Đặng Ngọc Tuyển
Phòng Đào tạo, Học viện Chính trị
Email: [email protected]
Tóm tắt: Trong quá trình đổi mới, lý luận về phát triển kinh tế tư nhân của Đảng không ngừng phát triển và hoàn thiện, từ chỗ thừa nhận sự tồn tại khách quan đến xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Thực tiễn cho thấy khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, huy động các nguồn lực xã hội và thúc đẩy đổi mới sáng tạo; tuy nhiên vẫn còn những hạn chế về quy mô, năng lực cạnh tranh, trình độ công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực… Trên cơ sở phân tích quá trình phát triển lý luận của Đảng và thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Từ khóa: kinh tế tư nhân; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quan điểm của Đảng.
Nhận bài: 9/5/2026; Biên tập:10/5/2026; Phản biện: 10/5/2026; Duyệt đăng: 13/5/2026.
1. Đặt vấn đề
Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra phải tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng khi xác định phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài, gắn với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.
Từ yêu cầu đó, việc nghiên cứu quá trình phát triển nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân, đánh giá thực trạng phát triển của khu vực này và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Sự phát triển quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân
Trong quá trình đổi mới đất nước, quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ xem kinh tế tư nhân là khu vực cần cải tạo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng từng bước khẳng định vị trí, vai trò và động lực phát triển của khu vực kinh tế này trong nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển nhận thức đó phản ánh quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển đất nước và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đánh dấu bước ngoặt trong đổi mới tư duy kinh tế khi chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Văn kiện Đại hội VI khẳng định: “Cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác” (1). Quan điểm này thể hiện bước chuyển căn bản từ tư duy phủ nhận sang thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đến Đại hội VII (1991), nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân tiếp tục có bước phát triển khi khẳng định nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là đặc trưng của thời kỳ quá độ. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nêu rõ: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (2). Đồng thời, Đảng xác định kinh tế cá thể, tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể. Những quan điểm này cho thấy Đảng đã chuyển từ chỗ chỉ “cho phép tồn tại” sang từng bước tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển trong khuôn khổ pháp luật.
Đại hội VIII (1996) tiếp tục mở rộng nhận thức lý luận về vai trò của kinh tế tư nhân. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước” (3). Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng bởi lần đầu tiên khu vực kinh tế tư bản tư nhân được nhìn nhận không chỉ là khu vực tồn tại khách quan mà còn có đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quan điểm này đã tạo tiền đề cho việc ban hành nhiều chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của khu vực tư nhân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bước sang Đại hội IX (2001), Đảng có bước phát triển mạnh mẽ hơn trong nhận thức về kinh tế tư nhân khi xác định các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội IX nêu rõ: “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm” (4). Đồng thời, Đảng khẳng định: “Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (5). Quan điểm này đánh dấu bước chuyển từ tư duy “thừa nhận” sang tư duy “bình đẳng” giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường chính trị và pháp lý thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của khu vực doanh nghiệp tư nhân sau khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực.
Đại hội X (2006) tiếp tục khẳng định yêu cầu tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Văn kiện Đại hội nhấn mạnh: “Xóa bỏ mọi rào cản, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng theo pháp luật” (6). Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó khu vực kinh tế tư nhân được nhìn nhận như một chủ thể quan trọng của nền kinh tế. Từ đó, nhiều chính sách cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân được triển khai mạnh mẽ trong thực tiễn.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) lần đầu tiên khẳng định: “Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế” (7). Đây là bước phát triển đột phá trong tư duy lý luận của Đảng khi chính thức xác lập vai trò “động lực” của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đại hội XII (2016) tiếp tục hoàn thiện nhận thức lý luận của Đảng khi nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh mẽ hơn nữa khu vực kinh tế tư nhân. Văn kiện Đại hội XII khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế” (8). Quan điểm này cho thấy Đảng không chỉ khẳng định vai trò động lực mà còn nhấn mạnh tính “quan trọng” của kinh tế tư nhân trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Đây cũng là cơ sở lý luận trực tiếp để Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021) chủ trương phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Đại hội chỉ rõ: “Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động. Khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế” (9).
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức lý luận về kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tổng kết 40 năm đổi mới, Đại hội XIV khẳng định tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân cả về quy mô, chất lượng và năng lực cạnh tranh. Đảng nhấn mạnh “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” (10), đồng thời chủ trương xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, cạnh tranh bình đẳng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp. Quan điểm này tiếp tục được Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định khi nhấn mạnh cần “quán triệt lại định hướng quan điểm và nhận thức trong cả hệ thống chính trị về vai trò của kinh tế tư nhân như là động lực tăng trưởng quan trọng hàng đầu của đất nước” và xác định “phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược, chính sách lâu dài của quốc gia”. Điều đó cho thấy nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân đã phát triển từ chỗ thừa nhận sự tồn tại khách quan đến xác định đây là lực lượng quan trọng hàng đầu thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
2.2. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Sau 40 năm đổi mới, kinh tế tư nhân Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng doanh nghiệp, quy mô vốn và lĩnh vực hoạt động. Nếu như giai đoạn đầu đổi mới khu vực này chủ yếu tồn tại dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ thì đến nay đã hình thành đội ngũ doanh nghiệp tư nhân đông đảo, hoạt động trong hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Đến năm 2025, cả nước có gần 1 triệu doanh nghiệp tư nhân và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển thành các tập đoàn kinh tế lớn, tham gia vào những lĩnh vực đòi hỏi trình độ công nghệ và năng lực quản trị cao như công nghệ thông tin, hạ tầng giao thông, hàng không, logistics, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo và thương mại điện tử. Sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư nhân đã cho thấy hiệu quả của đường lối đổi mới, đồng thời khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế và huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển đất nước. Hiện nay, kinh tế tư nhân là khu vực đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và gần 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực này đã góp phần quan trọng vào việc huy động nguồn vốn trong dân cư, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với đó, sự phát triển năng động của kinh tế tư nhân đã tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. Nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn từng bước mở rộng đầu tư, sản xuất và kinh doanh ra thị trường khu vực và quốc tế.
Một trong những đóng góp nổi bật của khu vực kinh tế tư nhân là khả năng tạo việc làm với quy mô lớn và linh hoạt. Theo số liệu hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân tạo việc làm cho hơn 40 triệu lao động, chiếm trên 82% tổng số lao động của nền kinh tế. Sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể đã góp phần quan trọng vào giảm tỷ lệ thất nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, đồng thời nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân ngày càng quan tâm hơn đến trách nhiệm xã hội, tham gia tích cực vào các hoạt động an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ giáo dục, y tế và phát triển cộng đồng. Điều này cho thấy khu vực kinh tế tư nhân không chỉ đóng vai trò kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc trong quá trình phát triển đất nước.
Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ về trình độ công nghệ, năng lực quản trị và khả năng cạnh tranh quốc tế. Một số doanh nghiệp đã tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính và đổi mới sáng tạo. Theo đánh giá của Tổng Bí thư Tô Lâm, nếu được tạo điều kiện phát triển thuận lợi, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam “hoàn toàn có thể vươn xa, cạnh tranh sòng phẳng với thế giới”. Sự xuất hiện của nhiều thương hiệu tư nhân lớn trong các lĩnh vực công nghệ, sản xuất công nghiệp, hàng không, dịch vụ và thương mại quốc tế đã góp phần nâng cao vị thế của kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng và yêu cầu trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Những hạn chế này tập trung chủ yếu ở quy mô và năng lực nội tại của doanh nghiệp còn thấp; năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế; môi trường đầu tư, kinh doanh và khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển còn nhiều rào cản.
Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, năng lực tài chính và trình độ quản trị còn hạn chế. Theo thống kê, khoảng 95% doanh nghiệp tư nhân thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa; trong đó doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm tỷ lệ áp đảo. Quy mô vốn, trình độ công nghệ và năng lực quản trị của nhiều doanh nghiệp còn thấp, sức chống chịu trước biến động thị trường còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn, thiếu tính liên kết và phụ thuộc lớn vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Năng lực đổi mới sáng tạo, trình độ công nghệ và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp tư nhân còn yếu. Hiện nay, số doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số và đổi mới công nghệ còn khá thấp. Nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, chủ yếu tham gia vào các khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp. Sự liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước với khu vực doanh nghiệp FDI còn hạn chế, khiến khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu chưa cao.
Môi trường đầu tư, kinh doanh và khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển của kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, song trên thực tế doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận đất đai, vốn tín dụng, nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ hội đầu tư kinh doanh. Thủ tục hành chính ở nhiều lĩnh vực còn phức tạp; tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật và chi phí không chính thức vẫn tồn tại, làm gia tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp.
2.3. Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về thể chế, chính sách và tổ chức thực hiện, nhằm tháo gỡ các rào cản phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy tối đa tiềm năng của khu vực kinh tế này trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch và thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế đang cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, ổn định, minh bạch và dễ thực thi; bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền cạnh tranh bình đẳng của doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ pháp luật, xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, hạn chế tình trạng chồng chéo giữa các văn bản pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi công vụ.
Thứ hai, nâng cao năng lực nội tại, quy mô và sức cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
Để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính, trình độ quản trị và khả năng thích ứng với cạnh tranh quốc tế. Nhà nước cần khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh có khả năng dẫn dắt chuỗi sản xuất và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn, đất đai, thông tin thị trường và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ ba, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển khoa học - công nghệ trong khu vực kinh tế tư nhân
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, đổi mới sáng tạo và công nghệ là yếu tố quyết định năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, cần xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh. Nhà nước cần phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm, trung tâm hỗ trợ công nghệ và cơ chế thử nghiệm chính sách cho các lĩnh vực công nghệ mới. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân tiếp cận hiệu quả các nguồn lực phát triển và tham gia vào các lĩnh vực kinh tế trọng điểm của quốc gia
Một trong những rào cản lớn đối với khu vực kinh tế tư nhân hiện nay là khả năng tiếp cận vốn tín dụng, đất đai, tài nguyên và cơ hội đầu tư còn hạn chế. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm doanh nghiệp tư nhân được tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực phát triển. Nhà nước cần mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các dự án hạ tầng chiến lược, công nghiệp nền tảng, năng lượng, logistics, chuyển đổi số và công nghệ cao. Đồng thời, cần phát triển mạnh thị trường vốn, thị trường khoa học - công nghệ và các thiết chế hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Thứ năm, phát triển kinh tế tư nhân gắn với trách nhiệm xã hội, phát triển bền vững và định hướng xã hội chủ nghĩa
Phát triển kinh tế tư nhân không chỉ nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Vì vậy, cần khuyến khích doanh nghiệp tư nhân thực hiện trách nhiệm xã hội, nâng cao đạo đức kinh doanh, bảo vệ môi trường và chăm lo đời sống người lao động. Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, sản xuất sạch và giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội doanh nghiệp trong định hướng, hỗ trợ và xây dựng văn hóa doanh nhân Việt Nam giàu lòng yêu nước, khát vọng cống hiến và trách nhiệm đối với xã hội.
3. Kết luận
Có thể khẳng định rằng, sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân sau 40 năm đổi mới là kết quả trực tiếp của quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ chỉ được thừa nhận tồn tại, kinh tế tư nhân ngày nay đã được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Thực tiễn phát triển cho thấy kinh tế tư nhân không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân mà còn từng bước khẳng định vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, để khu vực kinh tế này thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và phát huy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Đây không chỉ là yêu cầu kinh tế mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hiện đại và phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 57.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 11.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 91.
(4), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 98, tr. 99.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 83.
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 209.
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 104.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 240.
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 95.
(11) Tô Lâm (2025), Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng.