Đại tá, TS Trần Đình Hồng -
Phó Tổng biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự
Tóm tắt:Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, với 6 tôn giáo chính gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo. Mỗi tôn giáo mang những nét văn hóa riêng nhưng đều hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ, “tốt đời, đẹp đạo”, luôn có sự dung hợp, hòa đồng, thống nhất trong đa dạng. Đảng và Nhà nước ta luôn có chủ trương, chính sách nhất quán về tôn giáo giáo; tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, bảo đảm cho các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Các tôn giáo ở Việt Nam luôn phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong các giai đoạn của cách mạng.
1. Đặt vấn đề
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi các giá trị nhân bản của các tôn giáo là những di sản vǎn hoá tinh thần quý báu của nhân loại, bằng tri thức cách mạng, vốn hiểu biết về vǎn hoá sâu sắc và cái nhìn duy vật biện chứng, Người đã phát hiện và tiếp nhận cái thiện, cái mỹ, cái cốt lõi nhân vǎn trong các tôn giáo. Người đã viết: Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” [5, tr.130]. Người đã nhấn mạnh điểm chung giữa lý tưởng của chủ nghĩa Mác với tôn giáo và các học thuyết có tính tiến bộ, đó là mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Đây là một đặc điểm lớn được Hồ Chí Minh khai thác một cách triệt để và tài tình trong giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo.
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn nhận thức đúng vai trò của tôn giáo và tín ngưỡng tôn giáo. Những năm qua, các tôn giáo ở Việt Nam không ngừng phát triển về tổ chức và hoạt động, đồng bào các tôn giáo đoàn kết, gắn bó, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là biểu hiện sinh động cho việc quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo đảm trên thực tế. Trong tiến trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tôn giáo đã góp phần to lớn vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến thần thánh, vĩ đại trong thế kỷ XX và tiếp tục phát huy trong công cuộc đổi mới của đất nước ta.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo
Nhận thức đúng vai trò của tôn giáo, Đảng ta đã khẳng định: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”[1]; “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”[2]. Từ đó, Đảng, Nhà nước ta thường luôn đặc biệt quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức tôn giáo được sinh hoạt theo hệ thống giáo lý, giáo luật và quy định của pháp luật Việt Nam.
Thực tiễn cho thấy, ngay từ khi ra đời và trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm đến tôn giáo, bình đẳng tôn giáo; luôn coi đồng bào tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; coi nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của người dân, được Nhà nước tôn trọng và bảo hộ. Từ đó, Ðảng và Nhà nước ta luôn thực hiện nhất quán trong chủ trương, đường lối, chính sách trong thực tế và cụ thể bằng các văn bản pháp luật. Ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 234/SL về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó chỉ rõ: việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân; chính quyền dân chủ cộng hòa luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện, không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo.
Trong các giai đoạn của cách mạng, Ðảng, Nhà nước ta đã ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời, bảo đảm quyền tự do tôn giáo và tạo hành lang pháp lý để các tôn giáo hoạt động ổn định và tích cực đóng góp sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân; tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và các tôn giáo, góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và các giáo hội tôn giáo… Điều đó được thể hiện rõ ở: Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/2005/NÐ-CP ngày 01/3/2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo..; đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”[3]. Đại hội lần thứ XIII tiếp tục khẳng định: “Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”[4].
Về sự tham gia của tôn giáo vào đời sống chính trị, có thể thấy Đảng và Nhà nước ta có cơ chế và luôn khuyến khích, đề cao sự tham gia đội ngũ chức sắc, chức việc, cùng đồng bào tôn giáo vào các hoạt động của Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc, như tham gia bầu cử, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội; tham gia phản biện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Theo thống kê, trong các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp những nhiệm kỳ gần đây đều có sự tham gia của các đại biểu là tôn giáo; từ nhiệm kỳ Quốc hội khoá I đến nay, đã có gần 60 vị chức sắc, chức việc tiêu biểu của các tôn giáo được bầu vào Quốc hội, riêng Quốc hội khóa XV có 05 đại biểu; đại biểu và đồng bào tôn giáo cũng đã có nhiều đóng góp tích cực trong hoạt động của bộ máy của hệ thống chính trị.
Trong hơn 20 năm trở lại đây, việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho kết quả hết sức ấn tượng. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo hợp pháp với hơn 27 triệu tín đồ (chiếm khoảng 28% dân số cả nước); trong đó có trên 55.000 chức sắc, 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự. Các tôn giáo đều chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước. Ðời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phong phú, đa dạng, nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo thu hút đông đảo tín đồ, người dân tham dự. Về cơ bản, bà con giáo dân luôn nêu cao tinh thần “kính Chúa, yêu nước”, sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Thực tiễn cho thấy, không chỉ ở Việt Nam, mà ngay ở các nước tư bản phát triển, nơi được coi là “xứ sở tự do” hay “thiên đường” của tôn giáo, thì cũng không có tôn giáo nào đứng ngoài pháp luật của Nhà nước, không có tôn giáo nào đứng ngoài dân tộc. Mà trái lại, lợi ích của tôn giáo luôn luôn gắn bó mật thiết và phải phục vụ lợi ích của giai cấp, của đất nước của giai cấp thống trị. Điều đó cho thấy, mọi luận điệu cho rằng tôn giáo đứng ngoài dân tộc, hay chính quyền đàn áp, đối xử bất công với tôn giáo của các thế lực thù địch là hoàn toàn xuyên tạc, bịa đặt về đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam.
Từ những vấn đề trên có thể khẳng định, những thành tựu đạt được trong giải quyết các vấn đề về tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, cùng sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của các tôn giáo và đồng bào tôn giáo; đặc biệt là sự đồng thuận của đồng bào tôn giáo với đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội là minh chứng cho những quan điểm, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong giải quyết vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời khẳng định: Đồng bào tôn giáo là một bộ phận không thể tách dời trong khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam; ở Việt Nam, tôn giáo không đứng ngoài dân tộc.
Từ lý luận và thực tiễn trên cho thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn đứng vững trên lập trường chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết đúng đắn, sáng tạo vấn đề tôn giáo. Chính vì vậy, kết quả giải quyết vấn đề tôn giáo không chỉ góp phần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn góp phần làm cho tình hình tôn giáo ở Việt Nam ổn định, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được tôn trọng và bảo đảm; đời sống tôn giáo phong phú, đa dạng; đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo sống đoàn kết, hòa đồng. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn coi đây là trọng tâm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, để tiếp tục phát huy tốt vai trò của các tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới; đồng thời, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cần thực hiện thường xuyên và đồng bộ các giải pháp phù hợp với điều kiện xã hội lịch sử cụ thể.
2.2. Giải pháp phát huy vai trò của các tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về tôn giáo cho phù hợp với thực tiễn.
Hoàn thiện thể chế về tôn giáo là vấn đề quan trọng, cấp thiết không chỉ góp phần bảo đảm hoạt động tôn giáo đúng hướng, mà còn là cơ sở đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Vì vậy, trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo cần thể chế hóa cụ thể hơn bằng hệ thống pháp luật, chính sách về tôn giáo. Từ đó, cần tiếp tục thể chế hóa thành chính sách, pháp luật về tôn giáo cho phù hợp với thực tiễn hiện nay, nhằm tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của Đảng, thực hiện kết hợp chặt chẽ giữa “đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; đồng thời vừa tạo điều kiện tốt nhất cho các tôn giáo phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tích cực, tiến bộ, huy động mọi nguồn lực của đồng bào tôn giáo góp phần vào phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo phương châm “cầu đồng, tôn dị”, “tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” và tinh thần “kính chúa, yêu nước”. Từ đó, giúp cho đồng bào tôn giáo vững tin vào chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kết hợp chặt chẽ giữa việc đạo và việc đời; tích cực tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất nước, đấu tranh loại bỏ những biểu hiện và hành vi tiêu cực, lạc hậu.
Hai là, thường xuyên quan tâm, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội vùng đồng bào có đạo.
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở vùng đồng bào có đạo là giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định, đoàn kết đồng bào tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do điều kiện địa lý, đồng bào tôn giáo ở nước ta có mặt bằng không đồng đều; trong đó có một bộ phận lớn đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội kém phát triển, đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp. Đây chính là điều kiện thuận lợi để các thế lực thù địch tiến hành truyền đạo trái phép, phát triển các tà đạo và xây dựng cơ sở, lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước. Điều này cho thấy, chỉ thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế, xã hội ở vùng đồng bào tôn giáo, vùng sâu, vùng xa mới hạn chế được sự chống phá của các thế lực thù địch, củng cố niềm tin đối với Đảng và Nhà nước ta. Do đó, trên cơ sở chương trình, kế hoạch tổng thể vùng miền, cần rà soát, kịp thời bổ sung những chính sách đầu tư sát hợp; triển khai đồng bộ, chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, nhằm phát huy hiệu quả vốn và nguồn lực, thế mạnh của từng vùng, tạo điều kiện để đồng bào vươn lên thoát nghèo, hòa nhập với tiến trình chung của đất nước. Trong đó, trọng tâm cần thực hiện tốt các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng, tạo việc làm, tăng thu nhập; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, bảo đảm về y tế, chăm sóc sức khỏe của đồng bào tôn giáo. Đồng thời, phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị xã hội, Mặt trận Tổ quốc trong tuyên truyền vận động đồng bào tôn giáo chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách và Pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa; đấu tranh xóa bỏ các hủ tục, tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh, hiện đại, góp phần xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Ba là, đẩy mạnh công tác thông tin và truyền thông về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam.
Thực hiện tốt giải pháp này không chỉ giúp cho bạn bè quốc tế và các lực lượng tiến bộ trên thế giới hiểu rõ hơn về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và có cái nhìn khách quan về tình tôn giáo ở Việt Nam; mà còn là cơ sở để đấu tranh vạch trần bản chất chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước. Do đó, một mặt Đảng, Nhà nước cần thường xuyên chỉ đạo đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông quốc tế về thực trạng tình hình tôn giáo ở Việt Nam, cũng như quan điểm của Đảng ta về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo; mặt khác, thông qua các diễn đàn ngoại giao, các tổ chức quốc tế, diễn đàn hợp tác quốc tế cần tiếp tục khẳng định rõ lập trường, quan điểm của Việt Nam trong giải quyết vấn đề về tôn giáo, tạo sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, tích cực tham gia và hoàn thành tốt trách nhiệm với vai trò là thành viên của các tổ chức quốc tế trong giải quyết các vấn đề có liên quan đến nhân quyền, tôn giáo, dân tộc…
Bốn là, kịp thời phát hiện và đấu tranh kiên quyết với các âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước.
Các tổ chức, nhất là các cơ quan chức năng thường xuyên nắm tình hình, kịp thời phát hiện và chủ động xử lý, giải quyết các dứt điểm những vấn đề phức tạp liên quan đến tôn giáo, dân tộc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ; phân biệt rõ các phần tử đội lốt tôn giáo, sử dụng tôn giáo để chống phá với bà con giáo dân bị lợi dụng để có biện pháp xử lý phù hợp; có biện pháp xử lý kiên quyết với các chức sắc, chức việc cực đoan; bóc gỡ, vạch trần âm mưu và hoạt động chống phá của các tổ chức, lực lượng phản động lợi dụng tôn giáo. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và giải quyết dứt điểm, kịp thời các vụ việc khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động tôn giáo, không để các thế lực thù địch có cơ hội để lợi dụng, kích động, chống phá. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức đồng bào có đạo, vùng sâu, vùng xa từng bước xóa bỏ các tập tục lạc hậu; kiên quyết quyết ngăn chặn các hoạt động mê tín, dị đoan, truyền đạo trái pháp luật. Phát huy các giá trị đạo đức, giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; đẩy mạnh các hoạt động văn hóa cộng đồng, hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, tôn vinh những người có công với Tổ quốc. Bên cạnh đó, cần xây dựng và thực hiện nghiêm các quy định cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí và phân bổ chỉ tiêu ngân sách nhà nước cho công tác tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo ở tất cả các cấp, các ngành.
3. Kết luận
Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Tuy nhiên, đây là vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm không chỉ trong phạm vi quốc gia, dân tộc, mà còn mang tính quốc tế. Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề tôn giáo là một trong những ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trong quá trình phát triển đất nước. Đối với Việt Nam, tôn giáo ra đời từ rất sớm, sự ra đời và phát triển của nhiều tôn giáo gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đồng bào tôn giáo là bộ phận không thể tách dời trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, đồng thời có những đóng góp to lớn cho quá trình phát triển đất nước thời kỳ mới. Việc giải quyết tốt vấn đề tôn giáo không chỉ góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, mà còn trực tiếp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đảng đã xác định trong tình hình mới. Chính vì vậy, cùng với thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo mà Đảng đã xác định, bảo đảm cho đồng bào tôn giáo phát huy tiềm năng thế mạnh trong sự nghiệp xây dựng đất nước; chúng ta cần luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam; đây vừa là vấn đề cấp thiết, vừa có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
[1]. Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX), Nghị quyết về công tác tôn giáo, Số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003.
[2]. Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025.
[3]. Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo, Số 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008.
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 171.
[5]. Viện Nghiên cứu Tôn giáo (1996), Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.130