Hà Thị Tường Vy -
803/58/35b Huỳnh Tấn Phát, phường Phú Thuận, TP. HCM
Email: [email protected]
Tóm tắt: Người kể chuyện là nhân tố giữ vai trò trọng yếu trong mọi tác phẩm tự sự. Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, học sinh đã được làm quen với nhân tố này ở lớp 6, nhưng ở cả ba bộ sách SGK hiện hành, vai trò của người kể chuyện vẫn chưa thực sự được làm rõ. Bài viết này sẽ cung cấp thêm một số kiến thức về người kể chuyện, đặc biệt đào sâu vai trò mang tính trung gian của nó: kết nối tác giả và độc giả – chủ thể sáng tạo và tiếp nhận bên ngoài văn bản – vào thế giới bên trong văn bản, qua đó gián tiếp tạo ra sự giao tiếp giữa hai chủ thể trên trong một chu trình viết – đọc hoàn chỉnh.
Từ khoá: Lý luận văn học, Người kể chuyện, Tác giả, Độc giả.
Ngày nhận: 10/9/2025; Biên tập: 11/9/2025; Duyệt đăng: 11/9/2025
1. Đặt vấn đề
Người kể chuyện là vấn đề đã được mổ xẻ từ lâu và hãy còn gây nhiều tranh cãi trong cộng đồng nghiên cứu lý luận văn học. Khi được đưa vào SGK, vấn đề này đã được trình bày lại một cách sơ lược để đối tượng học sinh lớp 6 có thể tiếp cận một cách dễ dàng nhất. Dù vậy, việc hiểu rõ về vai trò của người kể chuyện, đặc biệt là vị trí của anh ta trong chu trình sáng tác – tiếp nhận văn học vẫn là điều cần thiết không chỉ đối với người giảng dạy, mà còn đối với những học sinh có nhu cầu đào sâu, mở rộng để thật sự nắm bắt được nhân tố phức tạp nhưng cũng rất thú vị này
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Định nghĩa người kể chuyện trong các bộ SGK hiện hành
Ở trường phổ thông, khi học cách khám phá, chiếm lĩnh một tác phẩm tự sự, bên cạnh những đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật,… người kể chuyện là một trong những nhân tố đầu tiên mà học sinh lớp 6 bắt buộc phải làm quen. Một trong những kiến thức Văn học được liệt kê trong phần Nội dung giáo dục lớp 6, Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT–BGĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) là “lời người kể chuyện và lời nhân vật”, “người kể chuyện ngôi thứ nhất và người kể chuyện ngôi thứ ba” [1]. Theo đó, các nhóm tác giả của cả ba bộ SGK hiện hành đều giới thiệu khái niệm này cho học sinh ngay từ những bài đầu tiên của sách Ngữ văn 6, tập 1 – sự giới thiệu ấy có đôi chỗ khác nhau nhưng đều đảm bảo học sinh có thể dễ dàng nhận diện và phân biệt các loại hình người kể chuyện.
SGK Ngữ văn 6 tập 1 bộ Cánh diều không đề cập đến khái niệm chung của người kể chuyện mà trực tiếp làm rõ khái niệm người kể ngôi thứ nhất và người kể ngôi thứ ba: “Người kể ngôi thứ nhất trong truyện hoặc kí thường xưng “tôi”, trực tiếp thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, tình cảm của mình […] Người kể ngôi thứ ba là người ngoài cuộc, không tham gia câu chuyện, nhưng biết hết mọi việc, vì vậy có thể kể lại một cách tự do, linh hoạt toàn bộ những gì đã diễn ra” [2]. Hai cuốn SGK Ngữ văn 6 tập 1 bộ Chân trời sáng tạo lẫn Kết nối tri thức với cuộc sống cũng chủ yếu nói về người kể chuyện ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, nhưng trước khi đi vào hai khái niệm này đều ghi một câu định nghĩa sơ bộ tương đối giống nhau về người kể chuyện (dĩ nhiên với diễn đạt rất dễ hiểu, phù hợp với đối tượng học sinh lớp 6): “Người kể chuyện là vai do tác giả tạo ra để kể các sự việc” [3]; “Người kể chuyện là nhân vật do nhà văn tạo ra để kể lại câu chuyện” [4].
Có thể thấy, cả hai khái niệm mà hai bộ SGK trên sử dụng (mà thực chất gần như là một) đều định nghĩa người kể chuyện bằng cách xác định mối quan hệ đặc thù của anh ta với tác giả. Đây là một cách tiếp cận đúng đắn, bởi người kể chuyện không bao giờ chỉ đứng riêng một mình nó, mà luôn là một bộ phận hợp thành của quá trình giao tiếp nghệ thuật, gồm hoạt động phát (sáng tác) của tác giả và hoạt động nhận (tiếp nhận) của độc giả, thông qua phương tiện giao tiếp là thế giới hư cấu được dựng nên từ ngôn ngữ nghệ thuật. Vì thế, vai trò của người kể chuyện cũng không thể được nhìn nhận một cách khép kín, mà phải được đặt trong mối quan hệ với tác giả và với người đọc: là một thành tố thuộc và chỉ thuộc về thế giới hư cấu của tác phẩm, nó có vai trò kết nối giữa hai thế giới hư cấu (trong tác phẩm) với hiện thực (ngoài tác phẩm), đồng thời là một cây cầu quan trọng bắc từ sáng tác văn học đến tiếp nhận văn học.
2.2. Mối quan hệ giữa người kể chuyện với tác giả
Quay trở lại với mối quan hệ giữa người kể chuyện và người viết – mối quan hệ định hình nên khái niệm người kể chuyện, cần làm rõ sự “thống nhất nhưng không đồng nhất” giữa hai chủ thể này. Bởi thông thường, rất nhiều học sinh vẫn gặp lúng túng khi phân biệt chúng – các em thường nhầm lẫn rằng người kể chuyện chính là tác giả của câu chuyện, đặc biệt đối với những tác phẩm tự sự được viết theo ngôi thứ nhất và có ít nhiều tính chất tiểu sử. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phân biệt giữa người kể chuyện và tác giả là rất rõ ràng, như W. Kayser đã nói: “Người kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay chưa từng được biết đến, mà là một vai trò được tác giả nghĩ ra và ước định” [5]. Nói cách khác, tác giả bằng xương bằng thịt luôn luôn đứng ngoài thế giới hư cấu của tác phẩm: anh ta luôn thuộc về “hiện thực”. Để đưa bản thân vào “bên trong”, anh ta phải tạo ra và trao quyền năng tự sự lại cho một nhân vật thuộc về thế giới hư cấu của tác phẩm: đó chính là người kể chuyện. Vì thế, khi nói rằng người kể chuyện là một nhân vật do nhà văn hư cấu nên để thay mình thực hiện chức năng kể chuyện trong tác phẩm, cũng tức là nói nó và nhà văn là hai chủ thể thuộc hai thế giới khác nhau: một thế giới hư cấu và một thế giới hiện thực. Sở dĩ học sinh thường xuyên nhầm lẫn vấn đề này, một phần do các em chưa nắm rõ khái niệm người kể chuyện, phần nữa là do tâm lý lứa tuổi khiến cho khả năng phân biệt giữa hư cấu và hiện thực của các em đôi khi còn hạn chế.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng chính vì thay thế nhà văn thực hiện chức năng kể chuyện, vai trò của người kể chuyện trong tác phẩm có rất nhiều điểm tương đồng, thậm chí có thể nói là thống nhất với vai trò của nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật. Đầu tiên là vai trò của anh ta trong việc tổ chức tác phẩm. Chúng ta đều biết rằng người có quyền quyết định tối hậu đối với cách tổ chức một tác phẩm không ai khác chính là tác giả của tác phẩm ấy. Nhưng bàn tay tác giả không bao giờ có thể chạm trực tiếp vào những điều hiện diện trên tác phẩm, mà phải qua một trung gian là người kể chuyện. Chỉ khi được hiện thực hóa bởi lời kể của người kể chuyện, câu chuyện mới có thể thành hình, mới có thể hiện lên với trình tự, kết cấu như thế, với những chỗ được nhấn mạnh như thế và lướt qua như thế, với những kĩ thuật đặc thù như thế,… Là một chủ thể tự sự “trên mặt giấy”, người kể chuyện thậm chí còn có thể thay tác giả bộc lộ thái độ, quan điểm đối với những gì được kể, trực tiếp hoặc gián tiếp, qua giọng điệu, khoảng cách và mức độ can thiệp của anh ta đối với truyện kể, sự chắc chắn (hoặc không chắc chắn) của anh ta khi kể… Tất cả biểu hiện của anh ta đều để phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả và là hiện thân của ý đồ ấy, ngay cả khi ý đồ này buộc anh ta phải tỏ một thái độ hoàn toàn khác với thái độ của tác giả. Chẳng hạn, đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên (SGK Ngữ văn 6, tập 1, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) có người kể chuyện là Dế Mèn, một nhân vật được Tô Hoài tạo ra để kể chuyện, không phải bản thân nhà văn. Ta không thể đánh đồng toàn bộ tiến trình câu chuyện, diễn biến thái độ từ ấu trĩ ngông cuồng đến hối hận và trưởng thành của Dế Mèn là của nhà văn, nhưng chắc chắn tất cả đều nằm trong ý đồ của ông – ý đồ muốn kể một câu chuyện chân thực nhất về sai lầm tuổi trẻ, gián tiếp thể hiện cả thái độ phê phán lẫn bao dung của ông đối với câu chuyện ấy.
2.3. Mối quan hệ giữa người kể chuyện và độc giả
Và bây giờ, chúng ta sẽ nói tới một chức năng hết sức quan trọng được tác giả phó thác cho người kể chuyện – chức năng mà nếu người kể chuyện không thực hiện được nó, thì tác phẩm sẽ không bao giờ thành công được: đó là chức năng giao tiếp với người đọc. Mặc dù không được nhắc đến trong các sách giáo khoa, chức năng này là điều chúng ta nên mở rộng cho HS nếu muốn các em thực sự hiểu được vai trò của người kể chuyện trong tác phẩm. Có thể nói, từ trong bản chất của nó, người kể chuyện là một nhân vật được thiết kế cho sự giao tiếp này. Tác giả còn có cuộc đời riêng của anh ta, còn có những tác phẩm khác – anh ta không thể vượt không gian thời gian để trò chuyện với từng người đọc về câu chuyện của mình. Chỉ có người kể chuyện là luôn túc trực “trên mặt giấy”, thay thế anh ta làm điều ấy. Người kể chuyện đối thoại với người đọc bằng sự dẫn dắt và gợi mở vô hình của mình – thứ có nền tảng vững chắc từ sự thao túng của anh ta đối với tổ chức câu chuyện mà chúng tôi đã nói đến ở trên. Cụ thể, người kể chuyện luôn luôn đón trước để kiểm soát phản ứng của người đọc đối với câu chuyện anh ta kể, điều chỉnh những phản ứng đó để phù hợp với ý đồ của chủ thể tối hậu đứng đằng sau nó – người viết, nhằm tạo nên ở người đọc sự đồng tình về cảm xúc và tư tưởng với người viết.
Để làm được điều này, đầu tiên, người kể chuyện hấp dẫn sự chú ý và khơi gợi hứng thú của người đọc đối với câu chuyện được kể, ở cấp độ thấp hơn là lưu ý và tạo ấn tượng cho người đọc về những chi tiết quan trọng của câu chuyện. Sau đó anh ta tạo ra sự “rút ngắn khoảng cách” về mặt cảm xúc giữa người đọc và câu chuyện (cụ thể hơn là giữa người đọc với nhân vật đang được kể hoặc với chính anh ta). Những điều này có thể thực hiện bằng chính sự xúc động của bản thân người kể chuyện – thứ tác động vào cảm xúc của người đọc, gợi nên sự đồng cảm của họ đối với anh ta nói riêng và với nhân vật, với câu chuyện nói chung; hoặc được thực hiện thông qua những kĩ thuật kể đa dạng (trên thực tế, một trong những mục đích đầu tiên và cơ bản nhất của mọi kĩ thuật kể và sự sáng tạo về kĩ thuật kể là nhằm thực hiện sự “hấp dẫn chú ý” và “rút ngắn khoảng cách” này).
Chẳng hạn, người kể chuyện có thể nhắc lại nhiều lần một chuỗi sự kiện để nhấn mạnh hoặc tạo sức ám ảnh với người đọc; cài cắm những ám chỉ tới dòng suy nghĩ riêng tư của người đọc; bỏ ngỏ một bí ẩn để gợi sự tò mò, chờ đợi ở người đọc; đưa nhân vật vào hiểm cảnh để tạo sự hồi hộp; bố trí các manh mối, các chi tiết ẩn dụ xuyên suốt câu chuyện để người đọc liên tục tìm kiếm và suy đoán; tạo biến cố bất ngờ để gây nên cú hích tâm lí cho người đọc,… Bên cạnh đó, người kể chuyện còn tạo sự thuận lợi tối đa giúp người đọc tiếp cận và giải mã những ẩn ý của tác giả đằng sau câu chuyện. Những chức năng của người kể chuyện như bình luận hành vi nhân vật, giải thích động cơ thầm kín bên trong nhân vật, làm rõ những chi tiết mơ hồ trong câu chuyện, đưa ra những gợi ý… là nhằm mục đích này, cung cấp một số định hướng nhất định của tác giả – “Thượng đế” thực sự đứng đằng sau người kể chuyện – dành cho người đọc nói riêng cũng như hoạt động tiếp nhận nói chung. Chẳng hạn, trong Bài học đường đời đầu tiên, Tô Hoài đã để cho Dế Mèn dùng lời kể tô vẽ bản thân như một con dế mạnh mẽ, “đầu đội trời chân đạp đất”, và khắc họa Dế Choắt như một kẻ yếu đuối thảm hại, để rồi sau đó dẫn tới biến cố với chị Cốc lật ngược lại toàn bộ ấn tượng đó: ít nhiều bất ngờ, độc giả giờ đây nhận ra Dế Mèn thì ngu ngốc, thậm chí hèn nhát, Dế Choắt lại cao thượng và khôn ngoan hơn (không ai khác mà chính Dế Mèn phải là kẻ thừa nhận điều ấy). Đó không chỉ là cách Tô Hoài khiến độc giả của ông bất ngờ và ấn tượng sâu sắc với câu chuyện, mà còn khiến họ một lần nữa phải suy xét, đánh giá lại tính cách nhân vật, từ đó nhấn mạnh bài học về sự “biết nghĩ”.
3. Kết luận
Nhìn chung, người kể chuyện là một khái niệm không thể thiếu và buộc phải được trang bị cho học sinh khi các em tiến hành đọc hiểu một tác phẩm tự sự. Người kể chuyện không chỉ có quan hệ gắn kết đặc biệt đối với tác giả và độc giả, mà còn là cây cầu kết nối hai chủ thể “ngoài văn bản” này, khép kín chu trình giao tiếp giữa người viết – chủ thể sáng tạo văn học và người đọc – chủ thể tiếp nhận văn học. Vì vậy, việc mở rộng hiểu biết về người kể chuyện, đặc biệt là hiểu biết về vai trò của anh ta trong mối quan hệ liên chủ thể tác giả – người kể chuyện – độc giả không chỉ giúp cho học sinh lĩnh hội thấu đáo bản thân vấn đề người kể chuyện, mà còn từ vấn đề nhỏ đó, mở một ô cửa lớn để các em nhìn ra chu trình giao tiếp phức tạp, nhưng cũng đầy lý thú, giữa người viết và người đọc.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT–BGĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Hà Nội
[2] Nguyễn Minh Thuyết (Tổng chủ biên), Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Lê Huy Bắc, Phạm Thị Thu Hiền, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Văn Lộc, Trần Nho Thìn (2021), Ngữ văn 6, Tập 1, Nxb Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh
[3] Nguyễn Thị Hồng Nam (Chủ biên), Trần Lê Duy, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Thành Thi, Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2021), Ngữ văn 6, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
[4] Bùi Mạnh Hùng (Tổng Chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa (Chủ biên), Nguyễn Linh Chi, Nguyễn Thị Mai Liên, Lê Trà My, Lê Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Nương, Nguyễn Thị Hải Phương (2021), Ngữ văn 6, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
[5] Sử, Trần Đình (chủ biên) (2007), Tự sự học: Một số vấn đề lí luận và lịch sử, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
………………………………………………………………..
THE NARRATOR IN RELATIONSHIP WITH AUTHOR AND READER: AN EXPANDING OF LITERATURE THEORY KNOWLEDGE IN SCHOOL
Ha Thi Tuong Vy -
803/58/35b Huynh Tan Phat, Phu Thuan Ward, Ho Chi Minh City
Email: [email protected]
Abstract: The narrator is the factor playing a key role in every narrative work. In the 2018 General Education Program, students were introduced to this factor in grade 6th, but in all three current textbook sets, the role of the narrator have not really been clarified. This article will provide some more knowledge about the narrator, especially deepening its intermediary role: connecting the author and the reader – the creating and receiving subjects outside the text – to the world inside the text, thereby indirectly creating communication between the two above subjects in a complete writing – reading cycle.
Keywords: Literature theory, Narrator, Author, Reader.