NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

PGS. TS Nguyễn Gia Cầu - Viện Nghiên cứu Hợp tác Phát triển Giáo dục Tóm tắt: Giáo dục địa phương tại các tỉnh miền núi phía Bắc mang giá trị sâu sắc và toàn diện đối với học sinh dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. Nó không chỉ góp phần củng cố kiến thức, kỹ năng sống và nhân cách mà còn là chìa khóa để bảo tồn văn hóa, thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường gắn kết cộng đồng và tạo nền tảng cho hội nhập. GDĐP ở các nhà trường phổ thông luôn chịu sự tác động của các yếu tố khách quan, chủ q
11:34 | 23/09/2025

PGS. TS Nguyễn Gia Cầu -

Viện Nghiên cứu Hợp tác Phát triển Giáo dục

Tóm tắt: Giáo dục địa phương tại các tỉnh miền núi phía Bắc mang giá trị sâu sắc và toàn diện đối với học sinh dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. Nó không chỉ góp phần củng cố kiến thức, kỹ năng sống và nhân cách mà còn là chìa khóa để bảo tồn văn hóa, thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường gắn kết cộng đồng và tạo nền tảng cho hội nhập. GDĐP ở các nhà trường phổ thông luôn chịu sự tác động của các yếu tố khách quan, chủ quan của thời đại và của đất nước. GDĐP ở các tỉnh miền núi phía Bắc, ngoài những yếu tố tác động chung còn chịu sự tác động của các yếu tố mang tính đặc trựng của địa phương. Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu về những yếu tố tác động đến thực hiện nội dung GDĐP ở các tỉnh miền núi phía Bắc.

Từ khóa: Những yếu tố tác động; Nội dung giáo dục địa phương; Học sinh phổ thông; Miền núi phía Bắc

Nhận bài: 18/9/2025; Biên tập: 22/9/2025; Duyệt đăng:22/9/2025

1. Mở đầu

Trong nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xã hội Việt Nam đang có những biến đổi mạnh mẽ. Biến đổi xã hội rõ nhất là biến đổi cấu trúc xã hội, phân hóa xã hội và biến đổi về giá trị, chuẩn mực, lối sống xã hội... Các vãn bản chính thức của Đảng, Nhà nước cũng như thực tiễn đã xác lập mô hình mục tiêu phát triển tổng quát của Việt Nam là: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong đó, mục tiêu cốt lõi hướng đến là: con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công; có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện. Song, để thực hiện thành công, một trong những điều kiện tiên quyết là phải tính đến sự quy định của bối cảnh xã hội, bối cảnh xã hội là nhân tố có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự thành công của phát triển xã hội.

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã nhận định: Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới to lớn, phức tạp hơn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thực tế cho thấy, thế giới ngày nay đã và đang diễn ra đồng thời nhiều quá trình vận động, đan xen rất phức tạp, vừa hợp tác vừa đấu tranh, có ảnh hướng quyết định đến sự phát triển của nhân loại và từng quốc gia dân tộc, như: biến đổi khí hậu, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, vai trò của các nước lớn, xung đột tranh chấp lãnh thổ, khủng bố và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dịch bệnh hoành hành, đói nghèo ở nhiều vùng lãnh thổ,… Các quá trình này đã và đang tác động khôn lường, bất định theo cả hai chiều cạnh: thuận lợi và khó khăn, trước mắt và lâu dài đối với tiến trình đổi mới, hội nhập và phát triển của Việt Nam. Lĩnh vực Giáo dục nói chung, giáo dục địa phương nói riêng cũng chịu sự tác động không nhỏ của các quá trình trên. Sự ảnh hướng, tác động của bối cảnh xã hội đối với quá trình thực hiện nội dung giáo dục địa phương ở nước ta, trong đó có các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời gian vừa qua cũng như hiện nay là một tất yếu khách quan.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Những vấn đề chung về giáo dục địa phương

Giáo dục địa phương là một trong những môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông 2018. Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nội dung Giáo dục địa phương là một bộ phận không thể tách rời. Nội dung giáo dục địa phương được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho các địa phương biên soạn tài liệu, kế hoạch giảng dạy sao cho phù hợp tình hình từng địa phương, vùng miền.

Giáo dục địa phương là môn học trong chương trình Giáo dục phổ thông 2018 gồm những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hóa, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của địa phương nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, có trách nhiệm với cộng đồng, biết trân trọng và phát huy văn hóa truyền thống quê hương và vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn ở địa phương nơi mình sinh sống.

Để chương trình Giáo dục địa phương đạt hiệu quả, trước hết người dạy, người học cần xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ dạy học bằng việc chuẩn bị tâm thế dạy và học, lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học linh hoạt, phù hợp; sau nữa cần đề cao vai trò của chủ thể học tập, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Chỉ khi học sinh được tắm mình trong không gian văn hóa-xã hội của địa phương, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn bằng cách tự tìm tòi, khám phá, trải nghiệm với chính tâm hồn và khối óc của các em, khi đó học sinh mới thực sự thấy hứng thú với giờ học, mới biết trân quý, tự hào về lịch sử, biết yêu mến và gắn bó, có ý thức vun đắp và xây dựng quê hương mình ngày một giàu đẹp hơn.

Giáo dục địa phương không còn là vấn đề mới trong giáo dục phổ thông bởi Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo thực hiện từ năm học 2008 - 2009 với những hướng dẫn cụ thể về biên soạn tài liệu, nội dung, phương pháp, kiểm tra đánh giá và sử dụng kết quả để đánh giá, xếp loại học sinh.

Thực trạng giáo dục địa phương hiện nay, mỗi sở GD&ĐT có một cách xây dựng nội dung và tài liệu văn hóa giáo dục địa phương riêng để thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông. Có điều, nội dung chỉ mang tính chất bổ trợ cho chương trình chính khóa, không bắt buộc phải thực hiện đối với các địa phương chưa chuẩn bị được các điều kiện triển khai. Các tài liệu được xây dựng cũng chưa đáp ứng được Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Khi triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nội dung giáo dục địa phương trở thành một trong những môn học, hoạt động giáo dục bắt buộc. Với tiểu học, nội dung giáo dục địa phương không quy định cụ thể về thời lượng mà được tích hợp, lồng ghép trong hoạt động trải nghiệm. Cấp THCS và THPT, nội dung giáo dục của địa phương có vị trí tương đương các môn học khác với thời lượng 35 tiết/năm học cho tất cả các lớp từ 6 đến 12.

Triển khai thực hiện nội dung giáo dục địa phương ở trung học thời gian vừa qua không thể phủ nhận những khó khăn gặp phải. Trong đó nổi cộm là vấn đề tài liệu vì vướng mắc trong khâu in ấn, phát hành, kê khai giá ở một số địa phương…

Do đó, không ít trường đến nay vẫn dùng giải pháp tình thế là sử dụng tài liệu PDF, giáo viên lên mạng tải về và soạn giáo án… Có nơi sách ban hành muộn nên đến học kỳ II nhà trường mới triển khai được nội dung dạy học này. Một khó khăn khác liên quan đến phân công đội ngũ, triển khai dạy học, kiểm tra đánh giá vì nhiều giáo viên khác chuyên môn cùng tham gia giảng dạy…

Mặc dù có khó khăn, nhưng nhiều ý kiến khẳng định sự cần thiết đưa nội dung giáo dục địa phương thành bắt buộc nhằm trang bị cho học sinh hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học, góp phần giải quyết những vấn đề của quê hương.

Những vướng mắc trong thực tiễn triển khai giáo dục địa phương là khó tránh khỏi, nhưng dần dần sẽ tốt hơn. Tuy nhiên, sự quan tâm, nhận thức đúng vai trò của nội dung này vô cùng quan trọng để triển khai dạy học hiệu quả. Một số giải pháp có thể tính đến như mỗi địa phương nhanh chóng có đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó nhận rõ ưu, khuyết điểm để kịp thời có giải pháp. Quan tâm các điều kiện bảo đảm, đặc biệt về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tài liệu dạy học. Về đội ngũ giáo viên, cũng cần sớm bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ dạy học giáo dục địa phương. Về tài liệu giáo dục địa phương, tùy tình hình cụ thể, địa phương trước mắt tiếp tục sử dụng ngân sách Nhà nước để in ấn, trang bị vào thư viện của trường để dùng chung, tổ chức cho học sinh mượn và trả lại khi kết thúc năm học... Đồng thời, phối kết hợp với các bộ, ban, ngành hoàn thiện hệ thống văn bản phục vụ cho công tác tổ chức biên soạn, thẩm định, in ấn, phát hành tài liệu nội dung giáo dục địa phương phù hợp với thực tiễn, đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đề nghị Quốc hội giao Chính phủ có cơ chế đặc thù trong việc liên quan đến vấn đề bản quyền, in ấn, giá theo Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Xuất bản và Luật Giá đối với tài liệu Nội dung giáo dục địa phương.

Căn cứ chương trình giáo dục phổ thông, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, thẩm định, chỉnh sửa tài liệu về nội dung giáo dục của địa phương;

Chỉ đạo việc tổ chức biên soạn, thẩm định tài liệu về nội dung giáo dục của địa phương theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và báo cáo để Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt.

Chương trình giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ được thực hiện ở các môn học như: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Âm nhạc, Mĩ Thuật, Công nghệ...

Ở cấp Tiểu học thì nội dung giáo dục của địa phương được tích hợp với Hoạt động trải nghiệm của học sinh.

Đối với cấp Trung học cơ sở và cấp Trung học phổ thông thì nội dung giáo dục của địa phương có thời lượng 35 tiết/năm học, tổng thời lượng trong cả 7 năm học là 245 tiết. Và, từ khung thời lượng này, các địa phương sẽ căn cứ nhu cầu thực tế, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp cho địa phương mình.

Chúng tôi cho rằng, chủ trương để các Sở Giáo dục và Đào tạo chủ động xây dựng nội dung giáo dục địa phương là hoàn toàn đúng đắn và hợp lý.

Thực tế, đất nước ta có nhiều vùng miền, nhiều dân tộc sinh sống khác nhau và ta thấy tiếng nói, văn hóa, lịch sử, địa lý…của mỗi vùng quê cũng khác nhau nên nội dung chương trình, sách giáo khoa chung của Bộ khó có thể đề cập hết được.

Nội dung giáo dục địa phương sẽ đảm nhận công việc của địa phương mình để giúp cho học sinh những trải nghiệm cần thiết và bổ ích nhất. Chẳng hạn, đối với môn Lịch sử khi học về vùng đất, con người, những nhân vật lịch sử ở địa phương thì thầy và trò có thể đến tận nơi để trải nghiệm.

Học về tác phẩm văn học địa phương, học sinh sẽ yêu hơn mảnh đất quê mình, tự hào hơn về vùng quê của mình đã có những nhà văn, nhà thơ như thế. Tất nhiên, các thầy cô dạy cũng nắm rõ hơn về những điều mà mình đang giảng cho học trò…Rất nhiều tiết học đã đưa học trò đến với những trải nghiệm thật nhất để các em có thể hiểu, khám phá, chiêm nghiệm về các kiến thức văn học, lịch sử, địa lý, văn hóa…của địa phương tỉnh nhà - nơi mà mình đang sống hàng ngày.

2.2. Những khó khăn khi triển khai thực hiện nội dung Giáo dục địa phương ở các tỉnh miền núi phái Bắc

Trong những năm học qua, ở mỗi khối lớp trung học phổ thông, giáo dục địa phương được triển khai gặp không ít khó khăn và thách thức, đòi hỏi sự quan tâm và giải quyết đồng bộ từ các cấp quản lý giáo dục, nhà trường và giáo viên.

Thứ nhất, một trong những khó khăn lớn nhất là thiếu tài liệu tham khảo khi bắt đầu triển khai môn này ở năm đầu của mỗi lớp. Vì là lần đầu tiên thực hiện môn học này nên khâu biên soạn, thẩm định và phát hành tài liệu thường bị chậm trễ. Bên cạnh đó, ban biên soạn tài liệu cũng chưa kịp biên soạn tài liệu tham khảo, hướng dẫn giáo viên dạy học. Điều đó khiến cho cả giáo viên và học sinh gặp nhiều lúng túng trong quá trình triển khai dạy và học, ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng mong muốn của bộ môn.

Thứ hai, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu môn học. Nội dung của bộ môn thường bao gồm nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Âm nhạc, Mĩ thuật, Giáo dục công dân. Việc bố trí, phân công giảng dạy của nhiều trường, nhiều địa phương cũng khác nhau.

Có trường phân công một giáo viên đảm nhận tất cả các chủ đề nên họ cảm thấy thiếu tự tin khi giảng dạy chủ đề khác chuyên môn chính của mình.

Có trường phân công nhiều giáo viên từ các bộ môn khác nhau để đảm nhận các chủ đề đúng chuyên môn, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc phối hợp.

Một vấn đề khó nhất hiện nay của các trường trung học phổ thông là rất khó có giáo viên dạy giáo dục địa phương, nên ảnh hưởng nhiều đến thời khóa biểu và khó quản lý được chất lượng.

Thứ ba, đây là môn học duy nhất có nội dung khác biệt giữa các địa phương. Chính sự khác biệt giữa các vùng miền nên nội dung giáo dục địa phương mang nét đặc trưng của vùng miền đó.

Mỗi địa phương phải tự xây dựng tài liệu riêng và giảng dạy cho học sinh đang sinh sống và học tập ở địa phương mình. Đội ngũ giáo viên dạy môn này cũng chỉ có kiến thức phù hợp về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế,... của chính địa phương mình. Vì thế, giáo viên không thể chia sẻ kinh nghiệm và kho học liệu giữa các vùng miền.

Thứ tư, tổ chức các hoạt động thực tế cũng gặp nhiều khó khăn. Mặc dù các hoạt động như tham quan di tích lịch sử, bảo tàng, làng nghề,... đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về địa phương, nhưng nhiều trường học gặp hạn chế về kinh phí để tổ chức các hoạt động này. Bên cạnh đó, việc sắp xếp thời gian cũng khó trong bối cảnh chương trình học khá dày đặc.

2.3. Những yếu tố cơ bản tác động đến giáo dục địa phương

2.3.1. Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến giáo dục địa phương

Cũng như lĩnh vực giáo dục nói chung, giáo dục địa phương nói riêng chịu sự tác động của nhiều yếu tố: kinh tế xã hội của địa phương, môi trường của địa phương, lịch sử văn hóa địa phương, .. Mỗi địa phương, mỗi vùng, mỗi khu vực có những nét bản sắc riêng, độc đáo không nơi nào giống nơi nào. Các địa phương khác nhau, mỗi cây mỗi hoa, tuy đa dạng, nhưng lại có sự thống nhất, có những đặc trưng của một vùng miền, vùng đất, của quê hương. Tác động của công nghệ 4.0 đến giáo dục địa phương có thể được nhìn nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh tích cực lẫn thách thức. Dưới đây là một số điểm nổi bật:

Tác động tích cực: Mở rộng cơ hội học tập: Công nghệ 4.0 giúp học sinh ở vùng sâu, vùng xa tiếp cận tài liệu học tập trực tuyến, các khóa học từ xa, bài giảng qua video. Giúp thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa tành thị và nông thôn.

Cá nhân hóa việc học: Trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) cho phép giáo viên hiểu rõ khả năng từng học sinh để xây dựng chương trình học phù hợp.

Tăng cường kĩ năng số: Học sinh và giáo viên được tiếp cận sớm với các công cụ kĩ thuật số như phần mềm dạy học, nền tảng học trực tuyến (Zoom, Google Classroom, v,v..) qua đó nâng cao kĩ năng công nghệ.

Hỗ trợ quản lí giáo dục: Các công cụ số giúp quản lí nhà trường hiệu quả hơn qua hệ thống quản lí học sinh, điểm số, hồ sơ số hóa,…

Thách thức: Hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ: Nhiều địa phương còn thiếu nhiều thiết bị (máy tính, internet, điện chưa ổn định,…) khiến việc áp dụng công nghệ còn nhiều hạn chế.

Thiếu kĩ năng sử dụng công nghệ: Giáo viên và học sinh ở một số vùng chưa được đào tạo bài bản về công nghệ, dẫn đến việc áp dụng chưa hiệu quả.

Chi phí đầu tư cao: Việc triển khai công nghệ 4.0 yêu cầu nguồn vốn lớn, gây khó khăn cho các địa phương có ngân sách hạn chế.

Nguy cơ lệ thuộc và mất cân bằng: Việc quá phụ thuộc vào công nghệ có thể làm giảm khả năng tư duy độc lập, kĩ năng xã hội, nhất là ở học sinh nhỏ tuổi.

Hiện nay, tốc độ lan tỏa của công nghệ 4.0 trong nền kinh tế rất lớn, ở mọi lĩnh vực, đặt ra thách thức chưa từng có đối với lực lượng sản xuất xã hội. Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ thay đổi bức tranh của thị trường lao động, làm thay đổi mạnh mẽ nhu cầu về nguồn nhân lực, cơ cấu ngành nghề và trình độ.

Yêu cầu đặt ra với nền giáo dục hiện nay là cần đáp ứng nhu cầu xã hội, cần đào tạo ra những người lao động có đủ kỹ năng mới để thích nghi với biến đổi nhanh chóng của môi trường sản xuất, kinh doanh. Nếu như trước đây, nội dung đào tạo chỉ chú trọng vào việc truyền tải kiến thức hàn lâm, thì hiện nay những kiến thức đó đã trở nên lạc hậu, thậm chí vô dụng trong nhiều môi trường doanh nghiệp, xí nghiệp năng động. Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi người lao động cần có đủ kiến thức cơ bản, các kỹ năng và khả năng tự học trong môi trường sáng tạo và cạnh tranh. Các nội dung đó bao gồm: các kiến thức và kỹ năng tư duy phản biện, khả năng ứng phó với thay đổi, khả năng làm việc sáng tạo; kỹ năng về thể chất: kỹ năng ngôn ngữ và kỹ năng về xã hội: giao tiếp, ứng xử, giải quyết xung đột, làm việc theo nhóm, tạo lập và duy trì quan hệ…

Quảng cáo

Giáo dục trong kỷ nguyên số 4.0 là quá trình chuyển đổi giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Sự vươn lên và phổ biến của IoT ( Internet vạn vật) đã giúp người học chủ động tiếp cận nguồn tri thức khắp mọi lĩnh vực. Vai trò người thầy đã có sự thay đổi từ người giảng dạy theo cách truyền thống (đọc và chép) sang người hướng dẫn, định hướng nhằm phát triển tối đa tư duy sáng tạo, chủ động của học sinh, đây cũng là ý nghĩa của cách mạng 4.0 trong giáo dục.

Cách mạng công nghiệp 4.0 trong giáo dục nói riêng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 nói chung đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với ngành giáo dục nước nhà. Từ sự vận dụng những thành tựu của cách mạng 4.0 vào giáo dục thì người học dù đang ở bất cứ đâu đều có thể truy cập vào thư viện của nhà trường để tự học, tự nghiên cứu. Như vậy, không thể chỉ tồn tại mô hình thư viện truyền thống mà các trường phải xây dựng được thư viện điện tử. Hoặc chúng ta sẽ có những mô hình giảng dạy mới như đào tạo trực tuyến không cần lớp học, người học sẽ được hướng dẫn học qua mạng. Công nghiệp 4.0 trong giáo dục sẽ tạo ra những lớp học, thầy giáo, thiết bị đều là “ảo”, mang tính mô phỏng, bài giảng được số hóa và chia sẻ qua những nền tảng như Facebook, meeting, zoom… dần trở thành xu hướng phát triển mới trong quá trình hội nhập số để tiến gần hơn với mục tiêu phát triển và xây dựng công dân toàn cầu - công dân số.

2.3.2. Tác động và ảnh hưởng của việc sáp nhập đơn vị hành chính

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng đến phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của học sinh, đồng thời giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn cuộc sống, thể hiện năng lực giải quyết vấn đề một cách sáng tạo.

Để hoàn thành mục tiêu đó, tất cả các môn học đều có giá trị ngang bằng nhau, trong đó có môn Giáo dục địa phương. Đây là môn học mới, dù không được đánh giá bằng điểm số nhưng vẫn được đánh giá rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông.

Theo chúng tôi, việc sáp nhập đơn vị hành chính các cấp được tiến hành, thì môn này chịu nhiều ảnh hưởng nhất, có thể biên soạn tài liệu mới hoặc chỉnh lý cho phù hợp với tỉnh mới sáp nhập.

Dưới đây là một số ảnh hưởng chính:

Tác động tích cực: Tăng hiệu quả quản lí giáo dục: Giảm số lượng đầu mối quản lí, giúp việc điều hành và phân bổ nguồn lực giáo dục (giáo viên, thiết bị, tài chính) được tập trung và hiệu quả hơn.

Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và đội ngũ: Có thể sáp nhập các trường học có quy mô nhỏ, từ đó tăng cường đầu tư vào các trường trọng điểm, nâng cao chất lượng day và học.

Tối ưu hóa nguồn lực: Giảm thiểu tình trạng dư thừa giáo viên ở một số nơi và thiếu hụt ở nơi khác, nhờ có sự phân bố lại sau khi sáp nhập.

Tác động tiêu cực: Khoảng cách địa lí gây khó khăn cho học sinh: Việc dồn lớp hoặc đóng cửa trường học nhỏ khiến nhiều học sinh phải đi xa hơn để đến trường, đặc biệt là ở vùng núi, nông thôn hặc vùng sâu, vùng xa.

Nguy cơ quá tải ở các trường sau khi sáp nhập: Nếu không có đầu tư tương ứng, việc gộp học sinh từ nhiều trường sẽ gây áp lực veefc ơ sở vật chất và nhân lực.

Tâm lí giáo viên và học sinh bị ảnh hưởng: Giáo viên có thể bị điều chuyển công tác hoặc mất việc nếu dư thừa, còn học sinh có thể phải làm quen với môi trường mới, ảnh hưởng đến tâm lí và quá trình học tập.

Mất bản sắc văn hóa địa phương: Một số trường học gắn liền với bản sắc vùng miền có thể bị giải thể hoặc thay đổi, ảnh hưởng đến truyền thống giáo dục địa phương.

2.3.3. Tác động của các yếu tố văn hóa, lịch sử, tập quán truyền thống của địa phương miền núi đến việc dạy học giáo dục địa phương

Giáo dục địa phương là một nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới, giúp học sinh hiểu biết sâu sắc hơn về quê hương, từ đó hình thành tình yêu quê hương đất nước, bản sắc dân tộc và tinh thần trách nhiệm. Ở các tỉnh miền núi – nơi có đặc điểm đa dạng về văn hóa, lịch sử và truyền thống – việc đưa các yếu tố này vào nội dung giáo dục địa phương không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc mà còn tăng tính gần gũi, thiết thực trong dạy học. Dưới đây sẽ phân tích các yếu tố văn hóa, lịch sử, tập quán truyền thống đặc trưng ở miền núi và vai trò, tác động của chúng đến quá trình tổ chức và thực hiện giáo dục địa phương.

- Các yếu tố đặc trưng văn hóa đa dân tộc

Miền núi Việt Nam là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số như: Tày, Nùng, Thái, H'Mông, Dao, Mường, Ê-đê, Bana, Khmer... Mỗi dân tộc có ngôn ngữ, trang phục, ẩm thực, lễ hội, nghệ thuật dân gian và tập quán sinh hoạt riêng biệt. Đây là kho tàng văn hóa sống động, phong phú mà giáo dục địa phương có thể khai thác.

Ví dụ, ở Tây Bắc, nghệ thuật xòe Thái, nghi lễ Then Tày, múa khèn H'Mông được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, rất thích hợp đưa vào môn âm nhạc hoặc hoạt động trải nghiệm. Ngôn ngữ dân tộc, tên gọi địa danh, tục ngữ, ca dao… cũng có thể được lồng ghép vào môn Ngữ văn hoặc Tiếng Việt ở tiểu học.

- Nơi có nhiều di tích lịch sử và truyền thống cách mạng

Các địa phương miền núi như Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Điện Biên… là cái nôi cách mạng, gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại như: Chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến khu Việt Bắc, nơi Bác Hồ từng sống và làm việc trong kháng chiến. Các di tích như hang Pác Bó, rừng Trần Hưng Đạo, ATK Định Hóa, đồi A1… là minh chứng lịch sử sống động cho lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu quật cường của đồng bào miền núi.

Truyền thống hiếu học, lòng trung thành với Tổ quốc, sự đoàn kết dân tộc là những giá trị lịch sử cần được khai thác trong giáo dục chính trị, đạo đức và giáo dục công dân.

- Phong tục tập quán và tri thức bản địa

Người dân miền núi sở hữu nhiều tri thức bản địa quý báu liên quan đến nông nghiệp, dược liệu, kiến trúc, môi trường… Ví dụ: kỹ thuật canh tác ruộng bậc thang, trồng dược liệu quý (sâm Ngọc Linh, tam thất, nghệ đen), nghề làm nhà sàn, chế biến rượu truyền thống, chữa bệnh bằng cây thuốc nam…

Các phong tục tập quán như lễ hội xuống đồng, tết cổ truyền, tục cưới hỏi, ma chay, tục cúng rừng... thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa con người và thiên nhiên, cộng đồng. Đây là nền tảng giúp học sinh hiểu được bản sắc văn hóa dân tộc và mối liên kết giữa con người với môi trường sống.

Nội dung tác động:

- Làm tăng tính thực tiễn và sự gắn bó của học sinh với quê hương.

Việc đưa các yếu tố văn hóa, lịch sử địa phương vào dạy học giúp học sinh không học kiến thức một cách rời rạc, trừu tượng mà thấy được mối liên hệ giữa bài học và cuộc sống xung quanh. Học sinh dễ hứng thú, tự hào và có động lực học tập cao hơn khi nội dung bài học gần gũi với những gì các em nhìn thấy, nghe thấy hằng ngày.

Ví dụ: học bài về âm nhạc dân gian, học sinh có thể học hát dân ca dân tộc mình; trong môn Mỹ thuật, có thể vẽ hoa văn trang trí trên trang phục truyền thống; trong môn Lịch sử, học về chiến thắng Điện Biên Phủ từ chính địa phương sinh sống…

- Góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

Giáo dục địa phương ở miền núi là một phương thức quan trọng để giữ gìn văn hóa truyền thống, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hiện đại hóa khiến nhiều giá trị văn hóa dân tộc bị mai một. Khi học sinh được học ngôn ngữ mẹ đẻ, hiểu biết về lễ hội, truyện cổ, tri thức dân gian…, các em sẽ hình thành ý thức trân trọng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

- Phù hợp với điều kiện sống và môi trường học tập của học sinh

Ở nhiều vùng miền núi, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên còn hạn chế. Việc lồng ghép yếu tố văn hóa, lịch sử địa phương không đòi hỏi nhiều thiết bị hiện đại mà chủ yếu dựa vào tri thức dân gian, nhân chứng lịch sử, nghệ nhân bản địa... Do đó, giáo dục địa phương có thể được tổ chức linh hoạt, sáng tạo như: tổ chức trải nghiệm, tham quan, phỏng vấn người già, thực hành nghề truyền thống…

- Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục

Khi nội dung giáo dục địa phương gắn với di sản văn hóa, truyền thống địa phương, người dân, già làng, trưởng bản, nghệ nhân... có thể tham gia vào quá trình dạy học. Họ là những "giáo viên nhân dân", góp phần tạo ra môi trường giáo dục mở, cộng đồng hóa và phát triển giáo dục toàn diện.

Tóm lại, các yếu tố văn hóa, lịch sử, truyền thống của địa phương miền núi không chỉ là kho tàng quý báu trong phát triển giáo dục mà còn là phương tiện hiệu quả để bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách và trách nhiệm cho thế hệ trẻ. Việc khai thác các yếu tố này vào nội dung giáo dục địa phương cần được tiến hành bài bản, khoa học, có sự tham gia của nhà trường, chính quyền và cộng đồng.

2.4. Một số đề xuất cụ thể

Xây dựng nội dung giáo dục địa phương phù hợp với từng vùng dân tộc thiểu số, bảo đảm sự tôn trọng văn hóa và tiếng nói dân tộc.

Tăng cường tổ chức hoạt động trải nghiệm, học tập thực tế gắn với làng nghề, lễ hội, di tích, danh thắng.

Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng dạy học gắn với văn hóa bản địa.

Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – cộng đồng trong tổ chức giáo dục địa phương.

Giáo dục luôn mang tính kế thừa và chịu sự tác động của các yếu tố xã hội như văn hóa, lịch sử, truyền thống, tập quán, thói quen,… Sự tác động của các yếu tố này luôn bao hàm cả hai khả năng tích cực và tiêu cực. Vấn đề đặt ra là phải biết kế thừa, vận dụng, phát huy các yếu tố tích cực, nhất là các giá trị văn hóa, truyền thống đã được kết tinh qua nhiều thời kỳ và hạn chế những yếu tố tiêu cực, lạc hậu làm cản trở quá trình thực hiện nội dung giáo dục địa phương.

3. Kết luận

Nội dung giáo dục địa phương (GDĐP) đối với các tỉnh miền núi phía Bắc không chỉ đơn thuần là một phần bổ sung của chương trình giáo dục phổ thông, mà còn là cầu nối quan trọng giúp học sinh dân tộc thiểu số, ít người, vùng sâu vùng xa phát triển toàn diện cả về trí tuệ, nhân cách, kỹ năng sống lẫn bản sắc văn hóa dân tộc. Giá trị của GDĐP thể hiện rõ rệt trong nhiều khía cạnh, từ việc bồi đắp tri thức phù hợp với hoàn cảnh sống, phát huy văn hóa bản địa, đến việc nâng cao nhận thức công dân và năng lực thích ứng với sự phát triển xã hội.

GDĐP có giá trị lớn trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Ở miền núi phía Bắc, nơi có hàng chục cộng đồng dân tộc thiểu số cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghệ thuật truyền thống riêng biệt. Việc đưa các yếu tố văn hóa địa phương như truyện dân gian, lễ hội truyền thống, trang phục, ẩm thực, nghề thủ công... vào chương trình giáo dục giúp học sinh hiểu rõ cội nguồn của mình, thêm yêu quê hương, trân trọng di sản ông cha để lại. Qua đó, GDĐP góp phần tạo nên thế hệ học sinh tự hào về bản sắc dân tộc, có ý thức giữ gìn và phát triển văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Bên cạnh đó, nội dung GDĐP còn giúp nâng cao năng lực học tập và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Những kiến thức về khí hậu, thổ nhưỡng, cây trồng vật nuôi địa phương, kỹ thuật canh tác phù hợp với vùng núi, phòng chống thiên tai hay bảo vệ rừng... giúp học sinh gắn học với hành, học đi đôi với làm. Các em dễ dàng liên hệ kiến thức sách vở với cuộc sống hàng ngày của gia đình, từ đó thấy được ý nghĩa thiết thực của việc học tập, nâng cao tính chủ động và sáng tạo trong tiếp thu tri thức.

Không chỉ dừng lại ở tri thức, GDĐP còn có giá trị đặc biệt trong việc hình thành phẩm chất đạo đức và nhân cách học sinh dân tộc. Với những nội dung giáo dục về truyền thống cần cù, hiếu học, tinh thần đoàn kết trong cộng đồng, lòng yêu nước, ý thức giữ gìn thiên nhiên, giáo dục địa phương giúp nuôi dưỡng những giá trị sống tích cực trong học sinh miền núi. Ở những nơi mà điều kiện sống còn nhiều thiếu thốn, việc giáo dục phẩm chất thông qua các giá trị bản địa có ý nghĩa thiết thực, dễ thấm và dễ tiếp nhận hơn các khái niệm đạo đức trừu tượng từ bên ngoài.

Một trong những giá trị nổi bật khác là tăng cường sự gắn kết giữa nhà trường với cộng đồng địa phương. Khi giáo dục gắn với địa phương, nhà trường phải phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh, già làng, trưởng bản, nghệ nhân và các tổ chức cộng đồng để sưu tầm, lựa chọn, giảng dạy nội dung phù hợp. Quá trình này tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa giáo dục và xã hội, vừa làm phong phú thêm nội dung giảng dạy, vừa giúp nhà trường trở thành trung tâm văn hóa - giáo dục của địa phương. Học sinh khi được học trong môi trường tôn trọng văn hóa của mình sẽ cảm thấy được thấu hiểu và khuyến khích phát triển toàn diện.

Giá trị của GDĐP còn thể hiện ở khả năng thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa vùng sâu vùng xa và vùng thuận lợi, từ đó thúc đẩy công bằng giáo dục. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, việc phát triển GDĐP ở vùng miền núi phía Bắc cũng mang giá trị chiến lược lâu dài. Nó giúp học sinh dân tộc thiểu số giữ vững bản sắc trong môi trường hội nhập, đồng thời được trang bị kiến thức và kỹ năng thiết thực để thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của thời đại. Nội dung GDĐP vì thế không chỉ có ý nghĩa trong khuôn khổ địa phương, mà còn góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, có bản lĩnh văn hóa, cho sự phát triển bền vững của quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT. Hà Nội.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Hướng dẫn xây dựng nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Hà Nội.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2022). Thông tư số 13/2022/TT-BGDĐT về quy định tiêu chí, quy trình xây dựng và tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông. Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, Hà Nội ngày 04 tháng 11 năm 2013. Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,. Văn phòng Trung ương Đảng. Hà Nội

5. Ủy ban Dân tộc. (2021). Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030. Hà Nội.