NGHIÊN CỨU NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC CỦA ĐẢNG
VÀ VIỆC THỰC HIỆN TRONG 80 NĂM (1945-2025)
NGUT.PGS.TS. Nghiêm Đình Vỳ,
Nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
1. Đặt vấn đề
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặc biệt quan tâm đến giáo dục. Từ khi giành được chính quyền đến nay, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về giáo dục và đào tạo. Đây chính là lĩnh vực gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội, với đời sống tinh thần, trí tuệ và hạnh phúc phát triển toàn diện con người. Đường lối của Đảng về Giáo dục có mấy quan điểm cốt lõi :Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân; Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển; Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội.
Đường lối giáo dục của Đảng được khẳng định trong các đại hội Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và nhiều Nghị quyết quan trọng. Bài viết này chỉ là sự hệ thống những nội dung chính về đường lối phát triển Giáo dục xuyên suốt 80 năm, để thấy đây là nguyên nhân thành công của giáo dục Việt Nam, là thành tựu Giáo dục mang bản sắc hoàn toàn của Việt Nam.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đạo tạo trong giai đoạn 1945 đến 1954
Trong 2 năm đầu của Chính quyền Cách mạng, vận mệnh dân tộc được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chủ trương diệt “Giặc đói, Giặc dốt, Giặc ngoại xâm”. Coi Giáo dục là quốc sách hàng đầu ngang hàng với các nhiệm vụ chống Giặc đói và chống Giặc ngoại xâm. Bước vào cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược, Đảng và Chính phủ đã đề ra chủ trương xây dựng nền giáo dục kháng chiến và kiến quốc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 8-9-1945 Chính phủ đã ban hành ba sắc lệnh về chống nạn thất học. Tháng 1-1946, Nha Bình dân học vụ hướng dẫn tiêu chuẩn công nhận người biết chữ (người học phải viết được một bài chính tả 40 - 50 từ, đọc được một bài chữ in và chữ số từ 1 đến 1.000) và cấp giấy chứng nhận cho người thi đạt yêu cầu. Tháng 2-1946, Đảng, Chính phủ chỉ đạo các tỉnh rút kinh nghiệm, mở đợt tuyên truyền cổ động mới, huấn luyện thêm giáo viên và phát động khóa hai. Ngày 10-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệch số 146, khẳng định ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục mới, đó là: đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa. Sắc lệnh số 147 ấn định những điều khoản pháp lý để thực hiện Sắc lệnh số 146, các môn học đều dạy bằng Tiếng Việt, kể từ năm 1950 trở đi tất cả trẻ em từ 7 đến 13 tuổi đều có thể vào các trường học. Nhà giáo được đặc biệt quan tâm và tiến hành đổi mới cách dạy, cách học và cách quản lý.
Tháng 4-1947, Trung ương ra Nghị quyết về giáo dục với nội dung: "Chương trình học phải thiết thực, nhằm mục đích đào tạo nhân tài, cần dùng cho kháng chiến trước hết, về tất cả các ngành y tế, canh nông, quân giới cũng như thương mại, ngoại giao, v.v.. Học sinh phải vừa học, vừa tham gia sản xuất, để tự túc tự cấp một phần nào, v.v.. Tiếp tục phát triển bình dân học vụ. Chú ý mở trường ở các vùng quốc dân thiểu số". Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gấp rút mở thêm một số trường phổ thông, mở hội nghị bàn về sửa đổi chương trình, cải tổ lại hệ thống trường học, chuẩn bị cho cuộc cải cách giáo dục.
Đầu năm 1950, Trung ương chủ trương tiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất, xây dựng hệ thống giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm cả trong vùng tự do và vùng tạm chiếm. Nền giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là của dân, do dân, vì dân; bảo đảm nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng phục vụ lợi ích của nhân dân Việt Nam, đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập và ruộng đất cho dân cày. Tháng 6-1950, Bộ Giáo dục tổ chức Hội nghị giáo dục bàn về cải cách giáo dục.
Tháng 2-1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II được tổ chức, trong Chính cương của Đảng đã xác định phương hướng nhiệm vụ đào tạo con người mới: "Để đào tạo con người mới và cán bộ mới và để đẩy mạnh kháng chiến kiến quốc phải bài trừ những di tích văn hóa giáo dục thực dân và phong kiến, phát triển nền văn hóa giáo dục có tính chất dân tộc khoa học đại chúng". Trong Chính cương cũng đề ra nhiệm vụ chủ đạo của giáo dục là thủ tiêu nạn mù chữ, cải cách chế độ giáo dục, mở các trường chuyên nghiệp. Nhờ đường lối phát triển giáo dục đúng đắn mà kết quả giáo dục đã đạt được những thành tựu quan trọng.
Thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, đến năm 1954, cùng với nhiệm vụ kháng chiến chúng ta đã xây dựng được mạng lưới giáo dục cách mạng trong vùng giải phóng. Đó là vốn liếng vô cùng quý báu làm cơ sở cho việc xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.
2.2. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đạo tạo trong giai đoạn 1954 đến 1975
Sau khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tạm thời bị chia cắt, trong tình hình ấy nhiệm vụ cách mạng mới đã đặt ra cho nền giáo dục phải có sự thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử.
Năm 1956, Đảng ta quyết định tiến hành cải cách giáo dục lần thứ hai. Tháng 3-1956, Đại hội giáo dục toàn quốc họp bàn triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa II. Đại hội thông qua đề án do Bộ Giáo dục dự thảo về việc sáp nhập hai hệ thống giáo dục 9 năm ở vùng tự do và 12 năm ở vùng giải phóng và xây dựng hệ thống giáo dục 10 năm cho hệ phổ thông theo tính chất xã hội chủ nghĩa (chưa kể lớp vỡ lòng) lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng nhằm phục vụ nhân dân lao động.
Ngày 1-2-1958, Ban lãnh đạo Trung ương thanh toán nạn mù chữ ra Lời kêu gọi đồng bào tham gia phong trào diệt dốt. Tháng 3-1958, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 72-CT/TW về Tăng cường lãnh đạo công tác bình dân học vụ để hoàn thành thanh toán nạn mù chữ vào cuối năm 1958.
Ngay sau đó, Trung ương Đảng đã chỉ đạo các địa phương mở Đại hội thi đua diệt dốt, với những tên gọi đầy ý nghĩa như "Diên Hồng diệt dốt" của phụ lão, "Trưng Triệu diệt dốt" của phụ nữ, "Thanh niên xuất quân diệt dốt" của thanh niên,... Các khẩu hiệu vận động đều gắn phong trào bổ túc văn hóa với nhiệm vụ trọng tâm ở địa phương như: "Lúa xanh tươi, người biết chữ", "Sản xuất tốt, diệt dốt thành công",... Trong đại hội các cấp có những cuộc thách thức thi đua diệt dốt sôi nổi giữa các tỉnh, các huyện, các xã, các ngành, giới,... rồi những cuộc tham quan học tập kinh nghiệm, những cuộc kiểm tra chéo lẫn nhau.
Tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã xác định phương hướng phát triển giáo dục theo quy mô lớn, bồi dưỡng thế hệ trẻ phát triển toàn diện để xây dựng xã hội mới. Báo cáo chính trị tại Đại hội đã đánh giá cao thành tựu của giáo dục và xác định công tác giáo dục văn hóa phải được phát triển theo quy mô lớn và phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng của Đảng.
Cần nói đến một Chỉ thị giáo dục ở miền Nam. Tháng 8-1968 Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị số 22/CT đánh giá những đóng góp to lớn của nền giáo dục giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục cách mạng đối với cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam. Sau khi có Chỉ thị, phong trào giáo dục ở miền Nam được củng cố và phát triển, nhất là sau khi Hiệp định Pari được ký kết (ngày 27-1-1973). Đến cuối năm 1974 số học sinh đã tăng lên hơn hai lần so với năm 1972.
2.3. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đạo tạo trong giai đoạn 1975 đến 1986
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc – kỷ nguyên hòa bình, thống nhất đất nước. Tuy vậy, giai đoạn 10 năm sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, dân tộc ta một lần nữa đứng trước những khó khăn, thử thách cực lớn của lịch sử. Bên ngoài là sự bao vây, cấm vận toàn phần của Mỹ và nhiều quốc gia đối lập; cùng với đó là sự cắt viện trợ của các nước bạn bè truyền thống. Bên trong là sự chống phá điên cuồng của các nhóm Ngụy quân, Ngụy quyền và các thế lực thù địch mới bị tan rã nhưng vẫn còn ngoan cố; sự kiệt quệ của nền kinh tế và hậu quả nặng nề sau chiến tranh. Đây cũng là thời điểm nổ ra cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc vô cùng khốc liệt. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ năng lực và bản lĩnh để lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những khó khăn không kém gì “ngàn cân treo sợi tóc” như vậy. Trong bối cảnh đó, giáo dục vẫn đứng vững, vẫn tìm cơ hội để phát triển.
Sau ngày 30-4-1975, nhất là từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cả nước tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhờ chủ trương mở rộng mạng lưới các trường bổ túc văn hóa tập trung và tại chức nên đại bộ phận cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và cấp huyện đã nhanh chóng đạt được trình độ văn hóa cấp II.
Đứng trước những yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, tháng 1-1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục. Sau hai năm thực hiện cải cách, tuy đã đạt được một số kết quả, nhưng giáo dục vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém.
Năm 1981, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã đánh giá: "Vấn đề lớn nhất hiện nay là chất lượng giáo dục giảm sút nghiêm trọng. Không những chúng ta để giảm sút chất lượng văn hóa, khoa học - kỹ thuật mà còn buông lỏng việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng và đạo đức xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ". Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: "Nhiệm vụ trong những năm tới là triển khai cải cách giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục một cách tích cực và vững chắc theo bước đi phù hợp với yêu cầu và khả năng của nền kinh tế quốc dân và phải ra sức phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục, coi trọng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Ở miền Nam và miền núi, đi đôi với mặt chất lượng phải rất chú trọng phát triển về số lượng trường lớp, nhất là ở bậc phổ thông, đồng thời không xem nhẹ công tác bổ túc văn hóa và xóa mù chữ... Củng cố và phát triển giáo dục mầm non, hoàn thành cơ bản phổ cập cấp I, phát triển tích cực, vững chắc và từng bước tiến tới phổ cập cấp II. Mở rộng loại trường phổ thông trung học vừa học vừa làm. Chấn chỉnh mạng lưới các trường dạy nghề, mở rộng nhiều hình thức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công nhân là lao động kỹ thuật cho các ngành công nghiệp cũng như cho các ngành nông nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp. Sắp xếp hợp lý mạng lưới các trường trung học chuyên nghiệp; các trường đại học, đặc biệt quan tâm củng cố và nâng cao chất lượng các trường sư phạm".
Thực hiện đường lối của Đảng, cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba đã đạt được một số thành tựu ban đầu. Đặc biệt, đã xây dựng được hệ thống giáo dục thống nhất trong toàn quốc, bước đầu tạo cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
2.4. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đạo tạo trong giai đoạn 1986 đến nay
Đây là giai đoạn mà tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến mang tính bước ngoặt lịch sử. Những năm cuối thế kỷ XX, mô hình CNXH truyền thống ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, tác động lên cả hệ thống XHCN lúc bấy giờ. Nền giáo dục XHCN ở nước ta cũng như các nước XHCN khác lâm vào tình trạng hoài nghi về mục tiêu, lý tưởng. Trước tình hình đó, Đảng đã kịp thời ban hành các nghị quyết định hướng cho nền giáo dục tiếp tục phát triển.
Bước vào đầu thế kỷ XX, khi xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế nổi lên, Việt Nam gia nhập WTO, ký Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATS. Theo đó, giáo dục được công nhận là một dịch vụ. Đây là một bước ngoặt lớn có tác động mạnh đến tư duy truyền thống của các nhà giáo dục Việt Nam. Trong nội bộ ngành giáo dục đã xuất hiện các khuynh hướng quan điểm khác nhau về việc công nhận giáo dục là một dịch vụ. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã nhanh chóng kết luận và ban hành các văn bản định hướng tiếp tục xây dựng nền giáo dục XHCN tiên tiến, đậm đã bản sắc dân tộc trong tình hình mới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đưa ra đường lối đổi mới. Văn kiện Đại hội đã xác định mục tiêu của giáo dục là hình thành và phát triển toàn diện nhân cách. Ở trường phổ thông dạy kiến thức phổ thông cơ bản, giáo dục lao động, kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông. Cơ cấu hệ thống giáo dục thống nhất trong sự đa dạng: có chính quy và không chính quy, có tập trung và tại chức. Đồng thời đã điều chỉnh một số nội dung và chỉ tiêu của cải cách giáo dục: hoàn thành cơ bản phổ cập cấp I cho trẻ em, phổ cập cấp II ở những nơi có điều kiện, từng bước mở rộng giáo dục phổ thông trung học bằng nhiều hình thức. Mở rộng và củng cố các trường, lớp dạy nghề. Kế hoạch phát triển giáo dục phải gắn bó với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, phải trực tiếp góp phần đổi mới quản lý kinh tế - xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đã đề ra nhiệm vụ chủ yếu của ngành Giáo dục là: Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Về nhiệm vụ của giáo dục trong thời kỳ 1991 - 1995, Đại hội xác định: hiện đại hóa một bước nội dung, phương pháp giáo dục; dân chủ hóa nhà trường và quản lý giáo dục; đa dạng hóa loại hình đào tạo và loại hình trường lớp, từng bước hình thành những trường bán công, dân lập, tư thục...Đại hội quyết định tập trung thực hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ; phát triển cấp II, cấp III phù hợp với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế; mở rộng hợp lý quy mô đào tạo đại học.
Tháng 4-1996, Đại hội lần thứ VIII của Đảng được tổ chức nhằm quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Đại hội đặt vấn đề tổng kết cải cách giáo dục, xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Tháng 12-1996, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ hai khóa VIII đã đề ra Nghị quyết Trung ương "Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000".
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ hai khóa VIII đã tiếp thêm sức mạnh để ngành giáo dục - đào tạo đạt những kết quả quan trọng. Ngày 28-12-2000, Việt Nam tuyên bố với thế giới đã hoàn thành công cuộc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học với hơn 94% người biết chữ. Hơn 90% trẻ em 14 tuổi tốt nghiệp bậc tiểu học. Đây là thành tựu to lớn của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để tiếp tục phát huy khí thế và kết quả 10 năm xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học,
Tháng 4-2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng được tổ chức, Đại hội đã khẳng định thành tựu của giáo dục: "Giáo dục và đào tạo phát triển về quy mô và cơ sở vật chất. Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên. Nước ta đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học". Đại hội cũng chỉ ra một số khuyết điểm và yếu kém của giáo dục, đó là: "Chất lượng giáo dục và đào tạo thấp so với yêu cầu. Mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, sách giáo khoa, thi cử, cơ cấu đào tạo, trình độ quản lý có nhiều thiếu sót; trong giáo dục và đào tạo có những hiện tượng tiêu cực đáng lo ngại. Đào tạo chưa gắn với sử dụng, gây lãng phí. Chi phí học tập cao so với khả năng thu nhập của dân, nhất là của người nghèo. Giáo dục và đào tạo ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn".
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng chủ trương: Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Ngày 5-3-2009, Bộ Chính trị (khóa X) đã họp và ra Thông báo Kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương hai (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2020. Giáo dục nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng, về cơ bản đã thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ được nêu trong Nghị quyết Trung ương 2 và Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX). Với mục tiêu đến năm 2020, nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, lành mạnh, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, cần thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục. Trong đó có việc đã thực hiện tốt việc đưa cán bộ, học sinh, sinh viên có đạo đức và triển vọng đi đào tạo ở nước ngoài, chú trọng các ngành mà đất nước có nhu cầu bức thiết; đồng thời tăng cường quản lý việc học tập, sinh hoạt của lưu học sinh.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng chỉ rõ cần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo. Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội.
Ngày 4-11-2013, Đảng đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Quan điểm chỉ đạo là: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội; Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng; Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo; Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo; Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.
Trung ương khóa XII, Ban Bí thư ra Kết luận số 51 ngày 30/5/2019 về tiếp tục thực Nghị quyết 29-NQ/TW như sau: Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt kết quả bước đầu quan trọng. Giáo dục mầm non đạt chuẩn phổ cập cho trẻ em 5 tuổi; giáo dục phổ thông có chuyển biến tốt hơn, được thế giới công nhận. Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và xóa mù chữ được duy trì vững chắc. Quy mô giáo dục nghề nghiệp ngày càng tăng, chất lượng được cải thiện. Quản lý, quản trị đại học có chuyển biến tích cực; chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng cao; số công trình khoa học được công bố trong nước và quốc tế tăng mạnh. Nhiều cơ sơ giáo dục ngoài công lập có bước phát triển khá cả về quy mô và chất lượng. Ngành Giáo dục và Đào tạo đã thể hiện quyết tâm đổi mới, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới công tác quản lý; đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông.Tuy nhiên, chất lượng giáo dục ở các bậc học chưa cải thiện đáng kể. Năng lực hội nhập quốc tế của hệ thống giáo chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Một bộ phận nhà giáo chất lượng thấp, số ít nhà giáo vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cơ cấu đội ngũ nhà giáo có nơi chưa hợp lý, thừa thiếu cục bộ, nhất là thiếu giáo viên mầm non. Công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Một số tiêu cực trong giáo dục chưa được giải quyết tốt gây bức xúc, lo lắng trong nhân dân.
Bộ Chính trị khóa XIII, ngày 12/8/2024, ra Kết luận số 91 tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, trong đó khẳng định Sau 10 năm triển khai thực hiện giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; duy trì vững chắc, từng bước nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; giáo dục phổ thông chuyển hướng tích cực từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học; chất lượng giáo dục phổ thông đại trà và mũi nhọn ngày càng nâng cao.
Giáo dục thường xuyên phát triển đa dạng về nội dung và hình thức; các phong trào thi đua học tập, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được quan tâm thực hiện.
Giáo dục nghề nghiệp đã phát triển mạnh về số lượng và chú trọng nâng cao chất lượng từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động.
Giáo dục đại học tiếp tục đổi mới, gắn với tăng cường tự chủ đã tạo ra động lực mới, tạo chuyển biến mạnh về chất lượng, hiệu quả trong đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học; số lượng chương trình đào tạo được kiểm định và công bố khoa học quốc tế tăng mạnh, một số cơ sở giáo dục đại học và nhóm ngành đào tạo được xếp hạng cao trong khu vực và thế giới.
Phương pháp dạy - học và công tác thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục được đổi mới theo hướng hiện đại, ngày càng thực chất, hiệu quả hơn. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cơ bản được chuẩn hoá, từng bước bảo đảm số lượng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được cải thiện, bước đầu đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW còn một số hạn chế, bất cập; việc thể chế hoá một số nội dung của Nghị quyết thành chính sách, pháp luật phục vụ đổi mới giáo dục và đào tạo, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học chậm được ban hành; việc thực hiện tự chủ trong các cơ sở giáo dục, đào tạo, triển khai chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới còn gặp nhiều khó khăn; liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở còn bất cập.
Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học chưa thực sự gắn với thị trường lao động, chưa đáp ứng yêu cầu nhân lực cho các ngành kinh tế mới, công nghệ cao; trình độ ngoại ngữ, trong đó có tiếng Anh chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục còn bất cập; tỉ lệ phòng học chưa kiên cố hoá còn cao, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu, nhất là ở khu vực miền núi, khu công nghiệp, khu vực đông dân cư.
3. Kết luận
Trải qua 80 năm, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã vượt qua những bước thăng trầm khác nhau, nhưng xu hướng chung là phát triển đi lên. Mọi thành tựu của giáo dục trong 80 năm qua gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng. Đảng coi Giáo dục và đào tạo là nền tảng, trụ cột của xã hội, có vai trò quyết định tương lai của dân tộc. Đảng lãnh đạo toàn diện, phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị và toàn xã hội cho phát triển giáo dục và đào tạo.
Giờ đây chúng ta tin tưởng Đảng sẽ chỉ đạo Nhà nước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và có cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, đột phá cho phát triển giáo dục và đào tạo; Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chuẩn mực, sáng tạo, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới; Thực hiện chuyển đổi số toàn diện, phổ cập, phát triển và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo; Tập trung đầu tư cơ sở vật chất đạt chuẩn, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường phổ thông và mầm non; Hiện đại hóa giáo dục đại học, đột phá phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt phát triển khoa học và công nghệ; Tập trung cải cách, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên, đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. Phấn đấu đến năm 2045, hệ thống giáo dục phát triển vượt bậc về quy mô và chất lượng, đáp ứng nhu cầu học tập của người dân và yêu cầu nhân lực của nền kinh tế. Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có hệ thống giáo dục phổ thông và nhóm 20 quốc gia có hệ thống giáo dục đại học hàng đầu thế giới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 (các tập có liên quan đến nội dung bài viết)
2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 (các tập có liên quan đến nội dung bài viết)
3. Nghị quyết số 29-NQ/TW"Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế"
4. Lịch sử 80 năm ngành Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930 - 2010 H, Nxb Chính trị quốc gia, 2010
5. Phan Ngọc Liên, Hồ Chí Minh về Giáo dục, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.2007.