PHÁT HUY SỨC MẠNH NHÂN DÂN VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM: TỪ LÝ LUẬN ĐẠI ĐOÀN KẾT ĐẾN CHIẾN LƯỢC GIÁO DỤC QUỐC GIA TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

TS. Lê Ngọc Triết – ThS. Võ Phú Hữu Đại học Cần Thơ Email: [email protected] Tóm tắt: Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán nhận định “nhân dân là gốc”, “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, nguồn sức mạnh và nhân tố quyết định thắng lợi. Bước vào thời kỳ kinh tế tri thức, chuyển đổi số và cạnh tranh gay gắt về nguồn nhân lực chất lượng cao, sức mạnh ấy ngày càng mang hình thái mới: sức mạnh đại đoàn kết được trí tuệ hóa, được tổ chức và phát huy thông qua một nền
08:59 | 12/12/2025

TS. Lê Ngọc Triết – ThS. Võ Phú Hữu

Đại học Cần Thơ

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán nhận định “nhân dân là gốc”, “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, nguồn sức mạnh và nhân tố quyết định thắng lợi. Bước vào thời kỳ kinh tế tri thức, chuyển đổi số và cạnh tranh gay gắt về nguồn nhân lực chất lượng cao, sức mạnh ấy ngày càng mang hình thái mới: sức mạnh đại đoàn kết được trí tuệ hóa, được tổ chức và phát huy thông qua một nền giáo dục hiện đại, nhân văn, mở và số hóa. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, các nghị quyết quan trọng của Đảng như Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo [1], Nghị quyết số 43-NQ/TW về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc [2], Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia [3], cùng Nghị định số 57/2017/NĐ-CP về chính sách giáo dục cho dân tộc thiểu số rất ít người [4], bài báo luận giải mối quan hệ biện chứng giữa sức mạnh nhân dân – đại đoàn kết toàn dân tộc và trí tuệ Việt Nam thông qua giáo dục, nhất là giáo dục lý luận chính trị trong kỷ nguyên số. Bài viết (i) làm rõ cơ sở lý luận về đại đoàn kết, sức mạnh nhân dân và trí tuệ Việt Nam; (ii) phân tích thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết thông qua giáo dục; (iii) chỉ ra những yêu cầu mới từ Nghị quyết 57-NQ/TW đối với giáo dục, đặc biệt là phát triển đội ngũ giảng viên lý luận chính trị; và (iv) đề xuất hệ thống định hướng, giải pháp phù hợp trong tình hình mới.

Từ khóa: đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh nhân dân; trí tuệ Việt Nam; giáo dục; giáo dục lý luận chính trị; chuyển đổi số; Nghị quyết 29-NQ/TW; Nghị quyết 43-NQ/TW; Nghị quyết 57-NQ/TW; Nghị định 57/2017/NĐ-CP.

1. Đặt vấn đề

Đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng lớn, nhất quán của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”; “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Ở đó, sức mạnh nhân dân được hiểu trước hết là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; là sự đồng thuận, thống nhất ý chí và hành động của các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, vùng miền, cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cạnh tranh quốc tế về trí tuệ, khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, sức mạnh nhân dân ngày nay có chiều kích mới: đó là sức mạnh của một dân tộc có trình độ học vấn và năng lực số cao, có khả năng đổi mới sáng tạo, làm chủ khoa học – công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo. Hay nói cách khác, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cần được trí tuệ hóa thông qua một chiến lược giáo dục quốc gia hiện đại, công bằng, mở và gắn với chuyển đổi số.

Nghị quyết số 29-NQ/TW khẳng định giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, là “động lực phát triển đất nước”, “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [1]. Nghị quyết số 43-NQ/TW (2023) tiếp tục nhấn mạnh: “phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” [2]. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024) của Bộ Chính trị coi phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, xác định “người dân là trung tâm, chủ thể, nguồn lực, mục tiêu, động lực chính” của tiến trình này [3].

Trong bối cảnh đó, giáo dục – nhất là giáo dục lý luận chính trị (LLCT) – trở thành “điểm giao cắt” giữa: (i) sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc (thông qua việc củng cố nền tảng tư tưởng, tạo đồng thuận, bồi dưỡng ý thức công dân, tinh thần yêu nước, ý chí tự cường); và (ii) trí tuệ Việt Nam (thông qua việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong kỷ nguyên số).

Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với trí tuệ Việt Nam thông qua chiến lược giáo dục quốc gia trong giai đoạn hiện nay?

Đội ngũ giảng viên LLCT cần được phát triển ra sao để vừa giữ vững định hướng chính trị, vừa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, góp phần phát huy sức mạnh nhân dân trong “không gian số”?

Bài báo này nhằm góp phần giải đáp các câu hỏi trên, thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, chỉ ra các yêu cầu mới từ Nghị quyết 57-NQ/TW, và đề xuất một số định hướng, giải pháp cụ thể.

2. Cơ sở lý luận về đại đoàn kết, sức mạnh nhân dân và trí tuệ Việt Nam

2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử; cách mạng là sự nghiệp tự giải phóng của nhân dân lao động. Đảng Cộng sản là đội tiên phong, song sức mạnh quyết định thuộc về nhân dân. Trong điều kiện xây dựng CNXH, sức mạnh đó biểu hiện ở trình độ giác ngộ chính trị, tổ chức kỷ luật, ý thức kỷ luật lao động, trình độ khoa học – kỹ thuật của nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh phát triển sáng tạo quan điểm đó trên nền tảng truyền thống văn hóa Việt Nam. Người coi đại đoàn kết toàn dân tộc là “nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng”. Đặc biệt, Người nhấn mạnh:

“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta, của nhân dân ta; các đồng chí từ Trung ương đến chi bộ phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

“Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.

Ở Hồ Chí Minh, đoàn kết luôn gắn với trí tuệ. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “học dân”, “lắng nghe dân”, “tôn trọng trí tuệ của nhân dân”, coi nhân dân là “trường học lớn”. Người chủ trương phát triển văn hóa, giáo dục để “biến một dân tộc dốt nát thành một dân tộc thông thái”, xem nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài là điều kiện để củng cố đại đoàn kết lâu dài, bền vững.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc – sức mạnh nhân dân – trí tuệ dân tộc là ba mặt thống nhất, gắn bó, trong đó giáo dục giữ vai trò “chiếc cầu” quan trọng.

2.2. Quan điểm của Đảng về đại đoàn kết và giáo dục

Một là, Đảng luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là “đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam”, là “nguồn sức mạnh to lớn” và “nhân tố quyết định” mọi thắng lợi. Nghị quyết 43-NQ/TW nêu rõ: tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, nhân ái, đoàn kết, cần cù, sáng tạo của nhân dân ta; coi “sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” là “động lực nội sinh quan trọng hàng đầu” cho phát triển [2].

Hai là, Đảng nhất quán coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển đất nước. Nghị quyết 29-NQ/TW đặt mục tiêu “tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục”, “phát triển toàn diện con người Việt Nam” [1]. Luật Giáo dục 2019 cụ thể hóa, yêu cầu nền giáo dục Việt Nam phải mang tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, hội nhập quốc tế [5].

Ba là, Đảng khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa đại đoàn kết – dân chủ – giáo dục. Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển; giáo dục dân chủ, giáo dục quyền và nghĩa vụ công dân là con đường để biến “ý chí, nguyện vọng” chung thành “hành động tự giác” của hàng chục triệu người. Đoàn kết không chỉ là “đứng chung” mà còn là “hiểu đúng – làm đúng”, mà muốn vậy phải có giáo dục, đặc biệt là giáo dục LLCT.

2.3. “Trí tuệ Việt Nam” trong kỷ nguyên số và vai trò của giáo dục

Trong kỷ nguyên số, “trí tuệ Việt Nam” không chỉ là truyền thống “thông minh, hiếu học” mà còn là: Khả năng tiếp cận, xử lý và tạo ra tri thức mới trong môi trường dữ liệu lớn; Năng lực làm chủ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật; Kỹ năng thích ứng với thay đổi, tư duy phản biện, sáng tạo, hợp tác; Bản lĩnh chính trị, đạo đức, ý thức trách nhiệm xã hội trên không gian số.

Các báo cáo quốc tế về giáo dục Việt Nam chỉ ra rằng Việt Nam đã đạt tiến bộ ấn tượng trong phổ cập giáo dục cơ bản, bình đẳng giới, nhưng vẫn đối mặt với thách thức về “khoảng cách học tập”, chất lượng giáo dục và năng lực số [6][7][8][9][10]. Do đó, giáo dục – nhất là giáo dục LLCT kết hợp với giáo dục kỹ năng số – trở thành kênh chủ yếu để chuyển hóa “trí tuệ tiềm năng” của dân tộc thành “trí tuệ hiện thực” phục vụ phát triển đất nước.

3. Thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết và trí tuệ Việt Nam thông qua giáo dục

3.1. Thành tựu: nền tảng đoàn kết – dân trí – trí thức được củng cố

Thứ nhất, về mặt đoàn kết – đồng thuận xã hội, giáo dục đã góp phần quan trọng trong việc truyền bá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bồi dưỡng niềm tin, lý tưởng XHCN cho thế hệ trẻ. Nội dung về lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc, truyền thống yêu nước, đại đoàn kết, tinh thần nhân ái, tương thân tương ái… được tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông, đại học, giáo dục thường xuyên và các hoạt động ngoại khóa, phong trào Đoàn – Hội – Đội.

Thứ hai, về nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực, sau gần bốn thập niên đổi mới và hơn 10 năm triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW, Việt Nam đã: Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở; Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành thuộc nhóm cao trong khu vực; Tiến bộ rõ rệt về bình đẳng giới trong giáo dục; Hình thành đội ngũ trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, chuyên gia… ngày càng đông đảo [1][6][9].

Thứ ba, về trí tuệ Việt Nam trong hội nhập, nhiều học sinh, sinh viên Việt Nam đạt thành tích cao trong các kỳ thi Olympic quốc tế; các nhà khoa học Việt Nam tăng cường công bố quốc tế, tham gia mạng lưới khoa học toàn cầu. Những thành tựu này góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc gia, tạo niềm tự hào và “hạt nhân đoàn kết” quanh trí tuệ dân tộc.

3.2. Hạn chế: khoảng cách cơ hội, chất lượng và “đại đoàn kết trên không gian số”

Một là, khoảng cách cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng giữa các vùng, nhóm dân cư còn đáng kể. Trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trẻ khuyết tật… vẫn gặp nhiều rào cản về cơ sở vật chất, đội ngũ, ngôn ngữ, điều kiện kinh tế. Nghị định 57/2017/NĐ-CP đã tạo khuôn khổ chính sách hỗ trợ nhưng quá trình triển khai còn gặp khó khăn về nguồn lực và tổ chức [4][9]. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tính bao trùm của sức mạnh đại đoàn kết, bởi nơi nào “thiếu giáo dục, thiếu cơ hội phát triển”, ở đó nguy cơ bị lôi kéo, chia rẽ, tụt hậu rất lớn.

Hai là, chất lượng và tính hiện đại của giáo dục, nhất là giáo dục LLCT, chưa thật sự tương xứng với yêu cầu. Chương trình còn nặng tính hàn lâm, cập nhật chậm với những vấn đề mới của thời đại (kinh tế số, xã hội số, an ninh phi truyền thống, chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng…). Phương pháp còn thiên về truyền thụ, ít khuyến khích người học đối thoại, phản biện, sáng tạo. Điều này ảnh hưởng đến khả năng “kết dính” tư tưởng, làm suy giảm phần nào sức hút của giáo dục LLCT đối với một bộ phận thanh niên.

Ba là, chuyển đổi số trong giáo dục có bước tiến nhưng chưa đồng đều. Nhiều nơi còn “đầu tư theo phong trào”, thiếu chiến lược, thiếu hạ tầng, thiếu năng lực số của giáo viên – người học; trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tận dụng rất tốt không gian mạng để gieo rắc thông tin xấu độc, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết. Nếu giáo dục không “đi trước một bước” trên không gian số, sức mạnh đoàn kết sẽ đứng trước nguy cơ bị xói mòn từ chính môi trường này [7][10][13][19].

3.3. Nguyên nhân

Có thể khái quát một số nguyên nhân chính:

Tư duy về vai trò của giáo dục như không gian xây dựng và củng cố đại đoàn kết chưa thật sự được nhận thức đầy đủ trong một bộ phận cán bộ, quản lý giáo dục.

Thể chế, cơ chế phối hợp giữa ngành giáo dục với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục “3 trong 1” (nhà trường – gia đình – xã hội) chưa thật chặt chẽ;

Phát triển đội ngũ giảng viên LLCT chưa gắn chặt với yêu cầu vừa vững vàng chính trị, vừa giỏi công nghệ, vừa tinh thông phương pháp giáo dục người trưởng thành trong môi trường số;

Đầu tư cho giáo dục, nhất là giáo dục ở vùng khó khăn, các lĩnh vực “không sinh lợi trực tiếp” như LLCT, vẫn còn hạn chế.

4. Nghị quyết 57- NQ/TW và yêu cầu mới đối với giáo dục, đặc biệt là giáo dục lý luận chính trị

4.1. Những điểm mới của Nghị quyết 57-NQ/TW

Nghị quyết số 57-NQ/TW (22/12/2024) đánh dấu một bước phát triển tư duy quan trọng của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Một số điểm mới cần nhấn mạnh:

Thứ nhất, Nghị quyết xác định rõ: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là “động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân” [3].

Thứ hai, Nghị quyết nhấn mạnh vai trò trung tâm, chủ thể, nguồn lực, mục tiêu, động lực chính của người dân và doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi số. Điều này có nghĩa là: nếu nhân dân không được trang bị tri thức, kỹ năng, bản lĩnh chính trị trong môi trường số, thì mọi chiến lược chuyển đổi số sẽ khó thành công.

Thứ ba, Nghị quyết đề cao thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược như năm “trụ cột” của chiến lược. Trong đó, nhân lực – thực chất là trí tuệ của nhân dân – được coi là điều kiện quyết định [3][5][10].

Thứ tư, Nghị quyết yêu cầu cả hệ thống chính trị phải vào cuộc, trong đó giáo dục được xem là lĩnh vực tiên phong trong đào tạo công dân số, nguồn nhân lực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần bảo đảm chủ quyền số quốc gia [11][12].

Quảng cáo

4.2. Hàm ý đối với giáo dục và giáo dục LLCT

Từ Nghị quyết 57-NQ/TW, có thể rút ra một số hàm ý đối với giáo dục nói chung và giáo dục LLCT nói riêng:

Thứ nhất, chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ là số hóa nội dung, mà là tái cấu trúc toàn diện cách thức tổ chức, quản trị, đánh giá và tham gia của các chủ thể giáo dục. Ở đó, người học, gia đình, cộng đồng, doanh nghiệp, nhà nước cùng tham gia vào quá trình thiết kế và vận hành hệ thống giáo dục trên nền tảng công nghệ. Điều này trực tiếp góp phần mở rộng nền tảng đoàn kết – đồng thuận xã hội.

Thứ hai, giáo dục LLCT phải trở thành “hệ miễn dịch tư tưởng” của xã hội trong không gian số. Điều đó đòi hỏi nội dung, chương trình, phương pháp, đội ngũ giảng viên LLCT phải được đổi mới để có thể đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng một cách khoa học, thuyết phục; đồng thời xây dựng “không gian đoàn kết số” trên các nền tảng số.

Thứ ba, phát triển đội ngũ giảng viên LLCT là khâu then chốt. Nghị quyết 57 đặt yêu cầu mới về nhân lực chuyển đổi số, trong đó giảng viên LLCT không chỉ là “người truyền bá lý luận” mà còn phải là “kiến trúc sư của không gian giáo dục số về tư tưởng, chính trị”. Đây là điểm cần được nhấn mạnh trong chiến lược phát triển đội ngũ.

5. Định hướng và giải pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết và trí tuệ Việt Nam thông qua giáo dục

5.1. Định hướng chung

Thứ nhất, coi giáo dục – đặc biệt là giáo dục LLCT – là không gian trung tâm để củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện mới. Mỗi nhà trường, mỗi lớp học, mỗi khóa học trực tuyến phải trở thành “tế bào đoàn kết” nơi các nhóm xã hội khác nhau gặp gỡ, đối thoại, chia sẻ và gắn kết.

Thứ hai, phát triển giáo dục theo hướng trí tuệ hóa sức mạnh nhân dân, tức là biến “ý chí, tình cảm yêu nước, đoàn kết” thành “tri thức, kỹ năng, năng lực số, năng lực đổi mới sáng tạo” để giải quyết những vấn đề thực tiễn của đất nước.

Thứ ba, gắn kết chặt chẽ các nghị quyết và văn bản: Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục [1]; Nghị quyết 43-NQ/TW về đại đoàn kết [2]; Nghị quyết 57-NQ/TW về khoa học – công nghệ – đổi mới sáng tạo – chuyển đổi số [3]; Luật Giáo dục 2019 [5]; Nghị định 57/2017/NĐ-CP [4]; cùng các khuyến nghị của UNESCO, UNICEF [6][7][8][9][10], thành một tổng thể chính sách nhất quán trong lĩnh vực giáo dục.

Thứ tư, xây dựng xã hội học tập – quốc gia học tập, nơi mọi người dân, mọi cộng đồng được trao cơ hội học tập suốt đời, học trực tiếp và trực tuyến, qua đó tạo nền tảng tri thức để tham gia ngày càng sâu vào đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

5.2. Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên LLCT trong kỷ nguyên số

Trọng tâm để kết nối sức mạnh đoàn kết và trí tuệ qua giáo dục là phát triển đội ngũ giảng viên LLCT. Có thể đề xuất một số nhóm giải pháp như sau:

Một là, hoàn thiện chuẩn nghề nghiệp giảng viên LLCT theo yêu cầu “vừa hồng, vừa chuyên, vừa số”.

Chuẩn nghề nghiệp cần bổ sung rõ các tiêu chí: Bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối Đảng; Năng lực khoa học LLCT vững; Năng lực công nghệ số: thiết kế bài giảng e-learning, sử dụng hệ thống LMS, phân tích dữ liệu học tập, vận dụng công cụ AI hỗ trợ dạy – học; Kỹ năng truyền thông chính trị trên không gian mạng, xây dựng “cộng đồng học tập số” đoàn kết, tích cực.

Hai là, xây dựng chiến lược đào tạo – bồi dưỡng giảng viên LLCT theo mô hình kết hợp (blended/hybrid) và học tập suốt đời.

Các học viện, trường chính trị, cơ sở đào tạo cần: Tổ chức các khóa bồi dưỡng định kỳ về nội dung nghị quyết mới, vấn đề thời sự, kỹ năng số; Phát triển các khóa học trực tuyến mở (MOOCs) dành riêng cho giảng viên LLCT; Hợp tác với UNESCO, UNICEF, các tổ chức giáo dục quốc tế để cập nhật phương pháp sư phạm hiện đại [6][7][8][10].

Ba là, hình thành mạng lưới cộng đồng học tập của giảng viên LLCT gắn với thúc đẩy đại đoàn kết trong đội ngũ.

Trên nền tảng số, có thể xây dựng: Mạng lưới “Giảng viên LLCT Việt Nam trong kỷ nguyên số”; Kho học liệu mở LLCT dùng chung; Diễn đàn trao đổi học thuật, kinh nghiệm dạy học, phương án xử lý các vấn đề tư tưởng nảy sinh trong sinh viên.

Qua đó, sức mạnh trí tuệ tập thể của đội ngũ giảng viên được nhân lên và góp phần tạo nên “liên minh trí thức LLCT” đóng vai trò nòng cốt trong củng cố đại đoàn kết.

Bốn là, đổi mới cơ chế đánh giá, sử dụng và đãi ngộ giảng viên LLCT.
Tiêu chí đánh giá cần gắn với: Mức độ chuyển biến về nhận thức, thái độ, hành vi chính trị – xã hội của người học; Sự hấp dẫn, sáng tạo, tương tác trong bài giảng;

Khả năng vận dụng công nghệ số, xây dựng môi trường học tập đoàn kết, dân chủ;

Đóng góp nghiên cứu khoa học, biên soạn tài liệu, học liệu số.

Trên cơ sở đó xây dựng chế độ đãi ngộ phù hợp, tạo động lực để giảng viên LLCT gắn bó, cống hiến.

Năm là, gắn nhiệm vụ của giảng viên LLCT với triển khai Nghị quyết 43-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW trong nhà trường.

Giảng viên LLCT cần: Chủ trì hoặc tham gia các hoạt động tuyên truyền, học tập, quán triệt nghị quyết; Tích hợp nội dung về đại đoàn kết toàn dân tộc và khoa học – công nghệ – đổi mới sáng tạo – chuyển đổi số vào chương trình giảng dạy; Tổ chức các diễn đàn, tọa đàm, không gian đối thoại để sinh viên, học viên trao đổi về vai trò của bản thân trong xây dựng khối đại đoàn kết và chuyển đổi số quốc gia.

5.3. Giải pháp gắn kết sức mạnh đại đoàn kết với đổi mới giáo dục và chuyển đổi số

Bên cạnh nhóm giải pháp cho đội ngũ giảng viên LLCT, cần chú trọng các giải pháp mang tính hệ thống:

Một là, xây dựng nhà trường như “tế bào đại đoàn kết” trong cộng đồng.
Nhà trường cần mở rộng cơ chế dân chủ, khuyến khích học sinh – sinh viên, phụ huynh, các tổ chức xã hội tham gia hội đồng trường, các hội thảo, diễn đàn góp ý chương trình, nội quy, quy tắc ứng xử. Khi mọi chủ thể đều được lắng nghe, sự gắn kết và niềm tin sẽ được củng cố.

Hai là, tăng cường liên kết “nhà trường – gia đình – xã hội” trong giáo dục LLCT và kỹ năng số.

Các chương trình phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, chính quyền địa phương… giúp tạo mặt trận thống nhất trong giáo dục giá trị, thái độ, kỹ năng cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng “vòng tròn đoàn kết” rộng khắp.

Ba là, thực hiện hiệu quả Nghị định 57/2017/NĐ-CP, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, qua đó củng cố đại đoàn kết vùng, miền, dân tộc.

Cần ưu tiên nguồn lực, giáo viên, hạ tầng số cho vùng khó khăn; thiết kế chương trình, học liệu LLCT có tính đến đặc thù ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc; khuyến khích trí thức dân tộc thiểu số quay về công tác tại địa phương [4].

Bốn là, xây dựng “không gian đoàn kết số” trong giáo dục.

Nhà trường và giảng viên LLCT cần chủ động sử dụng mạng xã hội, nền tảng số để: Lan tỏa thông tin tích cực, gương điển hình; Tổ chức các cuộc thi, diễn đàn trực tuyến về chủ đề đại đoàn kết, trách nhiệm công dân số; Kịp thời phản bác quan điểm sai trái, tin giả, luận điệu kích động chia rẽ trên không gian mạng.

Kết luận

Từ những phân tích lý luận và thực tiễn có thể khẳng định rằng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới phải luôn gắn với việc phát huy trí tuệ Việt Nam và hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân – đặc biệt là giáo dục lý luận chính trị.

Thứ nhất, sức mạnh nhân dân và trí tuệ Việt Nam là hai trụ cột chiến lược, đan xen và bổ trợ lẫn nhau, tạo nên nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển đất nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số nhanh và sâu rộng, sức mạnh ấy chỉ bền vững khi được tổ chức trên nền tảng đại đoàn kết toàn dân tộc, được “trí tuệ hóa” thông qua một nền giáo dục hiện đại, công bằng, mở, số hóa và hướng tới phát triển con người toàn diện.

Thứ hai, giáo dục – đặc biệt là giáo dục lý luận chính trị – chính là cầu nối giữa lý luận và thực tiễn, giữa đường lối của Đảng và hành động sáng tạo của hàng chục triệu công dân trong không gian số. Giáo dục không chỉ truyền thụ tri thức hay kỹ năng nghề nghiệp mà còn hình thành phẩm chất, lý tưởng, bản lĩnh và trách nhiệm công dân. Đây chính là yếu tố xây dựng “hệ miễn dịch tư tưởng” và kiến tạo “không gian đoàn kết số”, bảo đảm sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận trong hành động và bền vững trong phát triển.

Thứ ba, hệ thống chính sách hiện hành – từ Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Nghị quyết 43-NQ/TW về giáo dục đại học; Nghị quyết 57-NQ/TW về nhân lực chất lượng cao; Luật Giáo dục 2019; Nghị định 57/2017/NĐ-CP về giảng viên LLCT; cùng các khuyến nghị quốc tế – đã tạo ra khuôn khổ đầy đủ để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua giáo dục. Vấn đề quyết định hiện nay là năng lực triển khai chính sách, trong đó đội ngũ giảng viên LLCT giữ vai trò then chốt trong dẫn dắt nhận thức, truyền cảm hứng và bồi dưỡng năng lực chính trị cho người học.

Thứ tư, những định hướng và giải pháp được đề xuất trong bài – từ hoàn thiện chuẩn nghề nghiệp giảng viên, đổi mới công tác đào tạo – bồi dưỡng, xây dựng cộng đồng học tập, cải thiện cơ chế sử dụng và đãi ngộ, đến việc phát triển nhà trường như tế bào đoàn kết, bảo đảm công bằng giáo dục và kiến tạo không gian đoàn kết số – nếu được tổ chức triển khai đồng bộ, sẽ tạo chuyển biến thực chất trong chất lượng nguồn nhân lực và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tổng thể lại, sức mạnh đại đoàn kết và trí tuệ Việt Nam sẽ được kết nối chặt chẽ, tạo thành động lực nội sinh bền vững, khi được đặt dưới “đòn bẩy” của một nền giáo dục LLCT hiện đại, nhân văn, sáng tạo và số hóa. Đây chính là con đường để hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

[2]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2023). Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

[3]. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[4]. Chính phủ. (2017). Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người.

[5]. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. (2019). Luật Giáo dục.

[6]. Ministry of Education and Training & UNESCO. (2015). Viet Nam Education for All 2015 National Review. Hà Nội: UNESCO.

[7]. UNESCO & SEAMEO. (2023). Technology in Education: A Tool on Whose Terms? 2023 GEM Report for Southeast Asia.

[8]. UNICEF. (2021). Viet Nam Case Study: Situation Analysis of the Effect of and Response to COVID-19 in Asia – Education Sector.

[9]. United Nations Country Team in Viet Nam. (2024). Viet Nam Closes Learning Gaps towards Education for All.

[10]. UNESCO. (2025). Leadership Is Key to Viet Nam’s Education Transformation. UNESCO Office in Ha Noi.