Đại tá, PGS. TS Trần Đình Tuấn -
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Email: [email protected]
Tóm tắt: Chất lượng đào tạo của các nhà trường quân đội chịu sự quy định của nhiều thành tố, trong đó đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định. Giảng viên là chủ thể tổ chức và thực hiện các hoạt động giáo dục, đào tạo trong nhà trường. Chất lượng giáo dục, đào tạo cao hay thấp, phần nhiều phụ thuộc vào năng lực và phẩm chất của đội ngũ giảng viên. Khoa Sư phạm quân sự là nơi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên cho các nhà trường quân đội. Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các nhà trường quân đội, phải phát huy vai trò của Khoa Sư phạm quân sự trong các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho giảng viên. Bài báo khái quát vai trò của Khoa Sư phạm quân sự, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trong bối cảnh hiện nay.
Từ khóa: Khoa Sư phạm quân sự; Bồi dưỡng giảng viên; Nhà trường quân đội
Nhận bài: 5/10/2025; Biên tập:8/10/2025; Duyệt đăng: 10/10/2025
1. Đặt vấn đề
Giáo dục – đào tạo trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Chất lượng đội ngũ giảng viên ở các nhà trường quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, góp phần quyết định chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Trong những năm gần đây, yêu cầu mới về xây dựng quân đội hiện đại đặt ra những tiêu chí khắt khe hơn đối với giảng viên quân sự. Giảng viên không chỉ giỏi chuyên môn nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, mà còn phải thành thạo phương pháp sư phạm hiện đại, có năng lực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ số. Khoa Sư phạm quân sự tại Học viện Chính trị là đơn vị trọng điểm thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường quân đội. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cần được nghiên cứu, đề xuất giải pháp phù hợp.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên ở nhà trường quân đội
2.1. Chủ trương, đường lối của Đảng và Quân ủy Trung ương về xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên ở các nhà trường quân đội
Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã xác định 8 giải pháp đột phá, trong đó giải pháp thứ 5 đã chỉ ra rằng: “Rà soát, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, bảo đảm số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.
Trong lĩnh vực quân sự, đã có nhiều nghị quyết và nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giảng viên của các nhà trường quân đội.
Nghị quyết 765-NQ/QUTW (2012) về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013–2020 và những năm tiếp theo” xác định rõ: đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục – đào tạo trong quân đội, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Kế hoạch triển khai Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong Quân đội đến 2030, tầm nhìn 2045 nhấn mạnh việc chuẩn hóa, hiện đại hóa các khâu của quá trình đào tạo, trong đó có đào tạo, bồi dưỡng giảng viên.
Đó là một số văn bản thể hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo trong từng giai đoạn cụ thể. Đó là cơ sở pháp lý, là phương pháp luận định hướng cho sự phát triển lý luận và thực tiễn bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở các nhà trường quân đội hiện nay.
2.2. Quá trình phát triển của khoa học giáo dục hiện đại
Quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo đã dẫn đến sự hình thành phát triển những quan điểm giáo dục mới, hiện đại. Lý thuyết dạy học lấy người học làm trung tâm, phát triển năng lực thay vì truyền thụ kiến thức thụ động.
Thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động làm khuynh đảo tất cả các khâu, các bước của quá trình giáo dục, đào tạo trong các nhà trường. Xu hướng ứng dụng công nghệ số, phương pháp dạy học tích cực, mô phỏng thực chiến, học tập trải nghiệm đang định hình những phương thức đào tạo mới. Trong kỷ nguyên số, không thể dạy và học mà không ứng dụng công nghệ số.
Đối với các nhà trường quân đội, xuất hiện mô hình “người giảng viên quân sự” trong thời kỳ mới. Người giảng viên vừa là nhà giáo, vừa là nhà nghiên cứu, vừa là người cán bộ sĩ quan chỉ huy, lãnh đạo bộ đội, vừa là nhà tổ chức huấn luyện, triển khai thực hiện các lý thuyết giáo dục hiện đại trong môi trường quân sự.
Tất cả những vấn đề phát triển mới trên đây của khoa học giáo dục đã đặt ra vấn đề phải đào tạo lại và tăng cường bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo trong quân đội.
2.3. Yêu cầu thực tiễn
Quá trình vận động, phát triển của thực tiễn giáo dục và đào tạo ở các nhà trường quân đội đặt ra yêu cầu phải chuẩn hóa chất lượng đội ngũ giảng viên. Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết định đến các hoạt động nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới.
Nội dung chuẩn hóa đội ngũ giảng viên ở các nhà trường quân đội hiện nay bao gồm chuẩn hóa về chức vụ, về trình độ học vấn, nghiệp vụ sư phạm, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, tác chiến điện tử và những phẩm chất đặc thù của người sĩ quan quân đội. Trong đó, những kỹ năng mềm không thể thiếu của thời đại hội nhập quốc tế và công nghệ 4.0 đặt ra.
Thực tiễn chiến tranh hiện đại đặt ra những yêu cầu cấp thiết phải đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo của các nhà trường quân đội. Thực tiễn đổi mới giáo dục, đào tạo của các nhà trường quân đội lại đặt ra yêu cầu mới về phát triển phẩm chất, năng lực của các nhà giáo. Để đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi giảng viên phải nghiên cứu khoa học giáo dục quân sự. Việc vận dụng các lý thuyết giáo dục hiện đại trong quá trình đổi mới phải phù hợp với đặc điểm của lĩnh vực hoạt động quân sự.
Quá trình đổi mới giáo dục, đào tạo ở nhà trường quân đội luôn vận động tương thích với quá trình phát triển của khoa học giáo dục quân sự Việt Nam, cả về quy mô, tốc độ và kết quả. Điều đó đặt ra trách nhiệm nặng nề và cũng là vinh dự to lớn của đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên Khoa Sư phạm quân sự.
3. Khoa Sư phạm quân sự với nhiệm vụ bồi dưỡng giảng viên
3.1. Khái quát về Khoa Sư phạm quân sự
Khoa Sư phạm quân sự ngày nay, tiền thân là Tổ bộ môn Giáo dục học quân sự, được thành lập theo Quyết định số 785/QĐ, ngày 10 tháng 3 năm 1971 của Giám đốc Học viện Chính trị quân sự.
Tháng 7 năm 1974, Tổ bộ môn Giáo dục học quân sự được phát triển thành Tổ bộ môn Tâm lý – Giáo dục học quân sự.
Tháng 10 năm 1976, Học viện Chính trị mở lớp đào tạo giáo viên chuyên ngành Tâm lý- Giáo dục học quân sự ngắn hạn (1 năm) đầu tiên cho toàn quân.
Tháng 12 năm 1976, Bộ Tổng tham mưu đã ra Quyết định số 310/QĐ/TM ngày 23/12/1976 về thành lập và biên chế tổ chức Khoa Tâm lý- Giáo dục học quân sự của HVCTQS.
Như vậy, sau năm 1975, yêu cầu xây dựng quân đội thời bình, việc đào tạo cán bộ quân đội chính quy của các nhà trường quân đội được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách. Cũng từ đây, các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên cho các nhà trường quân đội được thực hiện đều đặn và ngày càng chính quy hơn. Đồng thời với việc đào tạo giáo viên trong nước, Học viện đã kết hợp gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài và tăng cường các hoạt động bổi dưỡng giáo viên tại chỗ.
3.2. Vai trò của Khoa Sư phạm quân sự trong bồi dưỡng giảng viên
3.2.1. Trang bị kiến thức, kỹ năng sư phạm
Khoa Sư phạm quân sự là nơi thiết kế và triển khai các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho cán bộ, giảng viên các nhà trường quân sự. Cung cấp cho các nhà giáo quân đội những kiến thức khoa học cập nhật về lý luận giáo dục hiện đại; giúp họ hình thành, phát triển kỹ thuật trình bày bài giảng, sử dụng phương tiện dạy học, tổ chức giờ học tích cực, phương pháp đánh giá năng lực học viên.
3.2.2. Bồi dưỡng nghiệp vụ nghiên cứu khoa học giáo dục
Ngoài giảng dạy, Khoa còn hướng dẫn giảng viên phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục quân sự. Bồi dưỡng cho các nhà giáo phương pháp thiết kế đề tài, viết báo khoa học, công bố kết quả nghiên cứu. Giúp cho các nhà giáo biết phân biệt các loại hình đề tài và biết lựa chọn đề tài phù hợp với năng lực cá nhân, phù hợp với thực tiễn công tác của bản thân.
Về kỹ năng nghiên cứu, phải bồi dưỡng cho giảng viên biết các xác định tên đề tài, biết xác định khách thể, đối tượng nghiên cứu; biết giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, về không gian, thời gian như thế nào là đúng, là đủ; biết xác định các luận điểm, luận cứ, luận chứng, biết xây dựng giả thuyết khoa học và cách tiếp cận trong nghiên cứu ...
Về kỹ thuật, không chỉ bồi dưỡng cho giảng viên phương pháp nghiên cứu khoa học mà còn phải hướng dẫn cho họ cách xử lý kết quả điều tra, khảo sát, biết ứng dụng phần mềm SPSS và các phần mềm khác trong nghiên cứu.
3.2.3. Phát triển đội ngũ giảng viên nòng cốt
Khoa học giáo dục là môn khoa học chung trong đào tạo giảng viên của tất cả các chuyên ngành sư phạm. Giảng viên của bất cứ chuyên ngành nào cũng phải được đào tạo, bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy và giáo dục. Chỉ khi nào giảng viên nắm chắc các kiến thức cơ bản của khoa học giáo dục thì mới có thể vận dụng, phát triển đúng và sáng tạo trong chuyên ngành của mình. Trong bối cảnh hiện nay, giảng viên không những chỉ nắm kiến thức cơ bản mà còn phải thường xuyên được bồi dưỡng, tự bồi dưỡng để cập nhật trình độ phát triển của khoa học giáo dục.
Khoa Sư phạm quân sự đóng vai trò “trung tâm chuyên gia” về phương pháp sư phạm quân sự, cung cấp giảng viên nòng cốt để huấn luyện các khoa/bộ môn khác. Hàng năm dưới sự chỉ đạo của Giám đốc Học viện, Khoa Sư phạm quân sự phải chủ trì thiết kế, xây dựng kế hoạch tập huấn bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong toàn học viện. Bồi dưỡng giảng viên cập nnhật các phương pháp dạy học mới, hiện đại.
3.2.4. Ứng dụng công nghệ đào tạo
Trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Khoa Sư phạm quân sự phải chủ động nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện, ứng dụng những thành tựu của khoa học, công nghệ trong giảng dạy, bổ sung, phát triển lý luận giáo dục học quân sự. Khoa là đơn vị tiên phong trong triển khai mô hình học tập kết hợp (blended learning), lớp học đảo ngược (flipped classroom), phần mềm mô phỏng huấn luyện chiến thuật.
4. Thực trạng ưu điểm và hạn chế trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên ở nhà trường quân đội
4.1. Ưu điểm
4.1.1. Kết quả bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên của các nhà trường quân đội
Cùng với sự phát triển của hệ thống nhà trường quân đội, những năm qua, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có sự phát triển toàn diện, chất lượng không ngừng nâng lên; uy tín của các nhà trường Quân đội ngày càng được khẳng định, góp phần quan trọng phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.
Năm 2023, các học viện, nhà trường Quân đội tập trung triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo”. Việc thực hiện đề án không chỉ giúp hệ thống nhà trường Quân đội tháo gỡ những vướng mắc, rào cản về xây dựng, quy hoạch, tạo nguồn mà còn tạo động lực thúc đẩy phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.
Theo đó, đề án xác định phấn đấu đến hết năm 2025, các nhà trường Quân đội có trên 75% giảng viên, nghiên cứu viên, cán bộ quản lý giáo dục đạt chuẩn; đến năm 2030, con số này là 100%; 95% nhà giáo có trình độ sau đại học; 40%-50% có học vị tiến sĩ; 5%-8% có học hàm giáo sư, phó giáo sư. Việc triển khai thực hiện đề án còn là điều kiện để các nhà trường Quân đội quan tâm toàn diện đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm và bảo đảm chính sách đãi ngộ tương xứng đối với đội ngũ nhà giáo.
4.1.2. Kết quả bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên của Khoa Sư phạm quân sự
Giai đoạn những năm 1980, trong nhiều năm liên tục, Khoa Tâm lý – Giáo dục học quân sự đã mời chuyên gia từ Học viện Quân chính Lê nin Liên Xô về bồi dưỡng cho giáo viên trong khoa. Mỗi đợt bồi dưỡng kéo dài từ 1 đến 2 tháng. Đồng thời Khoa đã tổ chức cho giáo viên trong khoa dự các lớp bồi dưỡng do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức.
Giai đoạn từ những năm 1990 sang đầu thế kỷ 21, Học viện Chính trị quân sự mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sự phạm cho giáo viên toàn quân. Khoa Giáo dục học quân sự, sau này là Khoa Sư phạm quân sự giữ vai trò là lực lượng chủ chốt của Học viên tham gia giảng dạy các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên các nhà trường quân đội trong toàn quân.
Bên cạnh đó, Học viện Chính trị quân sự bắt đầu triển khai đào tạo sau đại học. Một số giảng viên được cử đi học cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Lịch sử giáo dục, sau đó là chuyên ngành quản lý giáo dục. Từ đó, cơ cấu chất lượng đội ngũ giảng viên ở các nhà trường quân đội được nâng cao.
Giai đoạn từ những năm 2010 về sau, Học viện Chính trị chính thức được phép mở đào tạo sau đại học hệ dân sự. Khoa Sư phạm quân sự là đơn vị tiên phong về tổ chức đào tạo sau đại học dân sự. Từ 1 chuyên ngành của Khoa Sư phạm quân sự, sau 1 năm đã lan tỏa ra 8 chuyên ngành trong toàn Học viện. Đó là một đóng góp có tính đột phá của Khoa Sư phạm quân sự.
Việc mở rộng đào tạo sau đại học hệ dân sự đặt ra vấn đề cấp thiết phải chuẩn hóa đội ngũ giảng viên của Khoa Sư phạm quân sự. Từ những năm 2010 đến 2015 là giai đoạn mà Khoa Sư phạm quân sự vừa phải đảm nhiệm công tác giảng dạy thường xuyên, vừa phải giảng dạy sau đại học hệ dân sự, lại phải khẩn cấp cử giảng viên đi học sau đại học để bổ sung cho đội ngũ giảng viên còn quá mỏng so với yêu cầu nhiệm vụ mới. Mặt khác, chương trình, nội dung đào tạo sau đại học hệ dân sự hoàn toàn mới, có những môn học tuy đã xác định tên trong chương trình nhưng chưa có nội dung. Phương pháp giảng dạy sau đại học của một số giảng viên còn nhiều bỡ ngỡ. Trong bối cảnh đó, Khoa đã chủ trương mời chuyên gia từ Tường Đại học Sư phạm Hà Nội, từ Viện Khoa học Giáo dục và các nhà trường các viện nghiên cứu khác nhau tham gia đào tạo sau đại học. Thông qua đó, vừa đào tạo vừa bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giảng viên, đồng thời phải vừa hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo sau đại học. Đó là giai đoạn khó khăn nhưng cũng rất dáng tự hào của Khoa Sư phạm quân sự.
Đến nay, Khoa Sư phạm quân sự đã có đội ngũ giảng viên dẫn đầu toàn Học viện về tỷ lệ vừa đạt chuẩn về học vấn, thạc sĩ, tiến sĩ, vừa đạt chuẩn về ngoại ngữ và tin học. Nhiều giảng viên đã được hoàn thiện chương trình đào tạo, bổ túc và đi thực tiễn trải nghiệm chức danh theo quy định.
4.2. Hạn chế và những vấn đề đặt ra
Tuy đã đạt được những thành công nhất định, nhưng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác GD-ĐT đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thì chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục còn những hạn chế.
Đối với Khoa Sư phạm quân sự, các hoạt đồng đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, giảng viên toàn quân còn thụ động, chưa thành nền nếp theo một kế hoạch thường xuyên. Chưa có kế hoạch chiến lược về bồi dưỡng cho giảng viên của toàn học viên và giảng viên của các nhà trường quân đội trong từng giai đoạn phù hợp với Chiến lược phát triển giáo dục của nhà trường quân đội. Chưa mở được các lớp bồi dưỡng chính quy, tập trung cho goảng viên toàn quân.
Các hoạt động của Khoa Sư phạm quân sự tham gia bồi dưỡng giảng viên toàn quân khá nhiều, khá đa dạng nhưng chưa có tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. Điều đó làm cho vị thế của khoa chủ quản trong các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm chưa được đề cao tương xứng với nhiệm vụ được giao.
Đối với đội ngũ giảng viên trong khoa, các hoạt động bồi dưỡng mới chú trọng đến chiều rộng, đại trà mà chưa có tính chuyên sâu theo lĩnh vực và theo năng lực của từng giảng viên. Điều đó dẫn đến tình trạng, giảng viên đạt chuẩn theo quy định nhưng không có chuyên gia chuyên sâu, chuyên gia đầu ngành về khoa học quân sự.
Một số chương trình bồi dưỡng còn nặng lý thuyết, thiếu tính thực hành; chưa theo kịp xu hướng sư phạm hiện đại. Thiếu giáo trình chuyên sâu về sư phạm quân sự; tài liệu tham khảo còn phân tán. Năng lực ngoại ngữ, công nghệ thông tin của một bộ phận giảng viên còn hạn chế.
5. Giải pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng giảng viên nhà trường quân đội
5.1. Kế hoạch hóa hoạt động bồi dưỡng giảng viên.
Mọi hoạt động bồi dưỡng giảng viên ở nhà trường quân đội nói chung, ở Học viện Chính trị và Khoa Sư phạm quân sự nói riêng phải được đưa vào kế hoạch theo một chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên trong từng giai đoạn.
Hàng năm hoặc 2 năm, theo định kỳ các cơ quan chức năng phải tổ chức các lớp bồi dưỡng phương pháp sư phạm cho giảng viên toàn quân. Lớp tập huấn đó đặt tại Học viện Chính trị, do Khoa Sư phạm quân sự chủ trì và mời các chuyên gia của Bộ GD&ĐT tham gia. Cục Nhà trường là cơ quan quản lý về hành chính, Khoa Sư phạm quân sự chịu trách nhiệm về nội dung.
Đa dạng hóa nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức bồi dưỡng. Kết hợp bồi dưỡng định kỳ với bồi dưỡng thường xuyên và bồi dưỡng đột xuất. Kết hợp bồi dưỡng theo lớp với bồi dưỡng theo nhóm và bồi dưỡng cá nhân. Phân cấp mục tiêu và nội dung bồi dưỡng theo năng lực cá nhân…
5.2. Phát triển đội ngũ cán bộ sư phạm nòng cốt.
Mỗi nhà trường, mỗi khoa phải có kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên của đơn vị mình. Đồng thời với kế hoạch bồi dưỡng theo chuẩn chung của giảng viên bậc đại học trong quân đội phải có bồi dưỡng riêng cho từng nhóm đối tượng cụ thể. Trong đó phải có kế hoạch và biện pháp bồi dưỡng chuyên sâu, phát triển đội ngũ giảng viên nòng cốt và giảng viên đầu ngành. Không có đội ngũ này thì chất lượng đào tạo của nhà trường không bao giờ vươn lên được.
Do tính chất, đặc điểm riêng của nhà trường quân đội quy định về các hoạt động mang tính thống nhất, tính kỷ luật cao, mọi giảng viên đều phải hoạt động theo quy định chung như nhau. Nếu không có chính sách đặc thù, không có kế hoạch bồi dưỡng theo đối tượng mà cứ thả nổi cho giảng viên thì không bao giờ có được đội ngũ giảng viên nòng cốt và chuyên gia đầu ngành.
Phương thức bồi dưỡng như thế nào là phải căn cứ vào đặc điểm nhiệm vụ cụ thể của từng nhà trường, từng chuyên ngành và năng lực cá nhân của mỗi giảng viên. Đối với mỗi giảng viên phải có ý chí, quyết tâm, có sự đam mê tự hoàn thiện, tự phát triển hoàn toàn năng lực cá nhân của mình.
5.3. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục quân sự.
Đây là giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số. Trong kỷ nguyên số đòi hỏi có tính nguyên tắc là giảng viên phải cập nhật trình độ phát triển của khoa học và công nghệ trong giảng dạy bất kỳ môn học nào.
Các nhà trường, các khoa giáo viên phải có kế hoạch bồi dưỡng về công nghệ cho đội ngũ giảng viên theo yêu cầu nhiệm vụ. Mặt khác phải sử dụng công nghệ trong bồi dưỡng giảng phương pháp sư phạm cho giảng viên. Như vậy, công nghệ vừa là nội dung bồi dưỡng vừa là công cụ để bồi dưỡng nâng cao chất lượng giảng viên trong kỷ nguyên số.
Nghiên cứu khoa học giáo dục quân sự là một nhiệm vụ quan trọng của người giảng viên ở nhà trường quân sự. Đó là con đường, biện pháp bồi dưỡng phát triển năng lực chuyên môn của người giảng viên. Đối với giảng viên ở Khoa Sư phạm quân sự, nghiên cứu khoa học giáo dục quân sự không chỉ là nhiệm vụ của người giảng viên mà còn là một chức năng chính của mỗi cá nhân và tập thể khoa.
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, cứ sau mỗi đề tài nghiên cứu khoa học thì tác giả lại trưởng thành thêm nột chút. Vì vậy, các nhà trường, các khoa giáo viên phải giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho giảng viên. Đề tài nghiên cứu phải phù hợp với khả năng và phù hợp với nội dung chuyên ngành, phải hướng vào giải quyết các vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn giáo dục, đào tạo.
5.4. Ban hành cơ chế chính sách đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Cơ chế, chính sách hỗ trợ vừa động viên khuyến khích, vừa bắt buộc các nhà trường, các khoa và từng giảng viên tích cực tham gia bồi dưỡng, tự bồi dưỡng.
Trước hết, cần phải quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc Luật Nhà giáo. Ngày 16/6, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Nhà giáo. Đây là đạo luật chuyên ngành đầu tiên quy định đầy đủ về vị trí pháp lý, quyền, nghĩa vụ và các chính sách dành cho đội ngũ nhà giáo. Luật Nhà giáo gồm 9 chương, 42 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Việc thông qua Luật Nhà giáo là cột mốc quan trọng khẳng định chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong việc tôn vinh, chăm lo, bảo vệ và phát triển đội ngũ nhà giáo – lực lượng then chốt của sự nghiệp giáo dục. Ngay sau khi được Quốc hội thông qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẩn trương xây dựng 2 Nghị định và gần 20 Thông tư hướng dẫn thi hành để kịp ban hành đồng thời với hiệu lực của Luật vào ngày 01/01/2026. Hệ thống văn bản này sẽ cụ thể hóa các chính sách của luật, đảm bảo tính thống nhất, khả thi và hiệu quả khi đi vào thực tiễn.
Luật Nhà giáo là một cơ sở pháp lý quan trọng để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo nói chung. Đối với nhà trường quân đội cần phải ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn việc thực hiện Luật nhà giáo trong quân đội. Đồng thời các nhà trường quân đội, các khoa giáo viên phải đề xuất các chủ trương, biện pháp cụ thể phù hợp với đặc điểm riêng của mình, tạo điều kiện cho mọi giảng viên đều có cơ hội được bồi dưỡng, phát triển hoàn toàn năng lực của bản thân.
6. Kết luận
Khoa Sư phạm quân sự ở các nhà trường quân đội nói chung, Khoa Sư phạm quân sự ở Học viện Chính trị nói riêng là lực lượng then chốt trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho giảng viên các nhà trường quân đội. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng quân đội hiện đại, việc đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng là nhiệm vụ cấp thiết. Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên quân sự, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo trong quân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ Quốc phòng (2021), Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong Quân đội đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
[2]. Trường Sĩ quan Chính trị (2022), “Hành trình 40 năm nhà giáo Quân đội - Cống hiến và phát triển”. Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Cục Nhà trường/Bộ Tổng Tham mưu và Trường Sĩ quan Chính trị đồng chủ trì, Hà Nội, tháng 11 năm 2022
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025
[5]. Quân ủy Trung ương (2012), Nghị quyết 765-NQ/QUTW về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013–2020 và những năm tiếp theo.
[6]. Quốc hội (2019), Luật Giáo dục, Luật số: 43/2019/QH14, ngày 14/6/2019.
[7]. Quốc hội (2025), Luật Nhà giáo, Luật số 73/2025/QH15, ngày 16/6/2025