GS.TS Trần Quốc Thành -
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ và Công nghệ Hà Nội
Tóm tắt: Giá trị và phản giá trị là những phạm trù luôn tồn tại song hành cả trong lý luận và thực tiễn xã hội. Giáo dục giá trị cho sinh viên phải đi đối với phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn các biểu hiện của phản giá trị. Đó là phương pháp giáo dục chủ động, tích cực xây đi đôi với chống. Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu về phản giá trị và những biểu hiện của phản giá trị ở sinh viên, trên cơ sở đó đề xuất các nội dung, phương thức giáo dục ngăn ngừa phản giá trị ở sinh viên hiện nay.
Từ khóa: Giá trị, phản giá trị, giáo dục phòng ngừa, sinh viên
Nhận bài: 18/9/2025; Biên tập: 29/9/2025; Duyệt đăng: 01/10/2025
1. Đặt vấn đề
Giá trị và giáo dục giá trị cho con người là một vấn đề hiện đang rất được quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị của các tầng lớp xã hội trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu về giá trị nghề nghiệp, giá trị văn hóa, giá trị gia đình, giá trị của thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên…Các công trình đã chỉ rõ những giá trị được đề cao trong xã hội nói chung và trong các lĩnh vực, các tầng lớp xã hội nói riêng. Đồng thời, cũng chỉ ra sự chuyển đổi giá trị trong xã hội, trong từng lĩnh vực và từng tầng lớp xã hội.
Các nghiên cứu đã làm rõ những giá trị trường tồn của con người Việt Nam; chỉ ra những giá trị đã thay đổi, thậm chí có những giá trị đã đi ngược lại giá trị mà những thế hệ trước coi trọng. Điều đó có nghĩa đã có sự khác biệt trong cách nhìn nhận của nhiều người về giá trị. Một giá trị có thể được nhiều người cho là tốt đẹp, nhưng một số khác lại không cho là như thế, phải ngược lại mới là tốt đẹp. Ví dụ: Tình thương yêu con người được nhiều người cho là một giá trị tốt đẹp, cần được đề cao. Nhưng một số người lại cho rằng, những người chỉ dành tình yêu thương cho người khác là dại dột, người khôn ngoan là người dành tình yêu thương cho chính mình trước, sau đó mới đến người khác. Điều đó cho thấy, không thể chỉ nhìn giá trị theo một chiều mà phải nhìn giá trị theo nhiều chiều, thậm chí các chiều trái ngược nhau. Có giá trị sẽ có phi giá trị hay còn gọi là phản giá trị.
Sinh viên là một tầng lớp xã hội đặc biệt cũng sẽ có những giá trị và phản giá trị. Niên giám thống kê năm 2023 (xuất bản tháng12/2024) cho biết số liệu đến năm 2020, toàn quốc có: 1.905.956 sinh viên; 257.637 sinh viên Cao đẳng Nghề [ 9; tr 934-938]. Theo niên giám thống kê năm 2024, số lượng sinh viên có chiều hướng tăng theo từng năm. Vì vậy, từ con số năm 2020, có thể ước lượng con số của năm 2024: cả nước có khoảng gần 2.000.000 sinh viên các cơ sở giáo dục đại học, cùng với khoảng 260.000 sinh viên cao đẳng. Đây là một lực lượng đông đảo trong xã hội, có vai trò quan trọng và có sức ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nên phản giá trị của sinh viên cũng sẽ có tác động rất to lớn đến các lực lượng xã hội khác. Vậy những phản giá trị nào có thể có ở sinh viên và chúng biểu hiện thế nào? Làm thế nào để giáo dục phòng ngừa những phản giá trị ở sinh viên? Đây là những câu hỏi rất cần được nghiên cứu để trả lời.
2. Quan niệm về phản giá trị và biểu hiện phản giá trị ở sinh viên hiện nay
2.1. Quan niệm về phản giá trị
Giá trị có thể được xem xét dưới nhiều góc độ, từ góc độ chung nhất đến các góc độ theo từng lĩnh vực cụ thể. Theo góc độ chung nhất, giá trị là “Cái mà người ta dùng làm cơ sở để xét xem một vật có lợi tới mức nào đối với con người; hoặc Cái mà người ta dựa vào để xét xem một người đáng quí đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng”[10]. Như vậy, giá trị là cái mà con người dùng để xem xét một đối tượng nào đó có lợi cho con người đến mức độ nào, càng có lợi thì giá trị càng cao. Ngược lại, đối tượng không có lợi cho con người thì được xem là không có giá trị, có hại cho con người thì được xem là phi giá trị, hay còn gọi là phản giá trị. Nhưng khi xem xét một đối tượng được coi là có giá trị thế nào, còn phụ thuộc vào giá trị quan của mỗi người. Nghĩa là, một đối tượng được đánh giá là có giá trị hay không, giá trị đến mức nào, không chỉ do đối tượng đó có lợi đến mức nào đối với con người, mà chủ yếu phụ thuộc vào giá trị quan của con người. Ví dụ như đồng tiền, có thể là giá trị với người này, nhưng không là giá trị đối với người khác, do giá trị quan niệm của mỗi người có sự khác nhau. Còn lợi ích của đồng tiển thì về cơ bản vẫn thế.
Điều đó cho thấy, giá trị vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách quan của giá trị do lợi ích của một đối tượng mang lại cho con người mà người ta không thể phủ nhận. Tính chủ quan là do giá trị quan của con người quy định. Vì thế, xác định thế nào là giá trị và thế nào là phản giá trị không đơn giản. Trước hết, cần làm rõ các cơ sở khách quan để xác định giá trị, trên cơ sở xác định được giá trị mới có thể xác định các phản giá trị.
Để xác định giá trị cần dựa vào hệ thống chuẩn mực trong xã hội. Chuẩn mực xã hội có thể tồn tại dưới dạng thành văn và bất thành văn. Chuẩn mực thành văn đó là pháp luật, các quy tắc, quy định trong các cộng đồng dùng để điều chỉnh hành vi của con người khi tham gia vào cộng đồng đó, như: các nội quy, quy tắc trong cơ quan, trường học, khu dân cư… Những chuẩn mực bất thành văn gồm có các chuẩn mực đạo đức, các khuôn mẫu hành vi, cách ứng xử đã được thừa nhận và đang vận hành trong xã hội. Từ những chuẩn mực này, chúng ta có thể xác định giá trị và hệ giá trị đang vận hành trong xã hội bao gồm tất cả những gì phù hợp với chuẩn mực xã hội. Trước hết là phù hợp với pháp luật, với chuẩn mực đạo đức, với các quy tắc, quy định của xã hội và cộng đồng. Những gì phù hợp với các chuẩn mực thì được đánh giá cao, nghĩa là có giá trị. Những gì không phù hợp sẽ bị đánh giá thấp, những gì đi ngược lại các chuẩn mực sẽ được coi là phản giá trị. Ví dụ, những hành vi phù hợp với chuẩn mực như: Sự hiếu thảo với cha mẹ là giá trị, thiếu tôn trọng và vô ơn với cha mẹ là phản giá trị, bởi hiếu thảo với cha mẹ là một chuẩn mực được quy định cả trong pháp luật và trong đạo đức. Như vậy, muốn xác định phản giá trị phải căn cứ vào giá trị và chuẩn mực xã hội, mà giá trị lại có tính chủ quan, nên phải căn cứ chủ yếu vào cơ sở khách quan để xem xét. Cơ sở khách quan chính là các chuẩn mực xã hội. Điều đó có nghĩa, trong trường hợp này, chúng ta đang xem xét những giá trị và phản giá trị cốt lõi của một nhóm người, cộng đồng người.
Như vậy, có thể hiểu phản giá trị là những cái ngược lại với giá trị. Cụ thể là những gì trái với chuẩn mực (có thể là luật pháp, có thể là các chuẩn mực đạo đức, xã hội), được xã hội đánh giá thấp hoặc bị lên án thì đó là phản giá trị. Phản giá trị cũng có nghĩa là những cái không có lợi cho con người, thậm chí làm hại con người.
Với quan niệm như vậy, chúng ta có thể xem xét những phản giá trị của sinh viên hiện nay để có thể đưa ra các biện pháp giáo dục phòng ngừa phản giá trị, hướng sinh viên tới những giá trị tốt đẹp. Trước hết xem xét những thay đổi trong hệ giá trị của con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, trên cơ sở đó xác định các phản giá trị của con người Việt Nam và những biểu hiện phản giá trị đó ở sinh viên. Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc, hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay bao gồm các giá trị:
“(1) Các giá trị chung của loài người: Tính người, tình người, các giá trị Chân, Thiện, Mỹ của đời sống tinh thần, tâm lý, giá trị của từng con người, từng dân tộc;
(2) Các giá trị toàn cầu (thế giới và khu vực): Hoà bình, an ninh, hữu nghị, hợp tác, không xâm phạm chủ quyển, độc lập dân tộc (tôn trọng giá trị bản sắc dân tộc);
(3) Các giá trị dân tộc: Tinh thần dân tộc (lấy các giá trị bản sắc dân tộc làm chuẩn mực), yêu nước, trách nhiệm cộng đồng;
(4) Các giá trị gia đình: Hoà thuận, hiếu thảo, coi trọng giáo dục gia đình;
(5) Các giá trị bản thân: Giá trị nhân cách, giá trị cá nhân (giá trị cá thể) là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuốn sách, được đề cập trong nhiều bài mục:
(5.1) Yêu nước;
(5.2) Dân chủ;
(5.3) Trách nhiệm với xã hội, cộng đồng, gia đình và bản thân;
(5.4) Cần cù: Chăm học, chăm làm - tiêu chí đầu tiên của người chân chính;
(5.5) Khoa học: Tư duy duy lý, tay nghề, tác phong công nghiệp;
(5.6) Chính trực: Chân thật, đứng đắn, liêm khiết;
(5.7) Lương thiện: Quan hệ người - người tốt đẹp, tôn trọng và thương người;
(5.8) Gia đình hòa thuận, hiếu thảo;
(5.9) Thích nghi và sáng tạo;
(5.10) Chí hướng: Cầu tiến” [1, tr 336].
Các giá trị được nêu trên đều phù hợp với luật pháp Việt Nam, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, xã hội đang tồn tại và có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội và sự phát triển của mỗi cá nhân. Các giá trị này cũng trở thành những tiêu chí đánh giá con người xem họ có ích đến mức nào cho xã hội, có đáng được trân trọng hay không. Vì vậy, căn cứ vào các giá trị đã nêu trên, có thể xác định phản giá trị là những trái ngược với những giá trị này.
1. Các phản giá trị chung của loài người là thiếu tính người, tình người; đời sống tinh thần, tâm lý thiếu Chân, Thiện, Mỹ
2. Các phản giá trị toàn cầu (thế giới và khu vực) là gây sự, phá vỡ an ninh, sự hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc, quốc gia; có những hành vi xâm phạm chủ quyển, độc lập dân tộc, không tôn trọng giá trị bản sắc dân tộc;
3. Các phản giá trị dân tộc: Thiếu tinh thần dân tộc, không lấy các giá trị bản sắc dân tộc làm chuẩn mực, không yêu nước, không có trách nhiệm với cộng đổng;
4. Các phản giá trị gia đình: Mất đoàn kết, thiếu trách nhiệm với cha mẹ, ông bà, không coi trọng giáo dục gia đình;
5. Các phản giá trị bản thân: Phản giá trị nhân cách, phản giá trị cá nhân:
5.1. Không có ý thức bảo vệ, thậm chí phản bội Tổ quốc
5.2. Độc đoán, chuyên quyền;
5.3. Thiếu trách nhiệm với xã hội, với cộng đồng, với gia đình và với bản thân;
5.4. Ngại khó, lười biếng: Lười học, lười làm
5.5. Tùy tiện, cảm tính: suy nghĩ và hành động cảm tính, không có tay nghề, tác phong nông nghiệp;
5.6. Gian dối: nói dối, gian lận, khôn lỏi, đố kỵ
5.7. Bất lương, ích kỷ: Lợi dụng người khác, thu vén lợi ích cá nhân, thiếu tình thương với con người;
5.8. Gia đình mất đoàn kết, bất hiếu với cha mẹ
5.9. Ỷ lại, trông chờ, phó mặc cho người khác, máy móc;
5.10. Không có chí hướng: an phận, bàn lùi
Những người theo đuổi hay đề cao các phản giá trị này đều không được chấp nhận và bị đánh giá thấp. Điều đó có nghĩa: Các giá trị và các phản giá trị đều trở thành chuẩn mực để xem xét, đánh giá con người. Trước hết, các phản giá trị này cho phép chúng ta xem xét chúng biểu hiện ở con người Việt Nam ở mức nào. Theo quan niệm của triết học duy vật, sự vật bao giờ cũng có các mặt đối lập nên con người có mặt tốt đương nhiên có mặt xấu; trong cộng đồng có người hướng tới những giá trị tích cực sẽ có những người hướng tới những giá trị tiêu cực. Do đó, cần xác định rõ những biểu hiện phản giá trị của người Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu bàn tới, khẳng định sự tồn tại của những phản giá trị đó để có cơ sở tìm hiểu các phản giá trị ở sinh viên hiện nay, từ đó có biện pháp giáo dục phòng ngừa hữu hiệu.
Trong tác phẩm Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với Tâm lý học và Giáo dục học [2], Giáo sư Phạm Minh Hạc đã nêu những điều cần khắc phục ở con người Việt Nam; có thể hiểu đây là những phản giá trị mà chúng ta cần tránh. Cụ thể là:
“- Biểu hiện rõ nhất của tư tưởng tiểu nông là thiếu khoa học, chủ quan, duy ý chí, phiến diện, giản đơn, nặng về cảm tính và cảm tình.
- Tác phong nông nghiệp biểu hiện khá rõ là tính tùy tiện (ví dụ, giờ giấc ít khi chính xác, tính kế hoạch kém, cẩu thả).
- Hết sức bảo thủ, trì trệ, không năng động, thiếu sáng tạo, không nhạy cảm với cái mới, kém tính thích ứng.
- Cục bộ, địa phương chủ nghĩa, gia đình chủ nghĩa, đặt họ hàng thân thích trên quyền lợi chung còn nặng nề [2, tr 286].
Giáo sư cũng nêu rõ 13 tính xấu của con người Việt Nam, qua ý kiến của Giáo sư Ngô Đức Thịnh trong cuốn Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đối mới và hội nhập, đó là:
|
“Vụ lợi/ham tiền |
Tò mò/thóc mách |
|
Giả dối |
Chuộng ngoại |
|
Tự ti |
Tham vặt |
|
Thực dụng |
Cậy thần cậy thế |
|
Vô kỷ luật |
Lười biếng |
|
Thích hưởng thụ |
Thụ động/ít sáng tạo |
|
Mê tín dị đoan” [2, tr 289] |
|
Giáo sư Phạm Minh Hạc đồng tình với những quan điểm của các nhà nghiên cứu về giá trị của con người Việt Nam và khẳng định: Bên cạnh những giá trị trường tồn, cũng cần khắc phục những hạn chế của người Việt Nam nảy sinh trong xã hội nông nghiệp. Nói khác đi, đó chính là các phản giá trị vẫn còn tồn tại trong xã hội hiện nay. Thực tế ai có những đức tính ngược lại với những tính xấu này, thì người đó sẽ được đánh giá cao và những đức tính tốt đẹp đó là giá trị mà xã hội cần tôn vinh, định hướng cho mọi người hướng tới.
Qua các ý kiến nêu trên, có thể thấy sự tồn tại thực tế của các giá trị và phản giá trị trong xã hội chúng ta. Các giá trị và phản giá trị này có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển xã hội. Có những giá trị trường tồn theo thời gian, nhưng mỗi giai đoạn phát triển xã hội cũng này sinh những giá trị mới, kèm theo các giá trị mới là các phản giá trị mới. Có những giá trị trường tồn thì cũng có những phản giá trị trường tồn. Thời nào người Việt Nam cũng đề cao sự cần cù, chăm chỉ với tư cách là giá trị trường tồn; nhưng kèm theo đó là phản giá trị, đólà sự lười biếng mà thời nào cũng bị lên án. Từ những quan niệm về giá trị và phản giá trị của con người Vệt Nam, có thể xem xét các phản giá trị trong sinh viên theo hệ giá trị chung đó.
2.2. Một số biểu hiện phản giá trị ở sinh viên hiện nay
Căn cứ vào các giá trị và phản giá trị đã nêu ở phần trên, có thể xem xét những phản giá trị ở sinh viên được biểu hiện như thế nào để có biện pháp giáo dục, định hướng giá trị cho sinh viên, giúp sinh viên tránh xa các phản giá trị.
Căn cứ vào các phản giá trị đã nêu ở trên để khẳng định, các nhà nghiên cứu đã nêu ra các phản giá trị, những thói xấu mà con người Việt Nam cần khắc phục thì trong sinh viên đương nhiên cũng có những phản giá trị đó. Trong bài viết này tác giả chỉ đề cập những biểu hiện phản giá trị rõ nét nhất trong đời sống của sinh viên với tư cách những người đang đi học, không xem xét toàn bộ những phản giá trị của sinh viên khi họ đóng vai là một công dân Việt Nam. Đến nay cũng chưa có những nghiên cứu sâu về phản giá trị trong sinh viên, chỉ có nghiên cứu về những biểu hiện chưa lành mạnh, hoặc gọi là tiêu cực trong sinh viên. Nếu quan niệm phản giá trị là những tiêu cực mà sinh viên hướng tới thì cũng có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu đó để nêu lên những biểu hiện phản giá trị ở sinh viên hiện nay.
Trước hết, có thể nêu một số biểu hiện phản giá trị trong lối sống của sinh viên. Hiện tượng sống buông thả là một biểu hiện của phản giá trị trong lối sống. Trong khi một giá trị quan trọng trong lối sống của con người Việt Nam là nghiêm túc, có trách nhiệm với bản thân và gia đình thì một số sinh viên không coi trọng, mà có lối sống buông thả. Sự buông thả thể hiện rõ nét trong các cặp đôi yêu nhau trong trường học và để lại những hậu quả không tốt cho sức khỏe, cho việc học tập và rèn luyện của họ. Ví dụ về sinh viên một trường cao đẳng nghề. Khi được kiểm tra sức khỏe để tham gia đợt tập quân sự theo chương trình đào tạo, trong số mấy trăm sinh viên được khám sức khỏe thì đã có gần 20 em đang mang thai; một trường cao đẳng khác cùng trên địa bàn Hà Nội, một đoàn chưa đến 40 sinh viên đi thực tập tốt nghiệp, bên y tế của cơ sở báo cáo về trường là có 4 em mang thai, đề nghị được sắp xếp các công việc thực tập phù hợp. Đương nhiên, số sinh viên này đều chưa có gia đình vì mới trong độ tuổi từ 18 đến 20 và đang đi học nhưng có lối sống buông thả nên sớm mang thai. Hai sự việc trên cho thấy, sinh viên bước vào tình yêu nam nữ rất sớm và rất thoải mái trong quan hệ tình dục. Số liệu này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của chúng tôi được công bố trên Tạp chí Tâm lý học xã hội số 6/2015: Có 22,5% trong số 200 sinh viên được hỏi trả lời: sinh viên có biểu hiện muốn sống thử khi có điều kiện [6]. Có thể, số liệu này đã lạc hậu, hiện tượng muốn sống thử khi có điều kiện đã ngày càng nhiều hơn nên mới có số lượng sinh viên mang thai nêu trên. Đấy là chưa kể đến những sinh viên có thể đã sống thử mà không mang thai.
Một biểu hiện phản giá trị thứ 2 của sinh viên hiện nay làm các nhà giáo dục, các nhà quản lý đau đầu tìm cách hạn chế mà kết quả cũng chưa được cải thiện đáng kế. Đó là hiện tương gian lận trong thi cử. Trong khi giá trị cần hướng tới là sự trung thực thì nhiều sinh viên lại hướng tới sự gian lận, một phản giá trị của trung thực. Biểu hiện cụ thể là, ngay từ khi chuẩn bị vào các trường đại học, những sinh viên tương lai đã có sự gian lận. Đó là gian lận trong chuẩn bị các điều kiện để dự tuyền vào đại học, trong đó có thi tốt nghiệp phổ thông. Vì thế, trong nhiều năm, Bộ Giáo dục & Đào tạo liên tục đổi mới cách tổ chức thi, chấm thi để chống gian lận. Gần đây nhất, bà Nguyễn Thanh Hải, Trưởng ban Công tác Đại biểu của Quốc hội đã phát biểu: “Điểm học bạ dùng để đấy xét tuyển vào đại học, không khác gì chỉ định thầu” (Mục báo chí toàn cảnh VTV1 ngày 16/3/2025). Điều đó có nghĩa, điểm học bạ của học sinh trung học phổ thông không đáng tin cậy. Vì điểm học bạ không trung thực, kết quả học tập của học sinh được đánh giá không khách quan nên kết quả học tập của học sinh không thể dùng để xét tuyển các em vào đại học. Việc này có liên quan đến thầy cô giáo, cha mẹ học sinh nhưng học sinh không phải vô can. Vì chính các em không phản đối khi mình được nâng đỡ, đa số các em chấp nhận và mong muốn có được điểm số cao để được vào đại học. Chúng ta chưa nói đến việc người lớn làm hư các em mà hãy nói đến bản thân những học sinh. Chính các em cũng có tư tưởng vào được đại học bằng mọi cách, kể cả gian lận trong quá trình học ở phổ thông. Ở các em, sự gian lận đã được nuôi dưỡng bởi những mong muốn của người lớn. Giáo viên chạy theo thành tích, cha mẹ muốn con được bằng người nên đã hướng các em vào các phản giá trị. Đó là gian lận. Vì vậy lên học đại học, những phản giá trị này vẫn chi phối các em nên nhiều sinh viên có thái độ sai trong các kỳ thi.
Trong nghiên cứu của chúng tôi năm 2015, có đến 68,7% sinh viên trả lời: Các bạn sinh viên có gian lận trong thi cử hoặc thờ ơ với sự gian lận. Cứ cho rằng hiện nay, do cách tổ chức thi đã có nhiều cải tiến, hiện tượng gian lận có giảm đi nhưng hiện tượng này vẫn tồn tại. Đồng thời hiện tượng coi trọng điểm số, không cần chất lượng thật vẫn tồn tại. Cũng trong nghiên cứu đã nêu, có đến 53,7% sinh viên cho rằng hiện tượng Coi trọng điểm số, không cần chất lượng thật là có trong sinh viên. Đây cũng là vấn đề những người có trách nhiệm trong ngành Giáo dục và Đào tạo cần quan tâm. Vì ở giáo dục phổ thông, hiện nay tìm được một học sinh học lực trung bình rất khó. Trào lưu này đã lan đến đại học và sau đại học. Số sinh viên tốt nghiệp loại trung bình bắt đầu hiếm dần, số sinh viên tốt nghiệp xuất sắc ngày càng nhiều. Đây cũng là biều hiện của sự giả dối, một phản giá trị của trung thực vẫn tồn tại và biểu hiện khá rõ nét trong xã hội và trong sinh viên.
Cùng với các phản giá trị trong học tập của sinh viên, trong các mối quan hệ sinh viên cũng biểu hiện những phản giá trị như tôn sùng những thần tượng có những hành vi tiêu cực, không phù hợp với lối sống của con người Việt Nam. Đó là Tôn sùng những người biết ăn chơi hưởng lạc. Khi được hỏi trong sinh viên có biểu hiện này không thì có 18,7% trả lời có biểu hiện và 58,8% trả lời ít thấy. Điều đó có nghĩa sinh viên có biểu hiện phản giá trị này. Điều này cũng được phản ánh trong trào lưu tôn sùng một tên tội phạm là Khá Bảnh của thanh niên cuối những năm 2010. Trong số thanh niên đó có cả học sinh, sinh viên. Điều nhiều người không lý giải được là mặc dù là một tên lưu manh với 2 tội danh, bị phạt tù 10 năm 6 tháng và bị đi tù năm 2019, nhưng nhiều thanh niên lại thần tượng hắn. Nghĩa là thanh niên tôn vinh các phản giá trị, còn những giá trị tốt đẹp lại không thu hút được họ. Hiện tượng này cho thấy, một bộ phận thanh niên, trong đó có sinh viên chưa nhận thức được những giá trị tốt đẹp cần hướng tới mà hành động một cách cảm tính, hùa theo đám đông. Đây cũng là một phản giá trị, biểu hiện rõ nét của tư tưởng tiểu nông là làm việc thiếu khoa học, chủ quan, duy ý chí, phiến diện, giản đơn, nặng về cảm tính và cảm tình đã nêu ở trên. Tất nhiên, số này không nhiều nhưng cũng cho thấy, biểu hiện phản giá trị này là có tồn tại trong sinh viên.
Ngoài những biểu hiện khá rõ nét các phản giá trị ở sinh viên nêu trên, một bộ phận sinh viên còn biểu hiện sự thực dụng, coi trọng lợi ích cá nhân trong các mối quan hệ, rõ nhất trong quan hệ với bạn bè và thầy cô giáo. Kết quả nghiên cứu trong bài báo đã dẫn ở trên cho thấy: 15% số sinh viên được hỏi cho rằng, trong sinh viên có biểu hiện Coi trọng lợi ích cá nhân khi chọn bạn và 12,5 % có biểu hiện Tính toán lợi ích cá nhân khi đến thăm giảng viên. Đây là những phản giá trị biểu hiện không thật rõ nét trong sinh viên, nhưng một số sinh viên đã thừa nhận có những biểu hiện này. Đây là biểu hiện của phản giá trị thực dụng và lợi dụng người khác, thu vén lợi ích cá nhân. Trong quan niệm của một số nền văn hóa nước ngoài, thực dụng chưa hẳn đã xấu, nhưng nếu thực dụng mà chỉ quan tâm đến lợi ích của mình, tính toán thiệt hơn trong các mối quan hệ lại trở thành những phản giá trị. Vì thế, trong 13 tính xấu của con người Việt Nam, có một tính xấu đó là thực dụng. Điều này cũng được khẳng định ở một số hiện tượng tồn tại trong xã hội hiên nay mà dư luận xã hội bàn luận khá nhiều. Đó là hiện tượng sugar daddy và sugar baby. Nhiều sinh viên đã trở thành sugar baby chỉ để thỏa mãn nhu cầu vật chất của mình. Xét về mặt quan hệ nam nữ, thì đây cũng là hiện tượng sinh viên có lối sống buông thả. Nhưng quan hệ với bạn trai có khác với quan hệ với sugar daddy. Vì những người đàn ông được gọi là sugar daddy đều là những người chỉ lợi dụng sự trẻ trung của các cô gái, không có ý định gắn bó lâu dài. Đa số họ có gia đình đàng hoàng, không thể cưới các sugar baby. Chỉ là họ có lối sống phóng túng, chạy theo những ham muốn tầm thường nhất thời. Nếu có nguy cơ bị lộ, họ lập tức tháo chạy, từ bỏ các sugar baby. Ngược lại các sugar baby cũng thế. Vì vậy, đây cũng là một biểu hiện phản giá trị cần quan tâm ở sinh viên. Nếu các em vẫn có lối sống và cách ứng xử như vậy, tương lai của các em sẽ không được bảo đảm và là một tấm gương xấu cho những thế hệ tiếp theo.
Tóm lại, trong sinh viên có tồn tại một số biểu hiện phản giá trị. Các biểu hiện cần được điều chỉnh, uốn nắn để hướng sinh viên tới những giá trị tốt đẹp, tránh hướng tới những phản giá trị đã nêu.
2.3. Giáo dục phòng ngừa phản giá trị ở sinh viên
Từ quan niệm phản giá trị là những gì ngược lại với giá trị, những biểu hiện phản giá trị ở sinh viên hiện nay, có thể xác định các nội dung và hình thức giáo dục phòng ngừa phản giá trị ở sinh viên. Đó là tập trung giáo dục những giá trị sống cốt lõi cho sinh viên, hướng sinh viên đến những giá trị phù hợp với các chuẩn mực, phù hợp với hệ giá trị đang vận hành trong xã hội hiện nay. Khi sinh viên xác định đúng và hướng tới các giá trị tốt đẹp, các em sẽ tránh xa được các phản giá trị. Vậy giáo dục giá trị cho sinh viên sẽ gồm những nội dung gì và thực hiện bằng cách nào?
Trước hết, chúng ta có thể thống nhất quan niệm về giáo dục giá trị. Theo tác giả Phạm Viết Vượng,“Quá trình giáo dục giá trị bao gồm ba khâu: tác động vào nhận thức, tác động vào tình cảm, thái độ và tổ chức thực hành, trải nghiệm, rèn luyện các hành vi thói quen làm theo các chuẩn giá trị”[10]. Từ quan niệm về giáo dục giá trị như vậy, chúng ta có thể hiểu: Cần tác động để sinh viên có nhận thức đúng đắn về các giá trị đang vận hành trong xã hội, biết được những phản giá trị cần tránh. Trên cơ sở đó, các em hình thành thái độ tích cực với các giá trị, tôn trọng và yêu quý các giá trị tốt đẹp. Khi sinh viên có nhận thức đúng, có thái độ tích cực, các em cần được thực hành trải nghiệm nhận thức và thái độ của mình trong các hoạt động thực tiễn, hình thành các thói quen nói và làm theo các chuẩn giá trị được tôn vinh.
Căn cứ vào các giá trị mà con người Việt Nam đang hướng tới và những phản giá trị có biểu hiện ở sinh viên, có thể xác định một số giá trị để giáo dục cho sinh viên như sau: Ngoài các giá trị chung của người Việt Nam, cần tập trung vào một số giá trị sau:
Về giá trị cá nhân: Ngoài những giá trị đương nhiên phải có như yêu nước, tinh thần dân tộc, sinh viên cần được giáo dục các giá trị như: Tự tin, trung thực, trách nhiệm, kiên trì, sáng tạo, tính người và tình người.
Về giá trị gia đình: Đó là lòng biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng ông bà, đoàn kết, yêu thương anh chị em.
Về giá trị cộng đồng: Cần giáo dục cho sinh viên các giá trị về trách nhiệm với cộng đồng, hợp tác, chia sẻ, giúp đỡ những người xung quanh, tôn trọng sự khác biệt, bảo vệ môi trường sông.
Về giá trị xã hội: Cần giáo dục cho sinh viên luôn có ý thức công dân, tuân thủ pháp luật, có lòng tự trọng, tự hào dân tộc, biết bảo vệ và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam.
Khi xác định được các giá trị cần giáo dục cho sinh viên, cũng cần chỉ rõ những gì ngược lại với các giá trị này đều là các phản giá trị cần tránh. Để giáo dục có hiệu quả những nội dung nêu trên, cần có hình thức tổ chức giáo dục đa dạng, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện thực tế của sinh viên. Đó là tăng cường tuyên truyền về những giá trị cần giáo dục cho sinh viên qua những tấm gương người tốt, việc tốt, sự nêu gương của các thầy cô giáo. Tích hợp các giá trị cần giáo dục vào các học phần, môn học, các hoạt động phù hợp để sinh viên ngấm dần những giá trị tốt đẹp. Các giảng viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy để tăng cường cho sinh viên làm việc theo nhóm, giúp các em thấy được sự cần thiết và ý nghĩa của sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động.
Nhà trường cần tổ chức các hoạt động trải nghiệm xã hội, các cuộc thi trong đó có nội dung tìm hiểu về giá trị văn hóa xã hội, nhằm giúp các em có trải nghiệm bằng cuộc sống thực. Có thể tổ chức tham quan, thực tế các khu di tích lịch sử, những thắng cảnh vừa đẹp vừa hùng vĩ của đất nước để khơi dạy lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc; tổ chức thực hành, thực tập ở những nơi sinh viên có thể trải nghiệm cuộc sống thực của người lao động để các em có cái nhìn thực tế hơn, hiểu đầy đủ hơn về cuộc sống, về những giá trị của lao động, của tính người và tình người...
Một việc khó nữa nhưng cần các trường đại học quan tâm. Đó là xây dựng nhà trường trở thành môi trường sư phạm lành mạnh. Trong đó, các thầy cô giáo, nhân viên và người lao động thể hiện tình yêu thương, tinh thần trách nhiệm với sự nghiệp chung. Các thầy, cô giáo thực sự làm tấm gương về những giá trị mà sinh viên đang hướng tới.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh các trường cần phát huy vai trò tập hợp giáo dục sinh viên bằng những hoạt động thiết thực, giúp sinh viên có trải nghiệm về những giá trị các em đang được giáo dục, như: Tổ chức hoạt động tiếp sức mùa thi để hỗ trợ các thí sinh thi tốt nghiệp phổ thông, các hoạt động tình nguyện; tổ chức các diễn đàn để trao đổi về lối sống, cách sống phù hợp với tuổi trẻ, đấu tranh với những quan niệm không phù hợp với chuẩn mực đang vận hành trong xã hội.
Các hoạt động của nhà trường cần có sự đồng bộ để cùng khuyến khích sinh viên có thái độ sống tích cực, biết tôn trọng người khác, sống có trách nhiệm gia đình và với cộng đồng, hướng tới một cuộc sống có ý nghĩa. Đồng thời trang bị cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp tốt nhất để các em tự tin bước vào cuộc sống, đủ khả năng thích ứng với những thay đổi của môi trường lao động khi ra trường.
3. Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu được trình bày ở trên, có thể thấy song song với sự tồn tại của các giá trị là sự tồn tại của các phản giá trị. Đó là tất cả những gì ngược lại với giá trị. Mà cụ thể là ngược lại với các chuẩn mực, không đem lại lợi ích cho con người, được xã hội đánh giá thấp hoặc lên án. Có thể căn cứ vào giá trị để xác định các phản giá trị. Vì giá trị trước hết là tất cả những gì phù hợp với chuẩn mực xã hội và có ích cho con người. Nên trái với chuẩn mực, không có lợi cho con người sẽ là các phản giá trị. Nếu xác định được các giá trị của con người Việt Nam thì cũng có thể căn cứ vào đó xác định các phản giá trị của người Việt Nam.
Các phản giá trị đang tồn tại ở con người Việt Nam cũng được thấy ở sinh viên. Một bộ phận sinh có tồn tại lối sống buông thả, không lành mạnh; còn có những biểu hiện gian lận, thiếu trung thực trong học tập và thi cử. Một bộ phận sinh viên có biểu hiện tôn sùng những nhân vật có lối sống không phù hợp với chuẩn mực. Biểu hiện của sự nhận thức sai lệch, hành động một cách cảm tính, thể hiện rõ tâm lý tiểu nông. Cùng với các phản giá trị trên, sinh viên còn biểu hiện sự thực dụng, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân nên có những biểu hiện lệch lạc trong quan hệ. Đây là một số biểu hiện phản giá trị khá rõ nét ở sinh viên.
Các biện pháp giáo dục phòng ngừa phản giá trị ở sinh viên bằng việc tăng cường giáo dục giá trị cho các em: Cần làm cho sinh viên có hiểu biết đầy đủ về các giá trị, nhận thức rõ được những phản giá trị còn tồn tại ít nhiều trong sinh viên. Các phản giá trị đó không phù hợp các chuẩn mực và yêu cầu học tập, rèn luyện của sinh viên, giúp sinh viên phòng tránh các phản giá trị bằng cách chú trọng việc tổ chức giáo dục giá trị cho sinh viên bằng các hình thức và phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, điều kiện cụ thể của sinh viên. Không chỉ tác động vào nhận thức mà phải tác động cả thái độ và hành vi của sinh viên.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nên thành lập Câu lạc bộ để có các sinh hoạt chuyên đề, trong đó có các nội dung giáo dục giá trị, hướng sinh viên đến những giá trị tốt đẹp phù hợp với hệ giá trị xã hội hiện nay. Đồng thời tăng cường các hoạt động để sinh viên thể hiện trách nhiệm của mình với xã hội và cộng đồng.
Các bạn sinh viên cần nâng cao nhận thức về giá trị và giá trị sống, có lối sống phù hợp với các chuẩn mực mà trước hết là luật pháp. Tự trang bị các kỹ năng sống để biết lựa chọn những giá trị sống phù hợp, tránh xa các phản giá trị.
-----------------------
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học - cơ sở lý luận góp phần đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay, NXB Dân trí.
2. Phạm Minh Hạc (2015), Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với Tâm lý học và Giáo dục học, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội
3. Nguyễn Thế Kiệt (2024), Giá trị, hệ giá trị, xây dựng hệ giá trị quốc gia, Tạp chí điện tử Lý luận Chính trị, 24/05/2024.
4. Phạm Nguyễn (2016), Giới thiệu sách mới, Tạp chí Thông tin KHXH, số 11/2016, tr 58-59.
5. Nguyễn Huy Phòng (2022), Xây dựng hệ giá trị để khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam hiện nay, Tạp chí Tuyên giáo, ngày 5/12/2022
6. Trần Quốc Thành (2015), Lối sống thực dụng của sinh viên hiện nay, Tạp chí Tâm lý học xã hội, số 6/2015.
7. Trần Quốc Thành và Nguyễn Đức Sơn (2020), Tâm lý học xã hội, NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội.
8. Ngô Đức Thịnh (2013), Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong đổi mới hội nhập, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
9. Tổng cục Thống kê (2024), Niên giám thống kê 2023, NXB Thống Kê.
10. Phạm Viết Vượng (2023), Giáo dục giá trị cho học sinh, sinh viên, T/c Giáo chức Việt Nam điện tử, 15/3/2023; tapchigiaochuc.com.vn