PGS.TS. Đặng Quốc Bảo - TS.NGƯT. Nguyễn Tùng Lâm -
Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam
1. Mở đầu
Tám mươi năm qua (1945 - 2025) là một hành trình đầy gian khó nhưng cũng hết sức vẻ vang của nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Từ những ngày đầu lập quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tầm quan trọng của giáo dục bằng câu nói nổi tiếng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và luôn mong muốn “ai cũng được học hành”. Tư tưởng đó đã trở thành kim chỉ nam, dẫn dắt nền giáo dục nước ta vượt qua nhiều thử thách lịch sử, từ xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, đào tạo nhân lực cho kháng chiến và xây dựng đất nước, đến hội nhập quốc tế và đổi mới toàn diện trong thời đại số của cách mạng công nghiệp 4.0.
Báo cáo này nhằm tổng kết những truyền thống tốt đẹp và thành tựu nổi bật của nền giáo dục cách mạng Việt Nam trong 80 năm qua, đồng thời đề xuất một số giải pháp xây dựng một nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới trong kỷ nguyên vươn mình đất nước; một nền giáo dục mà mỗi nhà trường, mỗi nhà giáo đều được “Tự chủ - Dân chủ - Nhân văn - Sáng tạo và hội nhập.”
Từ khóa: Truyền thống, Thành tựu, Giáo dục cách mạng, 80 năm
2. Những truyền thống tốt đẹp và thành tựu đáng tự hào của nền giáo dục cách mạng Việt Nam trong 80 năm qua (1945 - 2025)
2.1. Phát huy chủ nghĩa nhân văn và những tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh được UNESCO tôn vinh Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Người cũng là nhà giáo dục vĩ đại của nhân dân ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc và đội ngũ người làm công tác giáo dục hiện nay và mai sau kho tàng vô giá về những lời huấn đức bao quát nhiều lĩnh vực của sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ các thời đại.
Cuộc đổi mới giáo dục hiện nay theo Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI có mục đích cao cả là vận dụng và hiện thực hóa được mong ước của Bác Hồ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn học sinh: “Ngày nay, các em được may mắn hơn cha anh là được tiếp thu một nền giáo dục của một nước độc lập. Một nền giáo dục mới sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” (Thư gửi học sinh nhân ngày khai giảng 9/1945).
Thật bất ngờ và vĩ đại ngay từ những ngày đầu dựng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra minh triết về một nền giáo dục mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngoài việc “đào tạo những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam”, mà quan trọng Người đã khẳng định nền giáo dục đó đảm bảo “ai cũng được học hành” và mọi người đều được hưởng “một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nền giáo dục của nước ta không thua kém gì nền giáo dục tiên tiến của các nước Âu, Mỹ lúc đó. Tất nhiên, để làm được điều đó không thể ngày một ngày hai mà phải có quá trình, có những điều kiện nhất định. Nhưng điều quan trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn khẳng định nền giáo dục của nước ta không thể thua kém bất cứ một nền giáo dục tiên tiến nào trên thế giới. Cũng là lời tuyên bố chấm dứt một nền giáo dục nô lệ, đào tạo tầng lớp trí thức làm công cụ cho “chính sách ngu dân” của một nước thuộc địa, thì làm sao có thể có nền giáo dục mang lại việc “Phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.
Thật tự hào vì ngay từ năm 1946, Bác kính yêu vừa có tầm nhìn, vừa có khát vọng xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam có tính chất nhân văn và thực tiễn, mà ngày nay Tổng Bí thư Tô Lâm gọi “nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm các nước trong khu vực và thế giới”.
Trong những ngày bôn ba trên đường cứu nước, ngoài việc trực tiếp tham gia vào các phong trào cách mạng của Đảng Cộng sản Pháp, học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh chỉ với “những viên gạch hồng, chống lại cả mùa băng giá” còn tiếp thu được tinh hoa của nền văn hoá, nền giáo dục nhân văn Âu, Mỹ.
Vì thế minh triết của Hồ Chí Minh về mục tiêu một nền giáo dục mới của Việt Nam không chỉ “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Và, vượt xa hơn nữa, Hồ Chí Minh còn chuẩn bị cho giáo dục Việt Nam hội nhập quốc tế không chỉ những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, mà còn đúng mãi qua nhiều thời đại.
Năm 1996, sau đề xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946, nhưng 50 năm sau Jacques Delons - nhà giáo dục nổi tiếng của UNESSCO đã có tác phẩm “Học tập - một kho báu tiềm ẩn”, thay mặt cho Uỷ ban Giáo dục của UNESCO đã nhấn mạnh: “Ở thế kỷ 21 cần cung cấp thường xuyên cho thế hệ trẻ những sức mạnh, những qui chiếu trí tuệ để họ hiểu biết thế giới xung quanh họ để hành xử một cách trách nhiệm và công bằng”. Ông đã công bố 4 trụ cột của việc học ở thế kỷ 21: “Học để biết - Học để làm - Học để cùng chung sống - Học để làm người”.
Năm 2013, NQ-29/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã chỉ đạo “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo Việt Nam”, đã chuyển hẳn từ “dạy chữ” lạc hậu sang “dạy người” và Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã thay đổi toàn diện phục vụ cho mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục phương pháp giáo dục theo NQ-29/TW.
Mục tiêu của giáo dục Việt Nam (theo Luật Giáo dục 2019) và mục tiêu, nội dung của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 không chỉ để thực hiện NQ-29/TW khoá XI, mà để giáo dục Việt Nam có thể hội nhập với giáo dục thế giới và cũng là để thực hiện mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Mình về một nền giáo dục mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi giáo dục là công cụ thiết yếu để giải phóng dân tộc và phát triển con người. Người không chỉ là người thầy lớn của dân tộc mà còn là nhà tư tưởng giáo dục sâu sắc, đặt nền móng lý luận và thực tiễn cho giáo dục cách mạng Việt Nam. Người từng nói: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”.
2.2. Những thành tựu nổi bật đáng tự hào
Có nhiều tài liệu, báo cáo tổng kết đã đề cập, chúng tôi xin phép chỉ liệt kê những nét nổi bật đáng tự hào:
- Xoá mù chữ và phổ cập: Năm 1945 có hơn 90% dân số mù chữ; đến nay, Việt Nam là một trong số ít nước đang phát triển đạt gần 98% biết chữ (GSO, 2023); Đã hoàn thành phổ cập tiểu học năm 2000; THCS năm 2010 và tiến tới phổ cập THPT; tháng 9/2025 học sinh mầm non, phổ thông các cấp được miễn học phí trong các trường công lập.
- Phát triển hệ thống giáo dục toàn diện: Hơn 23 triệu học, sinh viên và hơn 15 triệu cán bộ giáo dục các cấp (năm 2024 - 2025), có khoảng 4.8 triệu trẻ mầm non; học sinh tiểu học 8.9 triệu; học sinh THCS 6.5 triệu; THPT 3 triệu, sinh viên đại học 2.07 triệu.
- Từ năm 1956 có sách giáo khoa mới: Năm 1981 tiếp tục cải cách giáo dục thay sách giáo khoa mới; năm 2000 tiếp tục đổi mới chương trình giáo dục và thay sách giáo khoa. Đổi mới chương trình, sách giáo khoa: tiêu biểu là Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực; có nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau cho giáo viên học sinh lựa chọn.
- Thành tích hội nhập quốc tế: Học sinh Việt Nam đạt nhiều huy chương tại các kỳ thi Olympic Toán, Lý, Hoá, Tin học quốc tế. Năm 1974 ta mới có học sinh dự thi toán quốc tế, đến nay tất cả các môn khoa học tự nhiên đều có học sinh thi quốc tế. Học sinh THCS có học sinh tham gia các giải khu vực. Nhiều môn Việt Nam được xếp hạng cao trong các nước như: Toán (IMO) thứ 7, Tin học (IOI) thứ 4, Hoá học (ICHO) thứ 4, Sinh học (IBO) thứ 3 thế giới
- Mở rộng giáo dục đại học, nghề nghiệp: Hệ thống đại học, cao đẳng ngày càng đa dạng, kết hợp đào tạo - nghiên cứu - khởi nghiệp. Năm 1956 miền Bắc mới có khoảng 5 trường đại học và 15 trường cao đẳng, đến năm 2025 đã có 219 trường đại học và 217 trường cao đẳng.
- Hội nhập Quốc tế về giáo dục: Nhiều trường đại học của Việt Nam vào top châu Á và thế giới.
- Truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo được kế thừa từ ngàn đời, càng được phát huy trong xã hội cách mạng.
- Tinh thần tự học, tự lập, sáng tạo trong điều kiện chiến tranh, nghèo đói, thiếu thốn, nhưng không để học sinh bỏ học.
3. Thực hiện nền giáo dục quốc dân trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước
3.1. Cần quán triệt những nội dung cơ bản của một nền giáo dục hiện đại
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và toàn cầu hoá đang đặt ra những yêu cầu mới:
- Chuyển từ giáo dục đại trà sang cá thể hoá, học tập suốt đời.
- Tập trung vào kỹ năng thế kỷ 21: Tư duy phản biện, sáng tạo, hợp tác, công nghệ.
- Đào tạo công dân toàn cầu nhưng có bản sắc Việt.
- Bảo đảm công bằng, bình đẳng trong toàn bộ hệ thống giáo dục của cả nước.
- Đặt vai trò trung tâm của nhà trường và nhà giáo trong hệ thống giáo dục:
+ Nhà trường hiện đại là nơi tổ chức học tập linh hoạt, thúc đẩy đổi mới sư phạm, khuyến khích nghiên cứu và sáng tạo, thực hiện đúng các yêu cầu của nền giáo dục mở.
+ Nhà giáo luôn đổi mới là người truyền cảm hứng, ứng dụng CNTT, phát triển chuyên môn liên tục và đóng vai trò là nhà giáo dục - huấn luyện viên - người cố vấn.
+ Quản trị giáo dục thời hiện đại đòi hỏi các trường có quyền tự chủ về học thuật, tài chính, nhân sự, nhưng phải đi đôi với trách nhiệm giải trình xã hội.
- Đặc biệt giáo dục quốc dân trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước phải quán triệt giá trị nhân văn và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục.
3.2. Những hạn chế, bất cập của giáo dục Việt nam những năm qua cần được đánh giá đúng và tìm giải pháp khắc phục triệt để
Trong Dự thảo “Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng Khoá XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV”, phần đánh giá kết quả việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, mục (5): “Đánh giá hạn chế, yếu kém, bất cập của ngành giáo dục (tr.15 Văn kiện Đại Hội) có nhận định: “Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, chưa đồng bộ, thiếu hệ thống, còn lúng túng. Việc thực hiện XHH GDĐT còn có biểu hiện sai lệch và tiêu cực. Chất lượng GDĐT, nhất là GD nghề nghiệp, GD đại học chậm được cải thiện. GDĐT ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào thiểu số còn nhiều khó khăn, chế độ chính sách nhà giáo còn bất cập”.
Đây là những vấn đề lớn, chắc chắn sẽ được các cấp quản lý lãnh đạo của ngành có những ý kiến, văn bản chỉ đạo để tháo gỡ. Với điều kiện hạn hẹp của mình, chúng tôi chỉ xin nêu những vấn đề cụ thể với mong muốn nó phải được tháo gỡ, ngăn chặn không lặp lại trên bước đường phát triển GDĐT của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Bởi trong tực tế nhiều khi ta say sưa phát triển những cái mới, cái tiến bộ nhưng chính những thói quen cũ, nếp sống cũ, không kiên quyết từ bỏ, nó sẽ làm hạn chế kết quả trong những bước tiến mới. Ví dụ: Chương trình GDPT 2018 là một bước đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục là mục tiêu, điều kiện để chúng ta tiến kịp với nền giáo dục hiện đại của thế giới.
Sau 5 năm thử nghiệm, nhiều mục tiêu chúng ta không thực hiện được chính vì chưa nhận rõ những yếu kém, bất cập, những thói quen, những quan niệm lạc hậu về GDĐT, vẫn bám theo mãi chúng ta. Chương trình đã thực hiện 5 năm nhưng cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư cho giáo dục chưa thay đổi. Nhà trường, nhà giáo là yếu tố cốt lõi tạo nên chất lượng giáo dục và thực hiện tốt nhất mục tiêu của chương trình thì chính sách quản lý và chăm lo cho nhà giáo vẫn bất cập gần như chưa được thay đổi, mặc dù NQ29 đã để cập vấn đề này hơn 10 năm nay. Do đó trong báo cáo này chúng tôi xin tập trung kiến nghị ba vấn đề chủ yếu:
3.2.1. Giáo dục và đào tạo cần được Đảng, Nhà nước, Quốc hội quan tâm đổi mới cơ chế đầu tư cơ chế quản lý ngành.
Trong mục IV của Phương hướng phát triển đất nước trong nhiệm kỳ XIV của Đảng, phần nói về cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, Văn kiện của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao năng lực tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là trong lĩnh vực KHCN, giáo dục, y tế, văn hoá. Đẩy mạnh XHH trong cung cấp dịch vụ công” (tr.3, Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng).
Do đó chúng tôi kiến nghị tất cả các cơ sở giáo dục từ mầm non đến các cấp phổ thông, hệ thống các trường dạy nghề công lập phải được Nhà nước cho phép các cơ sở này được tự chủ, chứ không phải chỉ các cơ sở đại học hiện nay mới được tự chủ toàn diện. Các cơ sở GD từ mầm non, phổ thông, dạy nghề công lập đều là những đơn vị công lập dịch vụ công. Mỗi cơ sở GD đều là một thực thể độc lập như các cơ sở nhà máy, xí nghiệp để phục vụ đời sống của người dân tại các địa phương và để đảm bảo an toàn cho trẻ, nên không thể gom các cơ sở các trường này thành những trường lớn.
Mặt khác, hiện nay chúng ta đã thay đổi mô hình quản lý hành chính các địa phương thì mỗi xã, phường mới đều rất lớn, nhiều cơ sở giáo dục, quản lý số lượng học sinh, giáo viên khá lớn vậy có thể xây dựng mỗi xã, phường có nhiều trường nhỏ gộp lớn thành trường mầm non, trường tiểu học, trường THCS, THPT, trường nghề và được hưởng cơ chế quản lý tự chủ toàn diện.
Hiện nay đang tồn tại một số tỉnh, thành phố có trường công tự chủ chất lượng cao, các trường này được tự chủ toàn diện nhưng Nhà nước lại áp dụng cơ chế tự chủ như các đơn vị dịch vụ kinh tế, là Nhà nước chậm kinh phí đầu tư và các trường này lại phải tăng học phí ngang bằng với kinh phí của các trường ngoài công lập. Liệu cơ chế này có phù hợp với thực tế, có công bằng giữa các loại hình trường công không?.
Phải coi mô hình tự chủ của các trường công lập các cấp là mô hình cung cấp dịch vụ công, Nhà nước hiện nay còn miễn học phí cho học sinh, vậy đây là cơ chế đặc thù Nhà nước cần nghiên cứu để có mô hình quản lý phù hợp. Hơn nữa, chỉ có cho các trường công lập mầm non, phổ thông được tự chủ, chúng ta với nâng cao chất lượng mới có được đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên giỏi.
Với đối tượng học sinh bị thiệt thòi, khó khăn, có khuyết tật như khiếm thính, khiếm thị, trẻ sa sút trí tuệ do khuyết tật bẩm sinh, do bị tự kỷ, chất độc da cam… hiện nay số trẻ này ngày càng nhiều. Các trường công lập giải quyết những trẻ này rất ít, không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Do đó loại hình học sinh này đang do các trung tâm tư nhân mở ra, nhưng không được Nhà nước hỗ trợ cả về ý nghĩa nhân đạo và ý nghĩa xã hội.
Trong điều kiện đổi mới quản lý hành chính hai cấp ở các địa phương sẽ dôi dư nhiều địa điểm, vậy có thể xây dựng mô hình hợp tác công - tư để hỗ trợ các cơ sở giáo dục đặc biệt này. Nhà nước giao địa điểm (hoặc cho mượn) tính tiền thuê cơ sở vật chất với giá ưu đãi hoặc cho mượn không lấy tiền, mô hình công - tư phối hợp giải quyết sẽ giúp trẻ em khuyết tật được chăm lo chu đáo hơn, với giá dịch vụ hợp lý hơn với các gia đình.
3.2.2 Bám sát mục tiêu, yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông 2018, chống bệnh thành tích ảo trong giáo dục, đảm bảo “học thuật - thi thật - nhân tài thật”.
Chương trình GDPT 2018 tuy còn hạn chế cả về chương trình, SGK và chắc chắn vẫn phải tiếp tục chỉnh sửa. Song phải khẳng định đây là bước đột phá, chuyển biến mạnh mẽ của GDĐT Việt Nam thế kỷ 21. Đây là tiêu đề, là bàn đạp để GDĐT Việt Nam có thể tiến kịp GD các nước trong khu vực và thế giới. Tuy vậy, trong những bước tiến của Việt Nam trong kỷ nguyên mới chúng ta phải thật sự nhìn thẳng sự thật để thay đổi với một tốc độ khác, một kết quả như chúng ta mong muốn.
Trước hết, về phía nhà trường và nhà giáo, còn nhiều bất cập cần sớm có biện pháp khắc phục. Chương trình đã thiết kế giảm tải kiến thức lý thuyết, tăng tính thực hành, trải nghiệm, nhưng giáo viên vẫn bám vào cách dạy cũ chỉ chú ý vào lý thuyết, không khơi mới phương pháp giáo dục, phương pháp giảng dạy. Vẫn gò ép học sinh tập trung giảng nhiều bài tập lý thuyết, chưa làm mới vai trò khích lệ động viên và chỉ ra cách tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức, thông qua thực hành trải nghiệm thực tế để có kinh nghiệm, khám phá tự tìm chân lý. Điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện CNTT các nhà trường không được trang bị đồng đều. Thiết bị dạy học tối thiểu trang bị cho các nhà trường không theo kịp yêu cầu triển khai chương trình. Chương trình GD KNS, GTS và chương trình trải nghiệm, hướng nghiệp chưa hướng tới hỗ trợ học sinh vừa rèn kỹ năng, phẩm chất người học, vừa nâng cao nhận thức và hiểu biết kiến thức khoa học của từng môn, từng cấp vẫn có độ chênh lệch giữa học sinh các trường, các vùng miền. Phương pháp giảng dạy, giáo dục linh hoạt, sáng tạo, đối với từng loại đối tượng, học sinh, giáo viên còn lúng túng. Các hoạt động giảng dạy, giáo dục đạo đức, lối sống, trải nghiệm hướng nghiệp vẫn nặng lý thuyết, làm theo SGK không sáng tạo, không thu hút học sinh nên chưa thực hiện được yêu cầu giúp học sinh tự phát triển, thực hiện các yêu cầu tự phát triển bản thân. Do đó đã dẫn đến nhiều yêu cầu của Chương trình 2018 chưa đến được với học sinh.
Về phía học sinh: Những em có ý thức, có nỗ lực, tự giác tìm được phương pháp tự phát triển bản thân đều đạt kết quả rất tốt, vượt trội so với học sinh các thế hệ trước. Tuy vậy, số đông học sinh vẫn nặng học vẹt, thụ động, lệ thuộc SGK. Khả năng tư duy phản biện, sáng tạo còn hạn chế. Học sinh chưa được rèn luyện đầy đủ kỹ năng về GTS, KNS nên kỹ năng ứng xử, kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng làm việc nhóm, năng lực số và kỹ năng tư duy của công dân toàn cầu còn hạn chế.
Tóm lại, năng lực, phẩm chất học sinh, qua một vòng 5 năm thực hiện, xong mục tiêu của Chương trình 2018 vẫn chưa đạt kết qua như mong muốn.
Các điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên tỉnh, thành vẫn còn thiếu. Những thiết bị trang bị chưa đồng bộ, chất lượng thiết bị khi sử dụng không bền, không phù hợp, thiếu về số lượng, yếu về chất lượng nên vẫn chưa phát huy.
Điều kiện về học liệu, về quản lý chưa được số hoá đồng bộ nên công tác quản lý, quản trị các nhà trường còn rất hạn chế.
Bệnh thành tích trong giáo dục còn nặng nề, từ các cấp quản lý đến giáo viên, học sinh và phụ huynh.
Mục tiêu học tập không vì phát triển bản thân của mỗi học sinh mà tất cả chỉ chạy theo điểm số, bằng khen các cấp, cho việc chọn trường
Đặc biệt cấp THPT được xác định là cấp định hướng nghề nghiệp, nhưng Chương trình giáo dục hướng nghiệp từ THCS đến THPT không đồng bộ. Học sinh THCS không được trang bị đủ kiến thức để tự đánh giá năng lực sở trường bản thân, chỉ tập trung cốt sao có điểm đỗ vào trường chuyên, lớp chọn, vào các trường công lập. Do đó, học sinh vào THPT nhưng vẫn không biết lựa chọn môn học cho đúng với nghề nghiệp mình mong muốn. Việc tuyển sinh của các trường ĐH, CĐ vẫn nặng lấy điểm số học bạ. Một số trường có cải tiến đánh giá năng lực, nhưng các chương trình đánh giá này chưa liên thông với THPT, nên học sinh có kiểm tra nhưng chưa được giáo viên phân tích rèn luyện nên chắc chắn đánh giá năng lực đó chỉ là năng lực tự nhiên, nên đó chưa phải những năng lực cơ bản học sinh, phải có được chỉ dẫn để tự rèn có được năng lực thật của mỗi người.
4. Kết luận
Tám mươi năm nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã đóng góp to lớn cho quá trình dựng nước, giữ nước của công cuộc cách mạng của Đảng gần 100 năm nay. Giáo dục cách mạng Việt Nam 80 năm qua đã nêu cao nhiều bài học truyền thống tốt đẹp, đã đạt được những thành tích đáng tự hào. Nó đã tạo ra một bệ đỡ, một bàn đạp chắc chắn cho giáo dục cách mạng Việt Nam cất cánh cùng đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; quyết tâm xây dựng một nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới và phải thưc hiện bằng được mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng một nền GD quốc dân hiện đại, nhân văn, phát huy hết khả năng tiềm ẩn của mỗi người Việt Nam để đưa Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc năm châu.
Chúng tôi cũng mong muốn nền giáo dục quốc dân hiện đại của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước không chỉ có thể sánh vai với các cường quốc năm châu về mọi mặt, trong đó có GDĐT.
Trước mắt chúng tôi mong muốn các nhà trường, nhà giáo phải được thực hiện và làm được việc “Tự chủ - Dân chủ - Nhân văn - Sáng tạo - Hội nhập”. Các nhà trường phải thay đổi phương pháp dạy, phương pháp giáo dục để mỗi học sinh có đủ phẩm chất, năng lực, chuẩn bị tốt cho việc trở thành công dân chất lượng cao của thời đại số, mà đứng đầu là các trường chuyên, lớp chọn chất lượng cao. Các nhà trường, nhà giáo cũng phải mạnh dạn đoạn tuyệt với những hạn chế, bất cập, đang hạn chế, níu kéo những cố gắng, những bứt phá của nền giáo dục quốc dân hiện đại.
Tài liệu tham khảo
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, 9,15 (tr.440, 265, 668, 672)
2. Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, KL91/KL-TW.
3, Đảng Cộng Sản Việt Nam (2025), “Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIX của Đảng”, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Tùng Lâm (2024): “Quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh vào Giáo dục - đào tạo vào đổi mới giáo dục theo tinh thần NQ29/TW và KL 91/KL-TW”, Kỷ yếu Hội thảo diễn đàn giáo dục - đào tạo, Hà Nội.
5. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Tùng Lâm (2025): “Nhà trường cần làm gì khi bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc và xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới”, Kỷ yếu Hội thảo 80 năm Bác Hồ gửi thư cho các em học sinh và phát triển giáo dục trong kỷ nguyên vươn mình - góc nhìn từ nhà trường” của Hội KHTL-GD Việt Nam và Viện nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục - Viện trí Việt.
6. Giáo sư Phạm Tất Dong (2025) “Trường chuyện đứng trước yêu cầu nhân lực cho Cách mạng lần thứ tư đặt ra”, Tạp chí Công dân và Khuyến học, 5/2025.
7. Nghị quyết 60/NQ-TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ XI BCHTW Đảng khoá XIII.
8. Jacques Delons (1996) “Học tập một kho báu tiềm ẩn”.
9. Báo Hà Nội mới ngày 17/4/2025: Phát biểu của Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm trong Hội nghị triển khai NQTW lần thứ XI “Xác định quyết tâm chính trị cao nhất trong thực hiện NQTW lần thứ XI của Đại hội XIII”.
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể.
11. Tổng cục Thống kê (2023), Niên giám Thống kê Việt Nam.
12. Hồ Chí Minh (1946), Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia.
13. UNESCO (2022), Reimagining our futures together: A new social contract for education.