NHỮNG THÁCH THỨC TRONG THỰC HIỆN GIÁO DỤC BẮT BUỘC Ở VIỆT NAM

NGƯT.TS. Thái Huy Vinh - Nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An Email: [email protected] Tóm tắt: Để tiếp tục nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, xóa mù chữ góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập, công nghệ 4.0; thực hiện giáo dục bắt buộc, mọi công dân Việt Nam trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước đảm bảo các điều kiện thực hiện. Nhiều nước phát triển và đang phát tr
20:37 | 21/10/2025

NGƯT.TS. Thái Huy Vinh -

Nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An

Email: [email protected]

Tóm tắt: Để tiếp tục nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, xóa mù chữ góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập, công nghệ 4.0; thực hiện giáo dục bắt buộc, mọi công dân Việt Nam trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước đảm bảo các điều kiện thực hiện.

Nhiều nước phát triển và đang phát triển đã thực hiện giáo dục bắt buộc – đây là xu thế phát triển tất yếu của các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, Luật Giáo dục năm 2019 đã nêu giáo dục bắt buộc và khẳng định: “Giáo dục tiểu học là cấp học giáo dục bắt buộc”. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa XI) xác định: “Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020”. Tuy nhiên, đây là vấn đề mới, còn nhiều khó khăn thách thức như: về quan điểm, nhận thức; cơ chế chính sách; điều kiện đảm bảo thực hiện… Trong bài biết này, tác giả trao đổi cụ thể về một số khó khăn, vướng mắc và những khuyến nghị cơ bản để thực hiện giáo dục bắt buộc ở nước ta hiện nay. Trước hết, bài viết chủ yếu đi sâu nghiên cứu giáo dục bắt buộc cấp tiểu học, nhìn từ góc độ thực tiễn.

Từ khóa: Khó khăn, thách thức, Giáo dục bắt buộc, Cấp tiểu học

1. Đặt vấn đề

Thực trạng hiện nay ở Việt Nam đã thực hiện cơ bản đạt các tiêu chí về phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở, xóa mù chữ góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, đang còn một tỷ lệ nhất định với số lượng tuyệt đối trẻ em, học sinh trong độ tuổi phổ cập chưa đạt trình độ học vấn tối thiểu theo quy định khá nhiều; chất lượng phổ cập chưa được như mong muốn; nhất là những trẻ em, học sinh khó khăn, yếu thế rất cần cơ chế, chính sách mới để thực hiện.

Muốn tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục phổ cập, xóa mù chữ, thực hiện một cách triệt để thì ta phải thực hiện giáo dục bắt buộc, mọi đối tượng trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật, đáp ứng quyền được học tập của trẻ em, cũng như nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập, góp phần xây dựng và phát triển đất nước; nhưng phải được Nhà nước đảm bảo các điều kiện thực hiện.

Thực hiện Tuyên ngôn về Quyền con người (1984) trên toàn thế giới, Công ước Quốc tế (1966) về các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, Công ước Liên hợp quốc (1990) về Quyền trẻ em, nhiều quốc gia đã thực hiện giáo dục bắt buộc; trong đó có những nước giáo dục bắt buộc được quy định cụ thể trong Hiến pháp như: Đức, Phần Lan, Hà Lan...; có những nước giáo dục bắt buộc được quy định trong Luật như: Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông...

Ở Việt Nam, ngay từ khi thực hiện nền giáo dục Cách mạng (tháng 8/1945), Hiến pháp đầu tiên (1946) đã quy định: “Trẻ em được quyền săn sóc, giáo dưỡng” và các bản Hiến pháp sửa đổi năm 1959, 1980, 1992, 2013 đều rất quan tâm đến quyền được học của trẻ em. Luật Giáo dục năm 2019 đã nêu rõ giáo dục bắt buộc và xác định giáo dục tiểu học là cấp học bắt buộc; Nghị quyết số 29-NQ/TW (2013) đã khẳng định lộ trình thực hiện giáo dục bắt buộc. Thực hiện giáo dục bắt buộc là chiến lược, bước ngoặt phát triển giáo dục của nước ta, phù hợp với xu thế thời đại, sự phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực của đất nước, đi liền với sự đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Tuy nhiên, việc thực hiện giáo dục bắt buộc vẫn còn nhiều vấn đề thách thức. Đó là những thách thức nào? Chủ quan, khách quan? Bài viết phân tích cụ thể những khó khăn trong thực tiễn, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị thực hiện giáo dục bắt buộc ở Việt Nam.

2. Giáo dục bắt buộc: lý luận và khung chính sách

Theo Điều 5 Luật Giáo dục năm 2019: “Giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện”.

Giáo dục bắt buộc là giáo dục có tính chất bắt buộc tất cả các công dân trong độ tuổi phải học tập theo quy định của pháp luật. Nhà nước quy định cho mọi cá nhân ở một độ tuổi nào đó buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu, tùy từng giai đoạn nhất định mà Nhà nước quy định độ tuổi cụ thể và quy định mức độ, trình độ học vấn phù hợp. Phần lớn các nước đã quy định về “giáo dục bắt buộc” hoặc “giáo dục nghĩa vụ” trong các văn bản Hiến pháp và Luật; trong đó nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước là cung cấp các điều kiện học tập; phải cung cấp một cách thống nhất cho tất cả trẻ em trong độ tuổi giáo dục bắt buộc, cam kết mà Nhà nước phải bảo đảm, phân bổ hợp lý các nguồn lực giáo dục, thúc đẩy sự phát triển cân bằng của giáo dục bắt buộc, hỗ trợ vùng kém phát triển, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn… thực hiện giáo dục bắt buộc.

Việc đánh giá kết quả thực hiện giáo dục bắt buộc không chỉ căn cứ vào kết quả huy động trẻ em đến tuổi đi học hàng năm mà còn phải căn cứ, đối chiếu đầu ra của số học sinh sau khi học xong chương trình quy định với dân số trong từng độ tuổi tương ứng; rà soát hết tất cả mọi đối tượng quy định về giáo dục bắt buộc. “Giáo dục bắt buộc khác với việc đi học bắt buộc, điều đó có nghĩa là cha mẹ có nghĩa vụ phải gửi con đến một trường nào đó. Giáo dục bắt buộc liên quan đến cả cha mẹ theo luật pháp để đảm bảo rằng, con cái họ được dạy dỗ và đặc quyền của mọi trẻ em phải là có học vấn” [2]. Thực hiện giáo dục bắt buộc là thực hiện phổ cập nhưng với tinh thần mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, khó khăn, vất vả hơn và Nhà nước phải đầu tư ngân sách nhiều hơn mới có thể thực hiện được một cách triệt để, để mọi công dân trong độ tuổi – nhất là trẻ em, học sinh khuyết tật nặng, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng phải đạt một trình độ học vấn tối thiểu theo quy định.

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới thực hiện giáo dục bắt buộc ở tiểu học, nhiều nước đã thực hiện giáo dục bắt buộc ở trung học cơ sở và trung học phổ thông [5].

Ở Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW đã nêu định hướng sau năm 2020, thực hiện giáo dục bắt buộc cấp trung học cơ sở. Tuy nhiên, trong bối cảnh và điều kiện thực tiễn hiện nay, trước hết, chúng ta cần quan tâm thực hiện giáo dục bắt buộc cấp tiểu học. Điều 14 Luật Giáo dục năm 2019 khẳng định: “Giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc”.

Như vậy, có thể hiểu: “Giáo dục tiểu học là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện”.

“Giáo dục tiểu học” là giai đoạn giáo dục đầu tiên trong giai đoạn giáo dục cơ bản và được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp từ lớp một đến hết lớp năm. Độ tuổi tiểu học từ 6 đến 14 tuổi.

“Công dân” là cá nhân có năng lực pháp lý và năng lực hành vi, có các quyền và nghĩa vụ theo các quy định pháp luật của một quốc gia. Căn cứ pháp lý để xác định công dân của một quốc gia nhất định là quốc tịch của người đó.

“Trình độ học vấn tối thiểu” của cá nhân đối với giáo dục tiểu học là hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.

“Điều kiện để thực hiện giáo dục tiểu học” là điều kiện cơ bản nhất để tổ chức dạy học giúp cá nhân hoàn thành được chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học như: trường, lớp, thiết bị dạy học, giáo viên, hỗ trợ về kinh phí, sách giáo khoa…

Muốn triển khai thực hiện giáo dục bắt buộc nói chung và cấp tiểu học nói riêng, chúng ta cần tập trung nghiên cứu cụ thể thực trạng kết quả phổ cập, xóa mù chữ ở tất cả các đối tượng, xác định trình độ học vấn, điều kiện đảm bảo, cơ hội và những khó khăn, thách thức nhằm xây dựng hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách và cách thức tổ chức thực hiện.

3. Những thuận lợi cơ bản để thực hiện giáo dục bắt buộc ở Việt Nam

3.1. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đặc biệt đến phát triển giáo dục và đào tạo

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống hàng nghìn năm văn hiến, có lòng yêu nước, thương nòi, nể trọng và ngưỡng mộ sự học. Ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, một trong những công việc đầu tiên của Đảng và Nhà nước là nâng cao dân trí, thực hiện công cuộc “diệt giặc dốt”, phát động phong trào “Bình dân học vụ”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt - học tốt”. Trong suốt các chặng đường lịch sử phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển”.

Việc phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở nước ta đã được đưa vào Hiến pháp, Luật, ban hành và thực hiện nhiều cơ chế chính sách đầu tư thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thể hiện rõ nét bao trùm nhất hiện nay là Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, cũng như các nghị quyết của Quốc hội, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Luật Giáo dục năm 2019…, trong đó, đã quan tâm thực hiện giáo dục bắt buộc. Đây là cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện giáo dục bắt buộc ở Việt Nam.

3.2. Kết quả thực giáo dục phổ cập, xóa mù chữ của Việt Nam hiện nay là tiền đề để thực hiện giáo dục bắt buộc

Cả nước đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi vào năm 2017; hoàn thành phổ cập giáo dục, xóa mù chữ giai đoạn 1 cho trẻ từ 6 đến 14 tuổi vào năm 2000 và đã thực hiện hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày 24/3/2014 của Chính phủ ở mức độ cao hơn nhằm từng bước nâng cao chất lượng phổ cập.

Gần 80 năm thực hiện nền giáo dục cách mạng, nhất là qua nhiều thập kỷ thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, chúng ta đã có những bài học quý báu. Cơ sở vật chất, trường lớp, thiết bị và phương tiện dạy học từng bước hiện đại hóa; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ngày càng được đào tạo cơ bản, chính quy, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới. Các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể xã hội quan tâm, kết quả xã hội hóa giáo dục ngày càng cao. Đây là cơ sở, tiền đề để tiếp tục thực hiện giáo dục bắt buộc ở nước ta.

3.3. Bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển của đất nước có nhiều thuận lợi để thực hiện giáo dục bắt buộc

Việc thực hiện giáo dục bắt buộc ở nước ta trong điều kiện quốc tế hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ, đất nước hội nhập, kinh tế - xã hội phát triển, mức sống của nhân dân tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, khoảng cách giữa miền núi, miền xuôi, thành thị giảm mạnh. Chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến thực sự, kết quả phổ cập, xóa mù chữ đạt ở mức cao; giáo dục ngày càng thực sự được quan tâm đúng mức. Nghị quyết số 29-NQ/TW đã và đang đi vào cuộc sống, bước đầu triển khai có hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018, chất lượng hệ thống giáo dục quốc dân được nâng lên.

Thực hiện nền kinh tế tri thức, hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều quan tâm phát triển giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhiều nước đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo làm đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội; coi phát triển giáo dục là một cực phát triển tăng trưởng kinh tế - xã hội (Nguyễn Thị Lệ Thúy, Bùi Thị Hồng Việt, 2012). Nhiều nước đã và đang thực hiện giáo dục bắt buộc thành công, chúng ta càng có điều kiện học tập các quốc gia đi trước, nhất là những quốc gia trong khu vực, tương đồng về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội với Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, thuận lợi cơ bản trong và ngoài nước, hiện nay, để Việt Nam triển khai thực hiện giáo dục bắt buộc vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và rào cản.

4. Những khó khăn, thách thức trong thực hiện giáo dục bắt buộc ở Việt Nam

4.1. Quan điểm, nhận thức về giáo dục bắt buộc

4.1.1. Quan điểm, nhận thức về giáo dục phổ cập, xóa mù chữ

- Mặc dù đã trải qua hàng chục năm thực hiện giáo dục phổ cập, xóa mù chữ nhưng vẫn còn một số cán bộ ở các địa phương chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa phổ cập giáo dục, xóa mù chữ trong việc góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội; thậm chí, vẫn còn một số ít cán bộ có tư tưởng chạy theo số lượng, tỷ lệ; chưa chú ý chất lượng, bệnh thành tích. Một số nơi đã đạt giáo dục phổ cập, xóa mù chữ ở mức độ 3 (cao nhất), nhiều cán bộ địa phương, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên đã chủ quan, sớm hài lòng, thỏa mãn, xem như đã hoàn thành nhiệm vụ về giáo dục phổ cập, xóa mù chữ, sao nhãng, thiếu quan tâm thường xuyên, liên tục. Một số nơi chưa thực sự quan tâm đúng mức đối với trẻ em, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế, cách làm thiếu sáng tạo, nhất là đối với những trẻ khuyết tật nặng, hoàn cảnh khó khăn đặc biệt; thiếu ngân sách, nhân lực, phương tiện, điều kiện để thực hiện giáo dục phổ cập đối với những trường hợp này. Hội đồng Phổ cập giáo dục, xóa mù chữ cấp huyện, cấp xã quan tâm chưa thường xuyên, hiệu quả hoạt động chưa cao.

- Công tác truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, ý nghĩa, tầm quan trọng giáo dục phổ cập, xóa mù chữ ở một số nơi có khi, có lúc còn hạn chế. Một số địa phương chưa kết hợp, lồng ghép một cách hài hòa giữa công tác giáo dục phổ cập, xóa mù chữ trong việc xây dựng nông thôn mới, xây dựng phong trào khuyến học, khuyến tài ở địa phương.

- Nhiều gia đình, cha mẹ học sinh quan tâm con em một cách thái quá, kỳ vọng quá, gây nhiều áp lực cho học sinh, nhà trường. Bên cạnh đó, lại có nhiều gia đình thiếu quan tâm bỏ mặc việc giáo dục con cái cho nhà trường, trong đó có nhiều gia đình bố mẹ đi làm ăn xa quê, gửi con ông bà nội hoặc ông bà ngoại trông nom; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội chưa chặt chẽ…

4.1.2. Quan điểm, nhận thức về giáo dục bắt buộc

Quảng cáo

- Mặc dù Nghị quyết số 29-NQ/TW đã nêu lộ trình thực hiện giáo dục bắt buộc, Luật Giáo dục năm 2019 đã xác định rõ giáo dục bắt buộc, nhưng hiện nay, chúng ta mới có điều kiện để bắt đầu nghiên cứu thực hiện. Một số vấn đề cần làm rõ như: nội dung, mục tiêu, cách thức thực hiện giáo dục bắt buộc ở Việt Nam như thế nào, bắt đầu từ độ tuổi nào, cấp học nào, thời gian thực hiện giáo dục bắt buộc, đối tượng, trình độ học vấn, các điều kiện đảm bảo, cơ chế chính sách thực hiện, chế tài xử phạt…

- Giáo dục bắt buộc là một nội dung mới, tiếp nối, bổ sung thêm các điều kiện, nguồn lực để nâng cao chất lượng và thực hiện triệt để đến mọi đối tượng trẻ em, học sinh trong độ tuổi phổ cập nhưng mới nêu trong Nghị quyết số 29-NQ/TW và Luật Giáo dục năm 2019, chưa được triển khai thực hiện, do đó phần lớn cán bộ quản lý, giáo viên còn mơ hồ, chưa hiểu đầy đủ về nội dung, mục tiêu giáo dục bắt buộc, quan ngại, sợ khó khăn, vất vả. Nhiều người có vị trí quan trọng đối với giáo dục có quan điểm: thực hiện phổ cập giáo dục là thực hiện giáo dục bắt buộc, đồng nhất giữa giáo dục phổ cập và giáo dục bắt buộc; coi giáo dục bắt buộc chủ yếu là quan tâm số trẻ em và học sinh trong độ tuổi phổ cập mà chưa đạt trình độ học vấn tối thiểu, không quan tâm đến đối tượng học sinh đại trà…

4.2. Thực hiện giáo dục bắt buộc đối với trẻ em, học sinh khó khăn, yếu thế

4.2.1. Đối với trẻ khuyết tật

Mặc dù giáo dục phổ cập, xóa mù chữ ở Việt Nam đã đạt được kết quả đáng khích lệ, song đang còn một tỷ lệ tuy không cao, nhưng số lượng tuyệt đối trẻ trong độ tuổi phổ cập chưa hoàn thành chương trình quy định khá nhiều. Riêng giáo dục tiểu học mỗi năm cũng đã có hàng chục nghìn trẻ em, học sinh trong độ tuổi phổ cập chưa hoàn thành chương trình tiểu học. Đây phần lớn là những trẻ em khó khăn, yếu thế, bao gồm: trẻ khuyết tật, trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa, trẻ em rơi rớt được chăm sóc, nuôi dưỡng ở các trung tâm thiện nguyện; trẻ lang thang cơ nhỡ; trẻ em, học sinh ở những vùng khó khăn, kinh tế kém phát triển… Trong đó, có nhiều trẻ khuyết tật dạng mù, câm điếc, phát triển trí tuệ chậm, khuyết tật nặng không thể học hòa nhập, trong khi đó, các địa phương nói chung chưa đủ điều kiện để thành lập các trường chuyên biệt hoặc lớp chuyên biệt. Phần lớn những trẻ em đó phải chăm sóc, giáo dục tại gia đình, cần có giáo viên hay tình nguyện viên tư vấn, hướng dẫn, trợ giúp và các thiết bị y tế để trẻ vừa học tập, vừa từng bước phục hồi chức năng… Với những trường hợp này, các địa phương, nhà trường rất lúng túng, chưa có cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện.

Trẻ khuyết tật có thể hòa nhập được thực hiện dạy học, đánh giá kết quả học tập theo Thông tư số 03/2018//TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo; nhưng thực tế hiện nay vẫn gặp nhiều khó khăn, bất cập như: kinh nghiệm về dạy học hòa nhập của nhiều giáo viên còn hạn chế, công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giáo viên dạy hòa nhập chưa nhiều và chưa thường xuyên; chế độ bồi dưỡng cho giáo viên dạy hòa nhập còn thấp, nhiều nơi trả chậm; nhiều trẻ tăng động, tự kỷ, thiểu năng trí tuệ, mù, câm điếc… khuyết tật nặng vẫn học hòa nhập, trẻ không tự kiểm soát được bản thân, làm mất trật tự, giáo viên hết sức vất vả và ảnh hưởng rất lớn đến học sinh của cả lớp, chất lượng dạy học khó cao; phân loại mức độ khuyết tật chưa thật khoa học, chính xác; thủ tục hành chính công nhận trẻ khuyết tật nhiều nơi còn rườm rà; một số phụ huynh thiếu hợp tác với nhà trường trong việc phối hợp giáo dục hòa nhập như: ngại, không muốn người khác biết con mình là khuyết tật, không làm thủ tục công nhận; số nữa lại phó thác cho nhà trường, xem đây là nhiệm vụ của giáo viên và nhà trường, nếu giáo viên có một động thái đối xử nào khác sẽ sẵn sàng “sinh chuyện”. Đặc biệt, có những trẻ không thể hòa nhập và rất khó có năng lực hành vi, nhưng có quyền đòi hỏi được học tập thì làm thế nào?

Trong bối cảnh công nghệ phát triển, em dùng điện thoại di động, Internet nhiều đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe tâm thần, sinh ra nhiều bệnh như: hoang tưởng, trầm cảm, tăng động, tự kỷ… Việt Nam đi lên từ “nền văn minh lúa nước”, khí hậu nhiều vùng khắc nghiệt, lại trải qua hai chiến tranh lớn kéo dài, di chứng nạn chất độc da cam chưa hết, tỷ lệ trẻ khuyết tật cao. Điều kiện kinh tế những gia đình trẻ đó lại thường là thuộc diện hộ nghèo hay cận nghèo, cho nên việc học để hoàn thành chương trình quy định nhiều em còn rất khó khăn.

Một số tỉnh, thành có trường (trung tâm) chuyên biệt để học sinh khuyết tật dạng mù, câm điếc, khuyết tật nặng được học ở các cơ sở giáo dục chuyên biệt, hay những trẻ em bị bỏ rơi được nuôi dưỡng ở các trung tâm thiện nguyện, Làng S0S… Giáo viên chưa được đào tạo cơ bản về giáo dục chuyên biệt, tâm lý, nghiệp vụ sư phạm phù hợp với đối tượng. Quy chế phối hợp cụ thể giữa ngành Giáo dục và Đào tạo với ngành Lao động, Thương binh và Xã hội chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tiễn…

4.2.2. Đối với trẻ lang thang, cơ nhỡ

Đối với học sinh lang thang, cơ nhỡ, trước năm 2000, chúng ta tổ chức dạy học theo Chương trình 100 tuần, có sự hỗ trợ của Nhà nước. Tuy nhiên, sau khi thực hiện đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông 2000, cả nước chỉ có một chương trình và một bộ sách duy nhất (bỏ Chương trình 100 tuần cho trẻ lang thang, cơ nhỡ, Chương trình 120 cho giáo dục miền núi, dân tộc) và không có hỗ trợ về ngân sách nên việc giáo dục những trẻ em này hiện nay gặp nhiều khó khăn.

4.2.3. Đối với học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo; thôn, bản xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc miền núi; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; học sinh dân tộc rất ít người; học sinh và trường dân tộc nội trú, dân tộc bán trú…

Hiện nay, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho các đối tượng này, chẳng hạn như: Nghị định số 116/2016/ NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ cho học sinh và nhà trường phổ thông ở các thôn xã đặc biệt khó khăn; Nghị định số 57/ 2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 về chính sách hỗ trợ cho học sinh người dân tộc rất ít người… Tuy nhiên, những cơ chế, chính sách này cũng cần phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn hiện nay.

4.3. Thực hiện giáo dục bắt buộc đối với các vùng miền khác nhau

Giáo dục bắt buộc là thực hiện mặt bằng chất lượng trong độ tuổi giáo dục bắt buộc. Việt Nam có địa hình phức tạp, trải dài xấp xỉ 1.750 km từ cực Bắc đến cực Nam và chiều rộng từ 50 km đến 600 km. Việt Nam có nhiều vùng miền: miền núi cao, miền núi thấp, miền trung du, đồng bằng, miền biển với 54 dân tộc khác nhau. Địa hình, khí hậu, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội; truyền thống văn hóa ở các dân tộc, các vùng miền khác nhau nên chất lượng giáo dục phổ cập, xóa mù chữ không đồng đều; ở những vùng kinh tế - xã hội chậm phát triển, mức sống thấp, chất lượng phổ cập chưa cao, thiếu bền vững, rất khó khăn trong việc thực hiện giáo dục bắt buộc.

- Khu vực miền núi (núi thấp, núi cao): Nhiều địa phương kinh tế còn chậm phát triển, đời sống nhân dân còn ở mức thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao; giao thông đi lại vất vả, có nơi đang có nhiều hủ tục lạc lậu như: “trọng nam khinh nữ”, con gái không được học nhiều, lấy chồng sớm, nhiều trường hợp tảo hôn; chưa thực sự quan tâm đến việc học hành; tư tưởng ỉ lại, chậm tiến bộ. Cơ sở vật chất, trường lớp, phương tiện thiết bị dạy học… đang còn nhiều thiếu thốn. Mạng lưới trường, lớp manh mún, nhiều điểm lẻ, nhiều lớp ghép, việc huy động trẻ đến trường gặp nhiều khó khăn, học sinh bỏ học giữa chừng nhiều. Đời sống giáo viên vất vả, nhất là những giáo viên cắm bản; chất lượng phổ cập giáo dục, xóa mù chữ mới chỉ đạt mức độ tối thiểu, tái mù chữ nhiều. Cá biệt một số nơi trẻ vào lớp một chưa được làm quen với tiếng Việt. Tình trạng di cư tự nhiên vẫn còn. Kết quả phổ cập thiếu bền vững.

Mặc dù Nhà nước rất quan tâm nhưng chất lượng học sinh dân tộc rất ít người, học sinh thuộc những thôn, bản xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc miền núi, học sinh học các trường dân tộc nội trú, bán trú chất lượng phổ cập giáo dục còn phập phù, chưa đồng đều.

- Khu vực miền biển: Quan niệm về sự học chưa đầy đủ, một số học sinh trong độ tuổi giáo dục bắt buộc chưa đến trường; tình trạng nhiều học sinh bỏ học giữa chừng về đi biển; một số gia đình chủ yếu sống trên sông, nước, điều kiện học tập có nhiều hạn chế, nhất là những trẻ em, học sinh các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Một số nơi còn chạy theo tiến độ, kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ còn bấp bênh.

- Khu vực đồng bằng: Những nơi này không có sự đầu tư của Nhà nước, thực hiện xã hội hóa giáo dục, sức dân đóng góp khó khăn; cơ sở vật chất trường lớp nhiều nơi chưa được kiên cố hóa; phương tiện thiết bị chưa được hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn hạn chế, sử dụng phần mềm về giáo dục phổ cập khó khăn.

- Khu vực thành phố, thị xã: Những nơi này thường bị áp lực về sĩ số; nói chung, sĩ số hầu hết ở các lớp vượt quá quy định. Tuy diện tích nhiều trường chật hẹp nhưng cơ sở vật chất trường lớp khá khang trang, thiết bị phương tiện dạy học từng bước được hiện đại hóa. Tuy nhiên, sự tâm huyết của đội ngũ giáo viên trực tiếp dạy học nói chung chưa thật cao. Học sinh học trái tuyến nhiều, công tác điều tra phổ cập phức tạp, nhiều học sinh lang thang cơ nhỡ, nhiều rào cản trong việc thực hiện giáo dục bắt buộc.

4.4. Các điều kiện đảm bảo để thực hiện giáo dục bắt buộc

Đây là vấn đề cơ bản, cốt lõi để thực hiện giáo dục bắt buộc. Các điều kiện đảm bảo bao gồm: cơ sở vật chất, trường, lớp; phương tiện, trang thiết bị dạy học; đội ngũ giáo viên; cơ chế chính sách, ngân sách; cam kết cách thức tổ chức thực hiện...

4.4.1. Cơ sở vật chất trường, lớp; phương tiện, thiết bị dạy học

Mặc dù hiện nay, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia của các cấp học, bậc học khá cao, nhất là giáo dục tiểu học, nhưng có nhiều trường còn thiếu các phòng chức năng như: phòng dạy Âm nhạc, dạy Mỹ thuật; phòng đa chức năng; thiếu sân chơi bãi tập, công trình vệ sinh; thiết bị dạy học chưa đầy đủ, thư viện còn nghèo; ứng dụng công nghệ trong dạy học còn khó khăn…

Quy hoạch mạng lưới trường lớp chưa phù hợp. Nhiều trường học quá nhỏ lẻ, có nhiều điểm trường lẻ, manh mún; một số nơi việc tách, nhập trường chưa ổn định, nhập trường tiểu học với trung học cơ sở chưa phù hợp. Hệ thống trường dân tộc nội trú, dân tộc bán trú đầu tư chưa nhiều, thiết bị dạy học, sách giáo khoa… chưa đầy đủ. Mạng lưới trường lớp, các cơ sở giáo dục chuyên biệt cho trẻ em và học sinh khuyết tật như: dạng mù, câm điếc, thiểu năng trí tuệ, khuyết tật nặng còn thiếu, nhiều địa phương chưa có, chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại. Trang thiết bị phục vụ giáo dục cho trẻ khuyết tật và chăm sóc y tế còn nhiều khó khăn. Quy chế phối hợp quản lý giáo dục ở các cơ sở giáo dục chuyên biệt tại các tỉnh/thành, giữa Sở Giáo dục và Đào tạo với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội chưa cụ thể.

4.4.2. Đội ngũ giáo viên

Hiện nay, tỷ lệ giáo viên các cấp học, bậc học còn thấp; riêng giáo dục tiểu học cả nước còn thiếu đến hàng chục nghìn người, nhất là giáo viên Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Công nghệ… Đặc biệt là đội ngũ giáo viên dạy học chuyên biệt; kinh nghiệm dạy hòa nhập còn hạn chế. Nhiều giáo viên dạy vùng miền núi, dân tộc, giáo viên cắm bản chưa biết tiếng dân tộc. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn khó khăn.

Hầu hết giáo viên tiểu học đã đạt chuẩn (Đại học Sư phạm), tỷ lệ trên chuẩn cao nhưng vì xuất phát điểm ban đầu thấp nên năng lực giảng dạy, giáo dục, thực tiễn ở một số giáo viên còn hạn chế, chưa tương xứng.

Giáo viên áp lực công việc lớn, thu nhập thấp, đời sống của một bộ phận không nhỏ giáo viên khó khăn, sự tâm huyết, say sưa nghề nghiệp có phần giảm sút.

4.4.3. Thực hiện cơ chế chính sách

Trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành, thực hiện nhiều chế độ, chính sách đầu tư thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, nhưng hiện nay có một số chủ trương chưa được thực hiện, chẳng hạn như Điều 99 Luật Giáo dục năm 2019: “Học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục công lập không phải đóng học phí; ở địa bàn không đủ trường công lập, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục tư thục được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí, mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định”. Một số chính sách cần chỉnh sửa, bổ sung, chẳng hạn như: Nghị định số 57/2017/NĐ-CP, Nghị định số 116/2016/NĐ-CP… Đặc biệt, cần ban hành thực hiện một số cơ chế chính sách mới, đầu tư thỏa đáng, phù hợp để thực hiện hiệu quả giáo dục bắt buộc, chẳng hạn như: bố trí đủ định mức giáo viên; tăng cường đào tạo giáo viên chuyên biệt; có giáo viên hay tình nguyện viên hướng dẫn học cho trẻ em khuyết tật không hòa nhập được giáo dục và chăm sóc y tế tại gia đình; bố trí kinh phí dạy trẻ em lang thang, cơ nhỡ, cung cấp sách giáo khoa cho cho học sinh, hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh dân tộc ít người, học sinh vùng khó, vùng kinh tế phát triển chậm, thực hiện chiến lược nâng cao tầm vóc Việt – Chương trình Sữa học đường… Cần có cơ chế phân bổ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, kêu gọi xã hội giáo dục để thực hiện giáo dục bắt buộc.

Hiện nay, phân cấp quản lý về giáo dục còn chồng chéo, nhiều chủ trương chưa đi liền với cơ chế chính sách. Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục chưa cao.

4.5. Khuyến nghị thực hiện giáo dục bắt buộc ở Việt Nam

Qua nghiên cứu giáo dục bắt buộc, những thuận lợi và khó khăn, thách thức ở Việt Nam, để thực hiện giáo dục bắt buộc có hiệu quả, tác giả đề xuất một số khuyến nghị sau đây:

Thứ nhất, sớm ban hành Luật, xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực hiện giáo dục bắt buộc. Quy định rõ trách nhiệm của các bên liên quan như: cam kết của Nhà nước, của nhà trường, của cha mẹ/người giám hộ, của người học, cộng đồng, chính quyền địa phương; có chế tài xử lý các vi phạm trong việc thực hiện giáo dục bắt buộc…

Thứ hai, bố trí ngân sách thực hiện giáo dục bắt buộc. Trước hết, phải đầu tư thống nhất đồng đều đối với tất cả trẻ em và học sinh ở tất cả trên các vùng miền; khuyến khích lưu ý quan tâm đến các đối tượng cụ thể: (1) Học sinh đại trà trên tất cả các vùng miền; (2) Học sinh có hoàn cảnh khó khăn (Học sinh hộ nghèo, cận nghèo; thôn, bản xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc miền núi; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; trẻ em rơi rớt, mồ côi không nơi nương tựa đang được nuôi, dạy ở các trung tâm từ thiện, làng SOS…); (3) Học sinh dân tộc rất ít người; (4) Học sinh khuyết tật học hòa nhập; (5) Học sinh khuyết tật học ở các cơ sở giáo dục chuyên biệt; (6) Trẻ lang thang, cơ nhỡ; (7) Trẻ khuyết tật không thể học hòa nhập nhưng có năng lực hành vi; (8) Trẻ khuyết tật không thể học hòa nhập và không có năng lực hành vi…

Thứ ba, đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông về việc thực hiện giáo dục bắt buộc. Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện giáo dục bắt buộc trong phát triển kinh tế - xã hội. Xác định đây là nhiệm vụ chính trị của các địa phương. Giáo dục là sự nghiệp cách mạng của toàn dân; thực hiện giáo dục bắt buộc là nhiệm vụ của toàn xã hội mà giáo dục là lực lượng nòng cốt.

Thứ tư, xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện. Tổng kết đánh giá thực trạng kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, về mặt mạnh, mặt yếu, rút ra bài học kinh nghiệm; học tập các quốc gia đã thực hiện giáo dục bắt buộc; phối hợp tham mưu hệ thống văn bản pháp quy. Xây dựng lộ trình tiến hành cụ thể, cơ chế phối hợp giữa tổ chức và cá nhân trong quá trình thực hiện. Thiết lập bộ phận chuyên trách về công tác giáo dục bắt buộc từ cấp trung ương đến địa phương. Giao cho các trường sư phạm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chuyên biệt, dạy hòa nhập.

5. Kết luận

Thực hiện giáo dục bắt buộc là một bước tiến mới của giáo dục Việt Nam nhằm thực hiện Luật Giáo dục năm 2019, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa XI); phù hợp với xu thế trên thế giới, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay, đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục và đào tạo; đi liền với việc thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018; đúng thời điểm, kịp thời và cấp thiết. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, vẫn còn nhiều khó khăn thách thức. Chúng ta hãy phân tích kỹ lưỡng để đưa ra những giải pháp tích cực, hữu hiệu, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, mạnh mẽ giáo dục bắt buộc, nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực xây dựng và phát triển đất nước.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

2. Compulsory Education, New England Journal of Education, 1(5): 52, 1875, JSTOR 44763565.

3. Nguyễn Thị Lệ Thúy, Bùi Thị Hồng Việt (2012), Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Tài chính.

4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Luật Giáo dục năm 2019, Luật số 43/2019/QH14, ban hành ngày 14/6/2019.

5.https://en.wikipedia.org/wiki/Compulsory_education#:~:text=International%20Covenant%20on%20Economic%2C%20Social,Vatican%20City%2C%20have%20 compulsory%20education.