớp, nhưng lúng túng trước một dòng tin có hình ảnh cắt ghép, trước một video ngắn có lời dẫn cảm xúc, hoặc trước một trào lưu mang tính giễu nhại biểu tượng. Môi trường số làm tri thức bị thử thách liên tục, nếu thiếu năng lực kiểm chứng và tư duy phản biện, tri thức dễ bị đánh bại bởi cảm xúc và số đông.
Một nguy cơ khác là lai ghép giá trị thiếu nền tảng. Tiếp xúc liên tục với lối sống tiêu dùng và chủ nghĩa cá nhân cực đoan có thể làm suy giảm tinh thần cộng đồng, nghĩa tình và trách nhiệm xã hội. Trong một số trường hợp, chuẩn mực thành công bị giản lược thành tiền bạc và hình ảnh, khiến sinh viên coi nhẹ lao động bền bỉ, coi nhẹ học thuật nghiêm túc và coi nhẹ đạo đức nghề nghiệp. Khi đó, nền tảng văn hóa dân tộc không bị phủ định bằng lời nói, nhưng bị suy yếu trong hành vi và lựa chọn sống.
Tâm lý a dua theo trào lưu là thách thức nổi bật. Thuật toán ưu tiên nội dung được nhiều người xem, làm tăng sức hút của các thử thách phản cảm, các nội dung giễu nhại, hoặc các tranh cãi vô bổ. Sinh viên trong giai đoạn hình thành bản sắc dễ tham gia để thuộc về nhóm, dễ chia sẻ để thể hiện, và dễ bình luận theo cảm xúc. Nếu thiếu khả năng tự kiểm soát và thiếu môi trường hướng dẫn, hành vi lệch chuẩn có thể trở nên bình thường hóa.
Bạo lực mạng và ngôn ngữ thù ghét cũng là nguy cơ trực tiếp đối với văn hóa. Văn hóa ứng xử Việt Nam vốn đề cao nhân ái, nghĩa tình, tôn trọng và khoan dung. Khi bạo lực mạng gia tăng, ngôn ngữ miệt thị trở thành thông lệ, sự đoàn kết bị tổn thương và sức khỏe tinh thần của người học bị ảnh hưởng. Nhiều sinh viên có thể trở nên im lặng vì sợ bị công kích, hoặc trở nên công kích vì quen với lối giao tiếp đối đầu. Cả hai đều làm suy yếu nền tảng văn hóa và làm giảm chất lượng đời sống học đường.
Ngoài ra, nguy cơ cực đoan hóa nhận thức văn hóa cần được nhìn nhận nghiêm túc. Khi gặp một sự kiện văn hóa gây tranh cãi, sinh viên có thể phản ứng theo hai thái cực. Một thái cực là phủ định truyền thống, coi truyền thống là lạc hậu và là rào cản hiện đại hóa. Thái cực kia là tuyệt đối hóa truyền thống, phủ nhận mọi yếu tố ngoại lai và coi đối thoại là phản bội. Hai thái cực đều thiếu cơ sở khoa học và đều làm suy giảm năng lực tiếp biến văn hóa, vốn là năng lực quan trọng của một dân tộc có lịch sử giao lưu lâu dài.
Ở góc độ tổ chức giáo dục, có thể nhận diện ba khoảng trống lớn. Khoảng trống thứ nhất là nội dung giáo dục văn hóa còn thiếu gắn kết với tình huống thực trên mạng. Sinh viên học về giá trị, di sản, lịch sử nhưng không được rèn kỹ năng xử lý tin giả, không được thực hành tranh luận văn minh, không được học về thuật toán và kinh tế chú ý. Khoảng trống thứ hai là phương pháp tổ chức còn nặng truyền thụ, thiếu tính trải nghiệm và thiếu sản phẩm, nên khó tạo hứng thú và khó chuyển hóa thành hành vi. Khoảng trống thứ ba là quản trị nhà trường thiếu dữ liệu, thiếu bộ chỉ số đo lường định kỳ, thiếu kịch bản phản hồi nhanh khi xảy ra sự cố văn hóa số.
2.5. Cơ chế tác động của không gian mạng tới nhận thức văn hóa
Cơ chế tác động quan trọng nhất là thuật toán gợi ý và kinh tế chú ý. Thuật toán được thiết kế để tối ưu hóa tương tác, do đó ưu tiên nội dung dễ kích thích cảm xúc và dễ tạo phản hồi nhanh. Nội dung chuẩn mực, có chiều sâu thường khó cạnh tranh về tương tác nếu không được kể bằng hình thức phù hợp. Vì vậy, nếu nhà trường không trang bị cho sinh viên năng lực đọc hiểu thuật toán và năng lực tự quản trị thời gian, sinh viên dễ bị kéo vào vòng lặp tiêu thụ nội dung cảm xúc, dẫn đến thay đổi thói quen, thay đổi ngôn ngữ và dần thay đổi hệ quy chiếu giá trị.
Cơ chế thứ hai là buồng vang. Khi nền tảng cá nhân hóa nội dung, người dùng dễ chỉ thấy những gì hợp với sở thích và quan điểm của mình. Điều này làm giảm khả năng tiếp xúc đa chiều và làm tăng nguy cơ phân cực. Trong lĩnh vực văn hóa, phân cực dễ biến thành cực đoan hóa, làm suy giảm năng lực đối thoại và làm gia tăng công kích cá nhân. Sinh viên nếu không được rèn năng lực đối thoại liên văn hóa sẽ dễ xem khác biệt là thù địch, thay vì xem khác biệt là cơ hội học hỏi.
Cơ chế thứ ba là thao túng cảm xúc. Tin giả và cắt ghép thường không hướng tới thuyết phục bằng lý lẽ, mà hướng tới kích động bằng cảm xúc. Khi cảm xúc bị kích động, khả năng suy nghĩ chậm và kiểm chứng giảm xuống. Nhiều người chia sẻ không phải vì tin, mà vì tức giận, vì sợ hãi, vì muốn đứng về phía số đông. Chính hành vi chia sẻ đó làm nội dung độc hại lan rộng. Trong các vấn đề văn hóa, thao túng cảm xúc có thể tấn công vào biểu tượng, lễ hội, nhân vật lịch sử, hoặc gây hằn thù vùng miền, từ đó làm suy yếu đoàn kết và làm rối hệ giá trị.
Cơ chế thứ tư là chuẩn mực hành vi bị tái định nghĩa bởi cộng đồng số. Nhiều chuẩn mực giao tiếp mới được hình thành trong môi trường số, trong đó sự hài hước cay độc, sự công kích, sự giễu nhại có thể được khen ngợi như thông minh. Nếu sinh viên không được định hướng giá trị và không được rèn năng lực giao tiếp văn minh, họ có thể xem lệch chuẩn như bình thường. Khi đó, văn hóa không mất trong tri thức, mà mất trong thói quen.
Dù vậy, môi trường số cũng mở ra cơ hội lớn. Văn hóa dân tộc có thể được số hóa, có thể được kể bằng hình thức hiện đại, có thể được lan tỏa qua cộng đồng và nền tảng. Sinh viên có thể trở thành người sáng tạo nội dung văn hóa, có thể biến di sản địa phương thành sản phẩm truyền thông có sức hút, có thể xây cộng đồng học tập lịch sử, có thể góp phần làm giàu tiếng Việt trên mạng. Cơ hội này chỉ trở thành hiện thực khi nhà trường thiết kế được cơ chế khuyến khích và hướng dẫn đúng.
2.6. Điều kiện chuyển hóa từ nhận thức sang hành vi
Sự chuyển hóa bền vững cần ba điều kiện. Điều kiện thứ nhất là nền tảng giá trị. Sinh viên cần tự hào đúng mực, hiểu đúng, có khả năng phân biệt giữa tiếp biến và hòa tan, giữa hiện đại hóa và thực dụng hóa, giữa đối thoại và công kích. Điều kiện thứ hai là năng lực. Sinh viên cần năng lực kiểm chứng, năng lực phản biện, năng lực tranh luận văn minh, năng lực truyền thông văn hóa và năng lực tự bảo vệ dữ liệu cá nhân. Điều kiện thứ ba là môi trường. Nhà trường cần có chương trình, có hoạt động, có truyền thông chính thống đủ nhanh, có quy tắc ứng xử và có cơ chế hỗ trợ tâm lý. Nếu thiếu môi trường, sinh viên có thể biết nhưng không làm. Nếu thiếu năng lực, sinh viên có thể nhiệt tình nhưng hành động sai. Nếu thiếu giá trị, sinh viên có thể giỏi kỹ thuật số nhưng lệch chuẩn văn hóa.
2.7. Phân tích chính sách và nút thắt triển khai
Ở cấp độ định hướng, Việt Nam có nhiều chủ trương lớn về xây dựng văn hóa và con người, về phát triển thanh niên, về giáo dục đạo đức lối sống và về quản trị không gian mạng. Tuy nhiên, nút thắt thường nằm ở cấp độ công cụ triển khai tại cơ sở giáo dục. Một số chính sách nhấn mạnh nhiệm vụ chung nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể về chuẩn năng lực văn hóa số. Một số hoạt động được giao nhiệm vụ nhưng thiếu cơ chế tài chính, thiếu học liệu số và thiếu đào tạo đội ngũ. Nhiều trường có quy tắc ứng xử nhưng chưa chuyển thành quy trình xử lý bạo lực mạng, chưa có hệ thống hỗ trợ nạn nhân, chưa có cơ chế phối hợp chặt với gia đình và nền tảng.
Một nút thắt khác là đo lường. Nếu không đo được sự thay đổi nhận thức và hành vi, can thiệp dễ trở thành phong trào ngắn hạn. Việc đo lường không nhằm kiểm soát sinh viên, mà nhằm quản trị môi trường giáo dục bằng dữ liệu, từ đó điều chỉnh nội dung và phương pháp. Thiếu đo lường còn làm giảm khả năng báo cáo kết quả và giảm khả năng duy trì nguồn lực cho chương trình.
Nút thắt tiếp theo là năng lực tổ chức truyền thông của nhà trường. Trong môi trường số, truyền thông chính thống nếu chậm, nếu khô, nếu thiếu tương tác, sẽ bị chìm. Khi đó, khoảng trống thông tin tạo cơ hội cho tin đồn, cắt ghép và suy diễn. Do vậy, nâng cao nhận thức bảo vệ văn hóa không thể tách khỏi nâng cao năng lực truyền thông số của nhà trường và của tổ chức Đoàn, Hội.
2.8. Nhóm giải pháp về nhận thức
Giải pháp đầu tiên là thống nhất khung giá trị kết hợp giá trị văn hóa dân tộc với giá trị công dân số. Sinh viên cần được giúp hiểu rằng tôn trọng sự thật, liêm chính trong chia sẻ thông tin, ứng xử nhân văn, tôn trọng khác biệt là những giá trị vừa mang bản sắc Việt Nam vừa phù hợp chuẩn mực công dân số hiện đại. Khi khung giá trị được diễn giải đúng, sinh viên sẽ tránh được cả hai thái cực. Họ không tự ti trước văn hóa ngoại lai, cũng không bài ngoại cực đoan, mà có khả năng đối thoại và tiếp biến.
Giải pháp thứ hai là chuyển trọng tâm từ khẩu hiệu giữ gìn sang thực hành văn hóa số. Mỗi hành vi như chia sẻ, bình luận, tranh luận đều là hành vi văn hóa. Sinh viên cần được giúp hình thành thói quen kiểm chứng trước khi chia sẻ, thói quen sử dụng ngôn ngữ văn minh và thói quen dừng lại khi cảm xúc bị kích động. Thói quen này không thể hình thành bằng lời kêu gọi, mà phải hình thành bằng luyện tập trong tình huống thực.
Giải pháp thứ ba là tăng cường đối thoại thay vì áp đặt. Các diễn đàn văn hóa số trong trường cần trở thành nơi sinh viên được tranh luận có dẫn chứng, được học cách bất đồng mà không xúc phạm, được học cách phản biện chính sách văn hóa hoặc vấn đề xã hội một cách văn minh. Đối thoại giúp giảm buồng vang, tăng năng lực khoan dung và tăng bản lĩnh.
2.9. Nhóm giải pháp về nội dung chương trình
Cần tích hợp nội dung văn hóa dân tộc trong không gian mạng vào các học phần liên quan đến lý luận chính trị, kỹ năng mềm hoặc giáo dục công dân. Nội dung tích hợp cần đi theo logic vấn đề, nghĩa là học văn hóa không chỉ học giá trị và di sản, mà học cách bảo vệ giá trị trong tình huống số. Sinh viên cần học về thuật toán, kinh tế chú ý, tin giả, cắt ghép, thao túng cảm xúc, pháp luật liên quan, đạo đức số và kỹ năng truyền thông văn hóa.
Cùng với nội dung, cần xây dựng chuẩn năng lực văn hóa số cho sinh viên. Chuẩn năng lực phải mô tả được mức tối thiểu sinh viên cần đạt ở năng lực nhận diện nội dung phản văn hóa, năng lực kiểm chứng, năng lực đối thoại, năng lực sáng tạo nội dung tích cực và năng lực tham gia cộng đồng. Chuẩn năng lực phải đo được để có thể triển khai đánh giá và cải tiến.
Việc đánh giá trong học phần cần đổi mới theo hướng đánh giá năng lực và sản phẩm. Khi sinh viên làm một sản phẩm như video giới thiệu di sản, podcast về lịch sử địa phương, bộ hướng dẫn kiểm chứng tin giả về văn hóa, họ vừa học tri thức văn hóa vừa học kỹ năng truyền thông, đồng thời chuyển hóa thành hành vi tích cực. Sản phẩm số cũng tạo nguồn học liệu cho khóa sau, tạo tính bền vững.
2.10. Nhóm giải pháp về phương pháp tổ chức
Phương pháp tổ chức cần chuyển từ tuyên truyền một chiều sang học tập trải nghiệm và học theo dự án. Sinh viên cần được tham gia dự án số hóa di sản địa phương, dự án kiểm chứng tin giả về văn hóa, dự án lan tỏa tiếng Việt đẹp, dự án xây dựng bộ quy tắc ứng xử văn minh cho cộng đồng sinh viên. Các dự án nên gắn với khoa chuyên môn, nghĩa là sinh viên công nghệ có thể làm sản phẩm số hóa, sinh viên truyền thông có thể làm chiến dịch nội dung, sinh viên xã hội học có thể làm khảo sát nhận thức, sinh viên sư phạm có thể thiết kế học liệu.
Cần phát triển mô hình câu lạc bộ công dân số và văn hóa số trong trường. Câu lạc bộ này không chỉ tổ chức phong trào, mà huấn luyện kỹ năng, tạo nhóm nòng cốt và làm nhiệm vụ lan tỏa. Nhóm nòng cốt có thể hỗ trợ bạn học khi bị bạo lực mạng, hỗ trợ kiểm chứng thông tin và hỗ trợ nhà trường trong truyền thông chính thống.
Truyền thông nhà trường cần thích ứng với nhịp độ nền tảng. Điều này không có nghĩa chạy theo giật gân, mà là kể chuyện hấp dẫn, ngắn gọn, có chuỗi nội dung, có tương tác, có phản hồi. Nhà trường cần xây dựng kênh chính thống có uy tín, có người phụ trách chuyên môn, có khả năng phản hồi nhanh trước tin đồn, và có khả năng dẫn dắt thảo luận theo hướng văn minh.
Nhà trường cần có kịch bản xử lý khủng hoảng văn hóa số. Khi có một vụ việc văn hóa gây tranh cãi, nhà trường cần cơ chế xác minh, cơ chế phát ngôn, cơ chế hướng dẫn sinh viên ứng xử, cơ chế hỗ trợ tâm lý cho người bị tấn công. Nếu nhà trường im lặng quá lâu, khoảng trống thông tin sẽ bị lấp bằng suy diễn. Nếu nhà trường phản ứng thiếu căn cứ, sẽ mất uy tín. Vì vậy cần kịch bản được chuẩn hóa và được tập huấn.
2.11. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách và hệ sinh thái
Cần thiết kế cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội và nền tảng số. Gia đình có vai trò định hướng nề nếp, giá trị, thói quen. Nhà trường có vai trò giáo dục, rèn năng lực và tổ chức môi trường. Xã hội bao gồm cơ quan văn hóa, bảo tàng, thư viện, báo chí, nhà xuất bản, các tổ chức nghề nghiệp có vai trò cung cấp học liệu và không gian trải nghiệm. Nền tảng số có vai trò cung cấp công cụ báo cáo nội dung độc hại, hỗ trợ chiến dịch giáo dục và tạo điều kiện ưu tiên nội dung tích cực. Khi phối hợp được thiết kế thành quy trình, hiệu quả sẽ cao hơn phối hợp mang tính khẩu hiệu.
Nhà trường cần ban hành và thực thi quy tắc ứng xử trên mạng trong phạm vi trường. Quy tắc cần gắn với cơ chế thực thi, nghĩa là có hướng dẫn, có tư vấn, có xử lý và có hỗ trợ. Mục tiêu không phải trừng phạt, mà là giáo dục và phòng ngừa. Khi sinh viên bị bạo lực mạng, nhà trường cần kênh hỗ trợ và tư vấn, tránh để sinh viên tự chịu đựng dẫn tới khủng hoảng tinh thần.
Cần xây dựng bộ công cụ đo lường định kỳ để quản trị bằng dữ liệu. Bộ công cụ có thể đo kiến thức văn hóa, đo hiểu biết về tin giả, đo thói quen kiểm chứng, đo mức độ tham gia nội dung tích cực, đo mức độ trải nghiệm bạo lực mạng và đo mức độ sẵn sàng đối thoại. Dữ liệu giúp nhà trường biết nhóm nào cần hỗ trợ, khoa nào cần tăng can thiệp, nội dung nào cần cải tiến.
Đội ngũ giảng viên và cán bộ Đoàn, Hội cần được tập huấn về truyền thông số, quản trị cộng đồng, xử lý khủng hoảng và tổ chức học theo dự án. Nếu đội ngũ thiếu năng lực số, các giải pháp sẽ khó triển khai vì khoảng cách thế hệ và khoảng cách kỹ năng.
Cuối cùng cần có cơ chế khuyến khích và ghi nhận. Sinh viên làm sản phẩm văn hóa số cần được ghi nhận bằng điểm rèn luyện, học bổng, giải thưởng hoặc công nhận học thuật. Khi có ghi nhận, phong trào mới bền vững và sản phẩm mới có chất lượng.
2.12. Mô hình triển khai tại trường đại học
Để tăng tính khả thi, bài viết đề xuất mô hình triển khai theo chu kỳ một năm học. Giai đoạn đầu là đo lường đầu vào bằng khảo sát ngắn để biết mức độ hiểu biết văn hóa, thói quen sử dụng mạng, thói quen kiểm chứng và trải nghiệm bạo lực mạng. Giai đoạn hai là xây dựng học liệu số dựa trên tình huống thật, gồm các trường hợp tin giả về lễ hội, cắt ghép về biểu tượng, tranh cãi về ngôn ngữ thù ghét, tranh luận về tiếp biến. Học liệu được thiết kế thành tình huống để sinh viên phân tích và tranh luận. Giai đoạn ba là tích hợp học liệu vào học phần liên quan, tổ chức học theo dự án trong bốn đến sáu tuần để sinh viên tạo sản phẩm. Giai đoạn bốn là lan tỏa sản phẩm qua kênh truyền thông nhà trường và cộng đồng. Giai đoạn năm là tổ chức diễn đàn đối thoại, nơi sinh viên trình bày sản phẩm, nhận phản biện và học cách tranh luận văn minh. Giai đoạn sáu là đo lường lại chỉ số và đánh giá trước sau, từ đó rút kinh nghiệm và cập nhật học liệu.
2.13. Bộ chỉ số đo lường nhận thức và hành vi văn hóa số
Bộ chỉ số đo lường cần bao quát bốn phần. Phần tri thức đo hiểu biết về giá trị cốt lõi, biểu tượng văn hóa, kiến thức về tin giả và cơ chế thuật toán. Phần thái độ đo mức độ tự hào đúng mực, mức độ sẵn sàng bảo vệ giá trị, mức độ sẵn sàng đối thoại và mức độ phản đối nội dung phản văn hóa. Phần năng lực đo kỹ năng kiểm chứng, kỹ năng nhận diện thao túng, kỹ năng lập luận dựa trên bằng chứng, kỹ năng ứng xử văn minh và kỹ năng bảo vệ dữ liệu. Phần hành vi đo tần suất kiểm chứng trước khi chia sẻ, mức độ tham gia nội dung tích cực, mức độ báo cáo nội dung độc hại, mức độ tham gia cộng đồng và mức độ tránh bạo lực mạng. Bộ chỉ số nên được thực hiện định kỳ để theo dõi xu hướng và đánh giá tác động can thiệp.
3. Kết luận và kiến nghị
Không gian mạng vừa là cơ hội lan tỏa sức mạnh mềm văn hóa dân tộc, vừa là môi trường gia tăng rủi ro bào mòn nhận thức do tác động của thuật toán, buồng vang và thao túng cảm xúc. Bảo vệ nền tảng văn hóa dân tộc cho sinh viên trong bối cảnh số không thể chỉ dựa vào tuyên truyền một chiều mà cần xây dựng năng lực văn hóa số gắn với công dân số, đồng thời thiết kế môi trường giáo dục, truyền thông và chính sách đủ mạnh để chuyển hóa nhận thức thành hành vi.
Bài viết đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ cấu trúc nhận thức và cơ chế tác động của môi trường số, chỉ ra khoảng trống triển khai trong giáo dục đại học và đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ theo bốn hướng nhận thức, nội dung chương trình, phương pháp tổ chức, cơ chế chính sách. Bài viết cũng đề xuất mô hình triển khai theo chu kỳ một năm học và bộ chỉ số đo lường để quản trị dựa trên dữ liệu.
Kiến nghị đối với cơ sở giáo dục đại học là tích hợp nội dung văn hóa trong không gian mạng vào học phần liên quan, đổi mới phương pháp theo dự án và sản phẩm, xây dựng kênh truyền thông chính thống có năng lực phản hồi nhanh, ban hành quy tắc ứng xử trên mạng gắn với hỗ trợ tâm lý, triển khai đo lường định kỳ và thiết kế cơ chế ghi nhận sản phẩm văn hóa số. Kiến nghị đối với các cơ quan liên quan là tăng hỗ trợ học liệu số, tăng liên kết nhà trường với thiết chế văn hóa như bảo tàng, thư viện, tăng phối hợp với nền tảng số để hỗ trợ nội dung tích cực và tăng khả năng báo cáo nội dung độc hại.
Hạn chế của nghiên cứu là chưa có khảo sát định lượng diện rộng và chưa có thực nghiệm đối chứng, do đó các nghiên cứu tiếp theo cần xây dựng thang đo chuẩn hóa về năng lực đề kháng văn hóa số, thực nghiệm can thiệp theo nhóm đối chứng, nghiên cứu khác biệt theo ngành học, vùng miền và năm học để nâng cao độ tin cậy và tính khuyến nghị chính sách.
Tài liệu tham khảo
1. Boyd, d. (2014). It’s complicated: The social lives of networked teens. Yale University Press.
2. Buckingham, D. (2003). Media education: Literacy, learning and contemporary culture. Polity Press.
3. Castells, M. (2010). The rise of the network society (2nd ed.). Wiley-Blackwell.
4. Sunstein, C. R. (2001). Republic.com. Princeton University Press.
5. UNESCO. (2005). Convention on the Protection and Promotion of the Diversity of Cultural Expressions. UNESCO.
6. ttps://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000148673
7. UNESCO. (2013). Guidelines for policy and strategy development on media and information literacy. UNESCO.
8. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000224652
9. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
10. Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (2018). Luật An ninh mạng (số 24/2018/QH14). Văn bản pháp luật.
11. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 1–12). Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
12. Nguyen, A. T., & Do, Q. H. (2020). Information disorder and polarization in social media: Challenges and strategies. Journal of Communication Studies, 28(2), 45–62.
(Bài viết có sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ kỹ thuật trình bày; tác giả chịu trách nhiệm toàn bộ nội dung.)