Ngô Hồng Lâm -
Học viện Chính trị khu vực III
Email: [email protected]
Tóm tắt: Bài viết làm rõ vai trò của báo chí trong phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên theo quan điểm của Đảng trong thời kỳ mới thông qua việc phân tích thực trạng và những hạn chế còn tồn tại, từ đó đề xuất giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của báo chí như một động lực phát triển vùng đất giàu tiềm năng và bản sắc này.
Từ khóa: Tây Nguyên, báo chí, phát triển, kinh tế - xã hội.
1. Đặt vấn đề
Tây Nguyên - vùng đất giàu bản sắc văn hóa, tiềm năng kinh tế, và có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước - luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo phát triển toàn diện. Trên bản đồ phát triển quốc gia, Tây Nguyên không chỉ là vùng đất của những cánh rừng đại ngàn, cà phê bạt ngàn và văn hóa cồng chiêng độc đáo, mà còn là khu vực nhạy cảm về chính trị, an ninh quốc phòng, đa dân tộc và đa tôn giáo.
Trong bối cảnh đó, báo chí được Đảng xác định là một công cụ đặc biệt quan trọng. Không chỉ là phương tiện thông tin đơn thuần, báo chí còn giữ vai trò “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là phương tiện chuyển tải chủ trương, chính sách; là công cụ phản bác thông tin xấu độc; và là nền tảng tạo sự đồng thuận, lan tỏa niềm tin, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động của báo chí tại Tây Nguyên vẫn còn những hạn chế: hạ tầng chưa đồng bộ, nội dung chưa phù hợp bản sắc địa phương, đội ngũ làm báo thiếu tính chuyên nghiệp… Điều này đặt ra yêu cầu cần nhìn nhận đúng vai trò của báo chí theo tư duy phát triển mới của Đảng để từ đó có giải pháp phát huy vai trò của báo chí trong phát triển kinh tế - xã hội của Tây Nguyên trong thời gian tới.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Quan điểm của Đảng về vai trò báo chí trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Ngay từ thời kỳ đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ vai trò của báo chí, truyền thông trong sự nghiệp cách mạng, Người nhấn mạnh “Báo chí là người tuyên truyền, cổ động, tổ chức chung, người lãnh đạo chung”[5, tr.166]. Tư tưởng đó trở thành nền tảng để Đảng ta nhận thức rằng báo chí là công cụ tuyên truyền, là diễn đàn của nhân dân và là phương tiện quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước. Đồng thời, Đảng cũng nhấn mạnh vai trò của báo chí trong việc phản ánh thực tiễn, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân, và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Từ quan điểm trên, Điều 4 Luật Báo chí Việt Nam 2016 khẳng định “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội”[6]. Qua đó, báo chí “góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[6]. Như vậy, phát triển kinh tế - xã hội đã trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của báo chí và được thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, báo chí là kênh thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Báo chí giữ vai trò trung tâm trong việc truyền tải nhanh chóng, chính xác các chủ trương, chính sách, nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội đến với người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong hành động, huy động sức mạnh của toàn dân tham gia vào quá trình phát triển đất nước. Đặc biệt trong các giai đoạn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, báo chí đã kịp thời phản ánh quá trình triển khai, lan tỏa điển hình tiên tiến và đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp vượt qua khó khăn, phục hồi và phát triển sản xuất - kinh doanh.
Thứ hai, báo chí phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội.
Báo chí là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, phản ánh trung thực, khách quan đời sống xã hội. Thông qua các bài viết điều tra, phóng sự, phân tích chuyên sâu, báo chí đã góp phần phát hiện những bất cập, sai phạm trong quá trình quản lý, điều hành kinh tế - xã hội; từ đó kiến nghị giải pháp điều chỉnh chính sách cho phù hợp thực tiễn. Vai trò phản biện xã hội của báo chí giúp tăng cường tính minh bạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và củng cố lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền các cấp.
Thứ ba, báo chí thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển sản xuất - kinh doanh.
Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, báo chí không chỉ cung cấp thông tin mà còn lan tỏa tri thức, công nghệ, giới thiệu mô hình sản xuất mới, kinh doanh hiệu quả, khởi nghiệp sáng tạo. Nhiều tờ báo, kênh truyền hình đã chủ động đồng hành cùng doanh nghiệp, nông dân, thanh niên khởi nghiệp để quảng bá sản phẩm, kết nối thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh. Đồng thời, báo chí đang mở rộng không gian thông tin, giúp các chủ thể kinh tế tận dụng công cụ truyền thông để phát triển thương hiệu, quảng bá sản phẩm, tiếp cận khách hàng một cách hiệu quả.
Thứ tư, báo chí gắn kết cộng đồng, thúc đẩy phát triển bền vững.
Báo chí góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, giáo dục, y tế, văn hóa… Đây chính là nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, hài hòa giữa lợi ích kinh tế và trách nhiệm xã hội. Thông tin nhân văn, tích cực từ báo chí, truyền thông cũng có tác dụng động viên, cổ vũ những giá trị tốt đẹp, lối sống nhân ái, nghĩa tình - từ đó vun đắp bản sắc văn hóa và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Nắm bắt được những vai trò quan trọng của báo chí trong phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương xây dựng phát triển hệ thống các cơ quan báo chí từ trung ương đến địa phương và trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Tính đến cuối năm 2024 cả nước có 884 cơ quan báo chí, trong đó có 137 báo, 675 tạp chí và 72 đài phát thanh - truyền hình[4]. Trong thời gian vừa qua, các cơ quan báo chí đã tăng cường hoạt động thông tin, tuyên truyền nhằm cụ thể hóa và đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào thực tiễn đời sống xã hội. Báo chí đã phản ánh đậm nét, sâu rộng và lan tỏa mạnh mẽ những sự kiện chính trị, ngoại giao trọng đại, cũng như các ngày lễ lớn của đất nước. Đồng thời, tiếp tục chủ động tuyên truyền về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Ngoài ra, báo chí đã tập trung phản ánh công tác chỉ đạo, điều hành và triển khai thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội với nhiều đổi mới, sáng tạo; từ đó phân tích, lý giải thực tiễn một cách sinh động và đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
2.2. Vai trò của báo chí trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên
Đối với địa bàn chiến lược như Tây Nguyên, Đảng ta xem báo chí vừa là công cụ quan trọng, lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, vừa là kênh truyền thông phát triển và kết nối vùng sâu, vùng xa. Theo đó, báo chí được xác định là công cụ sắc bén nhằm: tuyên truyền, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tăng cường gắn kết giữa các dân tộc thiểu số, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; định hướng dư luận xã hội, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của các tầng lớp nhân dân.
Trong thời gian qua, các tỉnh Tây Nguyên đã xây dựng và tạo điều kiện cho hoạt động của các cơ quan báo chí. Theo đó, hệ thống báo chí tại Tây Nguyên bao gồm cả cơ quan báo chí địa phương và văn phòng đại diện, phóng viên thường trú của các cơ quan báo chí Trung ương. Trong đó, các cơ quan báo chí địa phương với báo tỉnh có cả phiên bản in và báo điện tử, đóng vai trò chủ lực trong việc truyền tải thông tin chính thống đến người dân; đài phát thanh - truyền hình tỉnh là kênh thông tin quan trọng trong việc phủ sóng đến các vùng sâu, vùng xa và có các chương trình phát sóng bằng tiếng dân tộc thiểu số; tạp chí chuyên ngành/văn học nghệ thuật của tỉnh. Đồng thời, hầu hết các báo lớn của Trung ương đều có văn phòng đại diện hoặc cử phóng viên thường trú và phóng viên tác nghiệp thường xuyên tại các tỉnh Tây Nguyên.
Biểu đồ: Số lượng cơ quan báo chí hoạt động tại các tỉnh Tây Nguyên

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Tây Nguyên
Hệ thống cơ quan báo chí địa phương và văn phòng đại diện, phóng viên thường trú và phóng viên tác nghiệp thường xuyên của các cơ quan báo chí Trung ương đã có đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Tây Nguyên, cụ thể đó là:
Thứ nhất, tuyên truyền chủ trương, chính sách phát triển vùng.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, báo chí giữ vai trò là kênh truyền tải thông tin chính thống và hiệu quả nhất về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân, đặc biệt là vùng Tây Nguyên với đặc thù đa dân tộc và địa bàn rộng lớn. Báo chí không chỉ cung cấp thông tin, mà còn góp phần định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận xã hội và nâng cao nhận thức của cộng đồng về các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Thời gian qua, các cơ quan báo chí địa phương cùng với sự phối hợp của các báo chí trung ương, đã thực hiện tốt vai trò này thông qua việc tuyên truyền các nghị quyết quan trọng, trong đó có Nghị quyết số 23-NQ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị về phát triển vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Những nội dung này được phổ biến rộng rãi qua các chuyên mục, bài viết và các chương trình phát thanh, truyền hình chuyên đề, giúp người dân hiểu rõ về định hướng phát triển bền vững, phát huy lợi thế địa phương.
Điển hình là công tác tuyên truyền của các cơ quan báo chí về chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi cây trồng chủ lực như cà phê, hồ tiêu sang các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn như mắc ca, sầu riêng. Nhờ đó, nhiều nông dân đã nắm bắt cơ hội và tích cực tham gia các mô hình sản xuất mới, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống.
Thứ hai, thúc đẩy phát triển sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.
Báo chí đóng vai trò trung gian không thể thiếu trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Tây Nguyên. Qua các chương trình truyền thông, bài viết chuyên sâu, phóng sự, báo chí giúp quảng bá hình ảnh sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của vùng như cà phê Buôn Ma Thuột, hồ tiêu Gia Lai, rau và hoa Đà Lạt.
Hơn nữa, báo chí còn là kênh kết nối giữa người sản xuất với thị trường trong nước và quốc tế. Việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm qua truyền hình, báo in và các nền tảng số tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và hợp tác xã mở rộng mạng lưới tiêu thụ, giảm thiểu tình trạng được mùa mất giá.
Chương trình “Chuyển động Tây Nguyên” của Đài Phát thanh - Truyền hình Gia Lai là một minh chứng điển hình. Chương trình đã giúp lan tỏa những mô hình sản xuất sạch, ứng dụng công nghệ cao, đồng thời tạo cầu nối giữa người nông dân, doanh nghiệp và khách hàng tiềm năng. Qua đó, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế nông thôn và gia tăng giá trị hàng hóa.
Thứ ba, góp phần thu hút đầu tư và phát triển du lịch.
Phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên không thể tách rời việc thu hút đầu tư và phát triển du lịch, trong đó báo chí có vai trò quan trọng trong công tác quảng bá hình ảnh và tiềm năng của vùng đất giàu bản sắc văn hóa và thiên nhiên này.
Thông qua các chuyên trang, chuyên đề về kinh tế - du lịch, báo chí đã quảng bá các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, các lễ hội lớn như Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột, Festival Hoa Đà Lạt, cũng như các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đặc sắc. Những thông tin này đã thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy phát triển hệ thống hạ tầng du lịch và dịch vụ đồng bộ, góp phần tăng trưởng kinh tế vùng.
Các bài viết sâu sắc, các phóng sự chân thực đã tạo nên hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, làm nổi bật tiềm năng đa dạng của Tây Nguyên, từ đó thúc đẩy ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân địa phương.
Thứ tư, phát hiện và nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả.
Báo chí không chỉ truyền tải thông tin một chiều mà còn có chức năng phát hiện, giới thiệu và nhân rộng các mô hình kinh tế sáng tạo, hiệu quả, đặc biệt là trong bối cảnh Tây Nguyên đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững và hiện đại. Thông qua các bài viết, phóng sự điều tra và phỏng vấn các nhân vật điển hình, báo chí đã góp phần ghi nhận thành công của các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã, các doanh nghiệp khởi nghiệp của thanh niên và đồng bào dân tộc thiểu số. Điều này vừa khích lệ tinh thần đổi mới sáng tạo trong cộng đồng, vừa cung cấp bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương khác học tập, áp dụng.
Điển hình là Tạp chí Dân tộc và Miền núi đã có nhiều bài viết về mô hình hợp tác xã trồng rau hữu cơ tại Kon Tum, mô hình này đã tạo ra sản phẩm sạch, đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao về an toàn thực phẩm, cải thiện thu nhập cho người dân. Từ đó, mô hình này đã được các địa phương trong khu vực Tây Nguyên nhân rộng.
Thứ năm, tham gia giám sát và phản biện chính sách.
Các cơ quan báo chí đã tích cực tham gia giám sát thực thi chính sách và phản biện xã hội nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phòng chống tiêu cực và sai phạm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Tây Nguyên. Theo đó, các cơ quan báo chí đã thực hiện nhiều cuộc điều tra, phản ánh các vấn đề nổi cộm như phá rừng trái phép, quản lý đất đai chưa hiệu quả, những bất cập trong quá trình triển khai các dự án phát triển kinh tế. Những bài báo, phóng sự điều tra này đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy các cấp chính quyền kịp thời xử lý, điều chỉnh các sai sót, đồng thời nâng cao trách nhiệm công vụ. Một minh chứng rõ nét là các bài viết năm 2023 phản ánh về tình trạng phá rừng ở Đắk Nông, đã thúc đẩy các cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng.
Dù đã có nhiều đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của vùng, báo chí ở Tây Nguyên vẫn đang đối mặt với nhiều hạn chế nội tại. Những bất cập này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả tuyên truyền mà còn hạn chế vai trò của báo chí trong việc định hướng dư luận, củng cố niềm tin xã hội và góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể:
Thứ nhất, mạng lưới báo chí chưa phủ đều, còn tồn tại “vùng lõm” thông tin.
Tây Nguyên có địa hình phức tạp, nhiều khu vực là vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, địa bàn rộng và dân cư phân tán. Mặc dù trong những năm gần đây, hạ tầng thông tin báo chí đã được quan tâm đầu tư, song vẫn còn nhiều “vùng lõm” thông tin - nơi sóng phát thanh, truyền hình hoặc internet yếu, thậm chí không có tín hiệu. Điều này khiến người dân tại các khu vực này không được tiếp cận đầy đủ và kịp thời với thông tin chính thống từ các cơ quan báo chí.
Tình trạng này không chỉ làm gián đoạn việc phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mà còn tạo ra khoảng trống thông tin, dễ bị các nguồn tin không kiểm chứng trên mạng xã hội lấp đầy, làm gia tăng nguy cơ bị tác động bởi các thông tin sai lệch, xuyên tạc. Việc chưa phủ sóng đầy đủ cũng làm giảm hiệu quả tuyên truyền các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh biên giới, phòng chống tệ nạn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ hai, nội dung tuyên truyền đôi khi còn khô khan, thiếu hấp dẫn.
Một trong những điểm hạn chế thường được nhắc đến là nội dung tuyên truyền của báo chí tại Tây Nguyên đôi khi còn nặng về tính hành chính, thông báo một chiều, thiếu chiều sâu phản ánh thực tiễn hoặc chưa phù hợp với tâm lý, nhu cầu và trình độ tiếp nhận của từng nhóm đối tượng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.
Các bản tin hoặc bài viết có nội dung khô khan, hình thức trình bày cứng nhắc, ngôn ngữ chưa gần gũi thường không thu hút được sự quan tâm của người dân, từ đó làm giảm hiệu quả truyền thông. Đặc biệt, với những vấn đề phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn văn hóa dân tộc hay phòng, chống các hoạt động tôn giáo trái pháp luật… cách tiếp cận thông tin vẫn còn đơn điệu, thiếu tính sinh động và chưa thực sự chạm đến nhu cầu thực tế của người nghe, người đọc. Đồng thời, việc thiếu sự đổi mới trong phương thức thể hiện cũng là một trong những nguyên nhân khiến báo chí chưa tạo được sức lan tỏa lớn trong cộng đồng dân cư, nhất là thế hệ trẻ.
Thứ ba, nhân lực báo chí chưa được đào tạo bài bản, thiếu đóng góp của đội ngũ người dân tộc thiểu số.
Chất lượng nguồn nhân lực báo chí ở Tây Nguyên còn là vấn đề nan giải. Hiện nay, nhiều cơ quan báo chí địa phương đang thiếu đội ngũ phóng viên, biên tập viên có chuyên môn cao, am hiểu sâu sắc về văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Một số phóng viên làm việc kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng báo chí hiện đại hoặc truyền thông đa phương tiện, dẫn đến hạn chế trong việc triển khai các sản phẩm truyền thông chất lượng cao.
Đặc biệt, đội ngũ làm báo là người dân tộc thiểu số còn rất ít. Đây là một thiệt thòi lớn, bởi chính những người bản địa có khả năng tiếp cận gần gũi với cộng đồng, hiểu văn hóa, ngôn ngữ và tập quán sinh hoạt, từ đó truyền tải thông tin một cách phù hợp và hiệu quả hơn. Thiếu vắng lực lượng này khiến báo chí khó phát huy tối đa vai trò “cầu nối” giữa chính sách và thực tiễn, giữa Nhà nước và người dân trong bối cảnh đa văn hóa như Tây Nguyên.
Thứ tư, cạnh tranh thông tin trên mạng xã hội, tin giả, xuyên tạc vẫn còn tồn tại.
Sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội mang đến cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho báo chí chính thống, đặc biệt trong môi trường thông tin đa chiều và khó kiểm soát như hiện nay. Tại Tây Nguyên, do trình độ dân trí và kỹ năng số của một bộ phận người dân còn hạn chế, nhiều người dễ bị ảnh hưởng bởi thông tin thất thiệt, xuyên tạc trên mạng xã hội.
Tin giả, tin sai sự thật, các luận điệu kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo, xuyên tạc chủ trương, chính sách phát triển vùng vẫn xuất hiện, gây nhiễu loạn thông tin và ảnh hưởng đến niềm tin xã hội. Trong khi đó, báo chí chính thống đôi khi chưa phản ứng kịp thời, thiếu tính cạnh tranh về tốc độ và tính tương tác, làm giảm sức ảnh hưởng trong việc dẫn dắt và định hướng dư luận.
Việc thiếu cơ chế phối hợp linh hoạt giữa báo chí và các cơ quan quản lý thông tin ở cơ sở, cũng như thiếu chiến lược xử lý và phản bác thông tin sai lệch một cách hiệu quả, khiến vai trò bảo vệ nền tảng tư tưởng và ổn định xã hội của báo chí chưa được phát huy tối đa.
2.3. Giải pháp phát huy vai trò của báo chí trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên
Từ thực trạng trên, để báo chí thực sự trở thành động lực trong phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường đầu tư hạ tầng báo chí, xóa “vùng lõm” thông tin.
Một trong những yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả truyền thông là bảo đảm người dân được tiếp cận với các phương tiện truyền thông chính thống. Do vậy, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng viễn thông, phủ sóng phát thanh - truyền hình đến các vùng sâu, vùng xa, biên giới - nơi vẫn còn những “vùng lõm” thông tin.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh số hóa báo chí và phát triển báo chí điện tử, ứng dụng công nghệ số để đưa nội dung báo chí đến với người dân qua điện thoại thông minh, mạng xã hội và các nền tảng số khác, nhất là trong bối cảnh người dân ngày càng phụ thuộc vào thông tin trực tuyến.
Thứ hai, đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền theo hướng gần gũi, thiết thực.
Các cơ quan báo chí ở Tây Nguyên cần đổi mới cách tiếp cận nội dung, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, thân thiện với người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Việc sản xuất các chuyên mục, chuyên trang, phóng sự, bản tin với nội dung phong phú, thiết thực, phản ánh chân thực đời sống sản xuất, sinh hoạt của đồng bào sẽ góp phần nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần tự lực, sáng tạo, vươn lên thoát nghèo.
Cần chú trọng truyền thông về những mô hình phát triển kinh tế hiệu quả, điển hình tiên tiến, các chính sách dân tộc - tôn giáo, an sinh xã hội… qua đó nâng cao niềm tin của người dân vào đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, góp phần ổn định kinh tế - xã hội của khu vực.
Thứ ba, phát triển đội ngũ người làm báo có trình độ, am hiểu văn hóa dân tộc.
Nguồn nhân lực báo chí là yếu tố quyết định chất lượng nội dung và khả năng lan tỏa của thông tin. Các địa phương ở Tây Nguyên cần có chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phóng viên, biên tập viên có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng nghề nghiệp vững và đặc biệt là am hiểu văn hóa, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số.
Khuyến khích người dân tộc thiểu số theo học các ngành báo chí - truyền thông và công tác tại địa phương để tăng cường “bản địa hóa” đội ngũ làm báo. Đồng thời, cần tạo điều kiện để đội ngũ phóng viên thường trú tại Tây Nguyên được tiếp cận các khóa tập huấn về chuyển đổi số, truyền thông đa phương tiện nhằm nâng cao năng lực trong kỷ nguyên báo chí số.
Thứ tư, tăng cường truyền thông phản bác thông tin xấu độc, định hướng dư luận.
Trước sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội và sự lan truyền của thông tin giả, báo chí chính thống cần đóng vai trò “người gác cổng thông tin”, chủ động phát hiện, đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về tình hình dân tộc, tôn giáo, đất đai, môi trường... ở Tây Nguyên.
Cần xây dựng các tuyến bài điều tra, phân tích, phản biện rõ ràng, thuyết phục và kịp thời, đồng thời ứng dụng các nền tảng số để lan tỏa thông tin chính thống một cách nhanh nhạy và hiệu quả. Sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí với chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể, già làng, chức sắc tôn giáo sẽ tạo nên thế trận truyền thông vững chắc ở cơ sở.
Thứ năm, đa dạng hóa nguồn lực phát triển báo chí địa phương.
Để báo chí thực hiện tốt chức năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, các địa phương ở Tây Nguyên cần có cơ chế đầu tư ổn định cho hệ thống báo chí, đặc biệt là các cơ quan báo, đài cấp tỉnh. Ngoài ngân sách nhà nước, cần khuyến khích xã hội hóa báo chí theo định hướng đúng đắn, minh bạch, gắn với phát triển báo chí đa nền tảng và nâng cao tính tự chủ tài chính của cơ quan báo chí.
Cùng với đó, việc xây dựng chiến lược phát triển báo chí địa phương giai đoạn 2025-2030 cần được lồng ghép với các chương trình chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ mới… nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp và bền vững cho báo chí vùng Tây Nguyên.
3. Kết luận
Phát huy vai trò của báo chí trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên là nhiệm vụ lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các cơ quan báo chí, đội ngũ người làm báo và chính người dân. Khi được đầu tư đồng bộ về hạ tầng, nội dung, nhân lực và công nghệ, báo chí sẽ không chỉ là công cụ tuyên truyền chính sách mà còn là kênh kết nối niềm tin, cổ vũ đổi mới sáng tạo và thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực chiến lược quan trọng này.
Tài liệu tham khảo
[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2007): Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 01/8/2007 về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới.
[2]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017): Kết luận số 23-KL/TW ngày 22/11/2017 về tăng cường chỉ đạo, quản lý, phát huy vai trò của báo chí, xuất bản trong việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
[3]. Bộ Chính trị (2022): Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 06/10/2022 về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[4]. Bộ Thông tin và Truyền thông (2024): Báo cáo công tác báo chí năm 2024 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2025.
[5]. Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập 12.
[6]. Quốc hội (2016): Luật số 103/2016/QH13 ngày 05/4/2016: Luật Báo chí.
PROMOTING THE ROLE OF THE PRESS IN FOSTERING SOCIO-ECONOMIC DEVELOPMENT IN THE CENTRAL HIGHLANDS
Ngo Hong Lam
Academy of Politics Region III
Email: [email protected]
Abstract: The article clarifies the role of the press in the socio-economic development of the Central Highlands in accordance with the perspectives of the Communist Party of Vietnam in the new era, through an analysis of the current situation and existing limitations. On this basis, it proposes practical solutions to improve the effectiveness of the press as a driving force for the development of this region, which is endowed with rich potential and a distinctive cultural identity.
Keywords: Central Highlands, press, development, socio-economic.