PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NHẰM CỦNG CỐ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS. Lâm Thị Thiên Lan – ThS. Võ Phú Hữu Khoa Khoa học Chính trị, Xã hội và Nhân văn – Đại học Cần Thơ Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết tiếp cận vấn đề phát triển năng lực nhận diện xung đột văn hóa cho sinh viên từ góc nhìn liên ngành giữa khoa học chính trị, nghiên cứu văn hóa, giáo dục đại học và nhân học giao tiếp. Luận điểm trung tâm là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và cạnh tranh diễn ngôn toàn cầu, xung đột văn hóa không còn là hiện tượng cục bộ của khác
06:59 | 02/04/2026

TS. Lâm Thị Thiên Lan – ThS. Võ Phú Hữu

Khoa Khoa học Chính trị, Xã hội và Nhân văn – Đại học Cần Thơ

Email: [email protected]

Tóm tắt: Bài viết tiếp cận vấn đề phát triển năng lực nhận diện xung đột văn hóa cho sinh viên từ góc nhìn liên ngành giữa khoa học chính trị, nghiên cứu văn hóa, giáo dục đại học và nhân học giao tiếp. Luận điểm trung tâm là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và cạnh tranh diễn ngôn toàn cầu, xung đột văn hóa không còn là hiện tượng cục bộ của khác biệt tập quán hay va chạm giao tiếp đơn thuần, mà đã trở thành một biến số có thể tác động đến niềm tin xã hội, bản lĩnh công dân và ổn định chính trị ở cấp độ mềm. Vì vậy, phát triển năng lực nhận diện xung đột văn hóa cho sinh viên cần được nhìn như một bộ phận của giáo dục công dân chiến lược, góp phần hình thành khả năng đọc hiểu khác biệt, phân tích xung đột giá trị, chống cực đoan hóa nhận thức và tăng năng lực đối thoại trong môi trường hội nhập. Bài viết cho rằng sinh viên là nhóm xã hội đặc biệt nhạy cảm trước các tác động xuyên biên giới về lối sống, bản sắc, truyền thông số, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa dân tộc cảm tính và các diễn ngôn đối kháng trên nền tảng số. Nếu không được trang bị năng lực nhận diện sớm xung đột văn hóa, họ dễ rơi vào hai cực đoan: hoặc tuyệt đối hóa bản sắc theo hướng khép kín, hoặc hòa tan bản sắc theo hướng dễ bị dẫn dắt. Trên cơ sở phân tích văn kiện của Đảng, định hướng giáo dục hiện hành và các khung lý thuyết quốc tế về năng lực liên văn hóa, bài viết đề xuất một mô hình phát triển năng lực nhận diện xung đột văn hóa cho sinh viên theo bốn lớp năng lực: nhận diện ký hiệu xung đột, giải mã cấu trúc quyền lực văn hóa, phản biện truyền thông và kiến tạo đối thoại có trách nhiệm. Bài viết khẳng định rằng tăng cường năng lực này không nhằm hành chính hóa đời sống sinh viên, mà nhằm tạo nền tảng con người cho ổn định chính trị trong một xã hội mở, đa dạng và hội nhập.

Từ khóa: xung đột văn hóa, sinh viên, ổn định chính trị, hội nhập quốc tế, năng lực liên văn hóa, giáo dục đại học

1 Đặt vấn đề

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam ngày càng bước sâu vào các mạng lưới tương tác toàn cầu về kinh tế, giáo dục, công nghệ, truyền thông, lao động và văn hóa. Quá trình đó tạo ra những cơ hội lớn cho phát triển, nhưng đồng thời cũng đặt xã hội trước những thách thức mới về bản sắc, giá trị, niềm tin và sự cố kết cộng đồng. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh tổng hợp của văn hóa, con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Cách đặt vấn đề ấy cho thấy hội nhập không chỉ là bài toán kinh tế hay đối ngoại, mà còn là bài toán văn hóa và con người.

Ở cấp độ xã hội, hội nhập quốc tế làm gia tăng tiếp xúc giữa các hệ giá trị, chuẩn mực ứng xử, mô hình truyền thông, phong cách sống và diễn ngôn bản sắc khác nhau. Trong điều kiện truyền thông số, các dòng chảy văn hóa không đi theo lộ trình chậm và tuyến tính như trước, mà diễn ra đồng thời, đa chiều, có khi đứt đoạn, va chạm và khuếch đại rất nhanh. Xung đột văn hóa vì thế không chỉ biểu hiện ở khác biệt lễ nghi hay ứng xử giao tiếp, mà còn xuất hiện trong cách hiểu về tự do cá nhân, quyền lực biểu đạt, bình đẳng giới, chủ quyền quốc gia, ký ức lịch sử, niềm tin chính trị và cả trong cách kiến tạo bản thân trên không gian mạng. UNESCO coi đối thoại liên văn hóa là công cụ chiến lược để quản trị đa dạng, ngăn ngừa phân cực và chuyển hóa xung đột, cho thấy đây là một vấn đề mang ý nghĩa chính sách chứ không chỉ là giao tiếp đời thường.

Sinh viên là nhóm xã hội nằm ở tâm điểm của những chuyển động này. Họ có mức độ tiếp xúc cao với các sản phẩm văn hóa xuyên biên giới, các nền tảng số, các không gian học tập quốc tế hóa và các diễn ngôn toàn cầu về bản sắc, quyền, phát triển và công lý. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn đang định hình thế giới quan, bản lĩnh chính trị, thái độ công dân và phương thức tham gia xã hội. Chính vì vậy, sinh viên vừa là lực lượng tiếp nhận nhanh nhất những thay đổi văn hóa, vừa là nhóm dễ bị tác động bởi xung đột biểu tượng, va chạm giá trị và sự cực đoan hóa nhận thức nếu thiếu khả năng phân tích. Các nghiên cứu quốc tế về năng lực liên văn hóa trong giáo dục đại học đều cho thấy phát triển năng lực này là một kết quả cốt lõi của quốc tế hóa giáo dục, bởi nó giúp người học ứng xử hiệu quả, thích hợp và có trách nhiệm trong môi trường khác biệt văn hóa.

Từ góc độ chính trị, ổn định không đồng nghĩa với triệt tiêu khác biệt. Ổn định chính trị bền vững phải dựa trên khả năng quản trị khác biệt, điều hòa lợi ích, bảo vệ đồng thuận nền tảng và ngăn ngừa những quá trình phân cực làm xói mòn niềm tin xã hội. Tạp chí Cộng sản từng nhấn mạnh mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển là một trong những quan hệ lớn mang tính quy luật của Việt Nam trong giai đoạn mới. Nếu đặt trong bối cảnh hội nhập, có thể thấy xung đột văn hóa là một dạng “áp lực mềm” đối với ổn định chính trị, bởi nó tác động trước hết vào tâm lý xã hội, vào cảm thức bản sắc, vào mức độ tin cậy lẫn nhau và vào tính chính đáng của các giá trị chung.

Từ đây nảy sinh một yêu cầu lý luận và thực tiễn quan trọng. Không thể chỉ bàn về giáo dục văn hóa cho sinh viên theo nghĩa chung chung, càng không thể chỉ coi năng lực liên văn hóa là kỹ năng mềm để giao tiếp quốc tế. Vấn đề cần được đặt lại ở tầm cao hơn: phát triển năng lực nhận diện xung đột văn hóa cho sinh viên như một thành tố của giáo dục công dân trong điều kiện hội nhập, qua đó góp phần củng cố nền tảng ổn định chính trị từ phía con người. Điểm mới của bài viết nằm ở chỗ xem năng lực này là “năng lực ổn định mềm”, tức năng lực giúp người học nhận ra mầm mống xung đột văn hóa trước khi nó chuyển hóa thành cực đoan nhận thức, phân cực xã hội hay đứt gãy niềm tin cộng đồng.

Bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi. Thứ nhất, vì sao cần nhìn nhận năng lực nhận diện xung đột văn hóa như một yêu cầu chiến lược đối với sinh viên Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Thứ hai, cấu trúc của năng lực này gồm những thành tố nào và hiện nay giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước những khoảng trống nào. Thứ ba, cần những định hướng chính sách gì để đưa nội dung này vào môi trường đại học theo hướng khoa học, thuyết phục và khả thi.

2 Nội dung

2.1 Xung đột văn hóa trong hội nhập quốc tế: từ va chạm giao tiếp đến vấn đề ổn định mềm

Trong nhiều tiếp cận phổ biến, xung đột văn hóa thường được hiểu là bất đồng nảy sinh do khác biệt về ngôn ngữ, niềm tin, phong tục hay chuẩn mực hành vi giữa các nhóm người khác nhau. Cách hiểu này đúng nhưng chưa đủ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa số, xung đột văn hóa không còn giới hạn trong các tình huống gặp gỡ trực tiếp giữa các cộng đồng khác nhau, mà diễn ra cả trong không gian biểu tượng, nơi các diễn ngôn về bản sắc, công lý, ký ức và quyền lực cạnh tranh nhau từng giờ trên nền tảng số. Một hình ảnh, một phát ngôn, một chiến dịch truyền thông, một hiện tượng thần tượng hóa, một tranh cãi về lịch sử hay một phong trào xã hội xuyên biên giới đều có thể trở thành điểm bùng phát của xung đột văn hóa nếu chạm vào các lớp bản sắc nhạy cảm.

UNESCO trong khung khái niệm về năng lực liên văn hóa nhấn mạnh rằng năng lực này không chỉ nhằm giúp con người “thích ứng” với khác biệt, mà còn giải phóng họ khỏi logic văn hóa khép kín của chính mình để có thể lắng nghe, tương tác và hợp tác với những hệ quy chiếu khác. Báo cáo gần đây của UNESCO về năng lực liên văn hóa cho hòa bình cũng nhấn mạnh tiềm năng của các năng lực này trong ngăn ngừa xung đột, xây dựng hòa bình và tăng cường bao trùm xã hội. Điều này gợi ý rằng xung đột văn hóa không chỉ là chuyện giao tiếp thất bại, mà là nơi thể hiện các mối quan hệ quyền lực, loại trừ, kỳ thị và phân cực.

Đặt vào bối cảnh Việt Nam, xung đột văn hóa có một số đặc điểm đáng chú ý. Thứ nhất, nó gắn với quá trình tiếp xúc ngày càng sâu giữa hệ giá trị truyền thống và các giá trị hiện đại hóa toàn cầu. Thứ hai, nó diễn ra trong điều kiện truyền thông số làm suy yếu ranh giới giữa thông tin xác tín và thông tin cảm xúc, giữa tranh luận học thuật và kích động dư luận. Thứ ba, nó chạm tới nhiều nhóm sinh viên khác nhau theo những cách khác nhau: sinh viên đô thị và nông thôn, sinh viên dân tộc thiểu số, sinh viên quốc tế, sinh viên tham gia trao đổi học thuật xuyên biên giới, hay sinh viên có mức độ gắn kết số cao. Vì vậy, không thể hiểu xung đột văn hóa như một hiện tượng ngoại biên. Nó nằm ngay trong quá trình người trẻ Việt Nam học cách làm công dân trong thế giới mở.

Từ góc nhìn khoa học chính trị, xung đột văn hóa trở thành vấn đề ổn định mềm khi nó tác động tới ba tầng. Một là tầng nhận thức, nơi các khung diễn giải về xã hội và quốc gia bị cạnh tranh. Hai là tầng cảm xúc chính trị, nơi sự phẫn nộ, bị xúc phạm, bị loại trừ hoặc bị mê hoặc văn hóa có thể được huy động để tạo ra cực đoan hóa. Ba là tầng hành vi xã hội, nơi các cộng đồng sinh viên phản ứng bằng tẩy chay, kỳ thị, chia phe, mô phỏng xung đột mạng vào đời sống thật hoặc ngược lại, thờ ơ hóa trước các giá trị nền tảng của quốc gia. Khi ba tầng này cộng hưởng, ổn định chính trị không nhất thiết bị đe dọa theo kiểu biến cố lớn ngay lập tức, nhưng nền tảng đồng thuận và niềm tin xã hội có thể bị mài mòn dần.

Điều đó giải thích vì sao năng lực nhận diện xung đột văn hóa cần được xem như năng lực công dân chiến lược. Nhận diện ở đây không chỉ là “nhìn thấy” khác biệt, mà là nhận ra khi nào khác biệt có nguy cơ chuyển thành đối kháng; khi nào một diễn ngôn văn hóa đang bị công cụ hóa cho mục đích kích động; khi nào biểu tượng bản sắc đang được sử dụng để tạo ra tâm lý loại trừ; khi nào sự tiếp biến văn hóa là sáng tạo lành mạnh và khi nào nó trở thành hòa tan thiếu phản biện. Một xã hội hội nhập muốn ổn định không thể chỉ dựa vào kiểm soát, mà phải dựa vào năng lực tự điều chỉnh của công dân, trong đó sinh viên là lực lượng then chốt.

2.2 Cơ sở lý luận của năng lực nhận diện xung đột văn hóa

Nghiên cứu quốc tế về năng lực liên văn hóa cung cấp nền tảng quan trọng để phát triển khái niệm năng lực nhận diện xung đột văn hóa. Darla Deardorff trong nghiên cứu có ảnh hưởng lớn về xác định và đánh giá năng lực liên văn hóa đã cho thấy năng lực này là kết quả của sự kết hợp giữa thái độ tôn trọng, cởi mở, tri thức văn hóa, kỹ năng diễn giải, kỹ năng quan sát và khả năng giao tiếp phù hợp trong bối cảnh khác biệt. Điểm quan trọng là năng lực liên văn hóa không phải một tập hợp kỹ năng bề mặt, mà là quá trình nội tâm hóa và hành động.

Các tổng quan nghiên cứu gần đây về quá trình phát triển năng lực liên văn hóa của sinh viên đại học cũng chỉ ra rằng đây là năng lực động, phát triển qua trải nghiệm, phản tư, tương tác và môi trường học tập có chủ đích. Nghiên cứu tổng quan trên International Journal of Intercultural Relations cho thấy yếu tố ảnh hưởng không chỉ là tiếp xúc với khác biệt, mà là chất lượng của quá trình diễn giải khác biệt. Tương tự, tổng quan phạm vi về các can thiệp và đánh giá năng lực liên văn hóa của sinh viên cho thấy các chương trình hiệu quả thường kết hợp giữa dạy học có cấu trúc, phản tư phê phán và đánh giá theo năng lực thay vì chỉ cung cấp tri thức mô tả về các nền văn hóa.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở năng lực liên văn hóa theo nghĩa giao tiếp, chúng ta vẫn chưa chạm tới yêu cầu của bài toán ổn định chính trị trong hội nhập. Cần một bước chuyển khái niệm: từ “năng lực thích ứng liên văn hóa” sang “năng lực nhận diện xung đột văn hóa”. Năng lực sau bao hàm năng lực trước nhưng rộng hơn ở ba điểm.

Thứ nhất, nó đòi hỏi khả năng nhận ra cấu trúc quyền lực ẩn trong các tương tác văn hóa. Không phải mọi xung đột văn hóa đều là hiểu lầm bình đẳng giữa các nhóm. Nhiều xung đột xuất phát từ bất đối xứng quyền lực biểu đạt, từ định kiến lịch sử, từ hệ thống phân tầng văn hóa hoặc từ sự áp đặt chuẩn mực của nhóm chi phối. Nếu thiếu chiều phân tích này, sinh viên dễ rơi vào tâm lý “trung lập giả”, coi mọi xung đột đều chỉ là “khác biệt quan điểm”.

Thứ hai, năng lực nhận diện xung đột văn hóa đòi hỏi tư duy phản biện truyền thông. Trong môi trường số, xung đột văn hóa thường được khởi tạo, khuếch đại hoặc thao túng bởi thuật toán, bởi cắt ghép ngữ cảnh, bởi cộng đồng diễn giải kín và bởi lối truyền thông dựa vào phẫn nộ. Do đó, sinh viên cần biết đọc một hiện tượng văn hóa không chỉ bằng nội dung trực tiếp, mà bằng cả cách nó được sắp đặt, lan truyền và chính trị hóa.

Thứ ba, năng lực này đòi hỏi khả năng gắn phân tích văn hóa với trách nhiệm công dân. Tức là không chỉ hiểu tại sao xung đột xảy ra, mà còn biết mình cần ứng xử thế nào để không bị cuốn vào cực đoan hóa, không tiếp tay cho kỳ thị, không tái sản xuất định kiến và có thể đóng vai trò trung gian đối thoại trong cộng đồng học thuật.

Nhìn từ liên ngành văn học và chính trị, đây là một năng lực rất sâu. Nghiên cứu văn học giúp đọc được các biểu tượng, huyền thoại, ẩn dụ, ký ức tập thể và diễn ngôn bản sắc đang vận hành trong các xung đột văn hóa. Khoa học chính trị giúp giải mã mối liên hệ giữa các biểu tượng ấy với quyền lực, tính chính đáng, ổn định và huy động xã hội. Chính sự kết hợp này cho phép ta hiểu xung đột văn hóa không phải như chuỗi “sự cố”, mà như những văn bản xã hội đang tranh chấp quyền định nghĩa thực tại.

2.3 Thực trạng và khoảng trống trong giáo dục đại học Việt Nam

Về chủ trương chung, Việt Nam đã xác định rõ giáo dục phải đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kết luận số 91-KL/TW năm 2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 29 nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong điều kiện hội nhập quốc tế, đồng thời tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực công dân và bản lĩnh hội nhập cho người học. Nghị quyết số 71-NQ/TW năm 2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo cũng cho thấy giáo dục đang được đặt vào vị trí chiến lược hơn trước trong mô hình phát triển đất nước.

Tuy nhiên, nếu nhìn riêng vào vấn đề năng lực nhận diện xung đột văn hóa, có thể thấy còn một khoảng trống đáng kể. Trong nhiều chương trình hiện nay, nội dung liên quan đến hội nhập văn hóa, kỹ năng liên văn hóa, đối thoại giá trị hoặc giải quyết xung đột thường phân tán ở các học phần ngoại ngữ, kỹ năng mềm, giáo dục công dân, lý luận chính trị hoặc hoạt động công tác sinh viên. Cách tiếp cận này có ưu điểm là linh hoạt, nhưng nhược điểm là thiếu một cấu trúc mục tiêu rõ ràng và thiếu đánh giá theo năng lực.

Thứ nhất, giáo dục đại học chưa thực sự coi xung đột văn hóa là một vấn đề cần học để biết nhận diện, chứ không chỉ là điều nên tránh. Nhiều hoạt động hiện hành thiên về cổ vũ hòa nhập, giao lưu, tôn trọng khác biệt, nhưng chưa đi sâu vào mặt tối của hội nhập văn hóa như phân cực biểu tượng, kỳ thị số, chiếm dụng văn hóa, thần tượng hóa cực đoan, hay những va chạm bản sắc trong môi trường học thuật quốc tế hóa.

Thứ hai, phương pháp đào tạo còn nặng về truyền đạt, nhẹ về tình huống và phản tư. Trong khi các nghiên cứu quốc tế cho thấy năng lực liên văn hóa phát triển hiệu quả nhất khi người học được đặt vào những tình huống phải diễn giải, thương lượng và phản tư, nhiều cơ sở giáo dục ở Việt Nam vẫn chưa tạo được các không gian tranh biện an toàn, có hướng dẫn, nơi sinh viên có thể thực hành nhận diện xung đột giá trị mà không biến lớp học thành nơi đối đầu cảm tính.

Quảng cáo

Thứ ba, năng lực số và năng lực truyền thông của sinh viên phát triển không đồng đều. Nhiều sinh viên rất giỏi sử dụng nền tảng, nhưng không đồng nghĩa giỏi đọc ngữ cảnh, đọc nguồn hoặc đọc cơ chế thuật toán. Đây là khoảng trống đặc biệt nguy hiểm, bởi phần lớn xung đột văn hóa hiện nay được khuếch đại trên nền tảng số. Nếu không có kỹ năng nhận diện cách một nội dung đang bị thao túng để tạo phẫn nộ hay chia rẽ, sinh viên rất dễ trở thành tác nhân khuếch đại thay vì bộ lọc xã hội.

Thứ tư, vẫn còn thiếu sự kết nối giữa giáo dục bản sắc và giáo dục đối thoại. Một số nơi nhấn mạnh bảo vệ bản sắc, nhưng dễ nghiêng về diễn ngôn phòng thủ. Một số nơi nhấn mạnh hội nhập, nhưng lại ít quan tâm đến năng lực giữ vững chủ thể văn hóa. Sự tách rời này làm người học khó hình thành thế cân bằng giữa tự tin bản sắc và cởi mở học hỏi. Trong khi đó, UNESCO và nhiều nghiên cứu quốc tế đều chỉ ra năng lực liên văn hóa hiệu quả không nằm ở cực đóng hay cực mở tuyệt đối, mà ở khả năng đối thoại có căn cứ, tôn trọng khác biệt nhưng không từ bỏ năng lực phán đoán giá trị.

2.4 Mô hình bốn lớp năng lực nhận diện xung đột văn hóa cho sinh viên

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, bài viết đề xuất mô hình bốn lớp năng lực.

Lớp thứ nhất là năng lực nhận diện ký hiệu xung đột. Sinh viên cần học cách nhận ra các dấu hiệu ban đầu của xung đột văn hóa như ngôn ngữ loại trừ, mô típ chế giễu bản sắc, nhị nguyên hóa “ta – họ”, khai thác biểu tượng lịch sử theo hướng kích động, hoặc các chiến thuật gắn nhãn đạo đức nhằm khép người khác vào vị trí thù địch. Đây là lớp năng lực quan sát và gọi tên hiện tượng. Không gọi đúng tên thì không thể phân tích đúng bản chất.

Lớp thứ hai là năng lực giải mã cấu trúc quyền lực văn hóa. Người học phải hiểu rằng sau mỗi xung đột thường có các quan hệ sâu hơn giữa trung tâm và ngoại vi, giữa chủ thể phát ngôn mạnh và yếu, giữa chuẩn mực được chuẩn hóa và bản sắc bị ngoại biên hóa. Khi có năng lực này, sinh viên sẽ tránh được hai sai lầm: hoặc đơn giản hóa xung đột như chuyện “cá nhân cư xử không khéo”, hoặc cảm tính hóa toàn bộ vấn đề như một sự xúc phạm không thể đối thoại.

Lớp thứ ba là năng lực phản biện truyền thông số. Sinh viên phải biết kiểm tra nguồn, đọc ngữ cảnh, phân tích cách một nội dung được cắt ghép, định khung, lặp lại và lan truyền. Họ cũng phải hiểu vai trò của thuật toán, buồng vang và kinh tế chú ý trong việc biến xung đột văn hóa thành hàng hóa cảm xúc. Đây là lớp năng lực cực kỳ quan trọng trong bối cảnh nhiều xung đột không bắt đầu từ đời sống trực tiếp mà từ đời sống nền tảng.

Lớp thứ tư là năng lực kiến tạo đối thoại có trách nhiệm. Mục tiêu cuối cùng không phải để sinh viên chỉ giỏi phát hiện xung đột, mà là biết tham gia vào xử lý xung đột theo tinh thần công dân. Điều đó bao gồm khả năng lắng nghe, phân biệt giữa phê phán và xúc phạm, giữa bảo vệ bản sắc và bài ngoại, giữa khẳng định quan điểm và hủy bỏ người khác. Năng lực này cũng cần gắn với ý thức chính trị rằng đối thoại không phải thỏa hiệp vô nguyên tắc, mà là cơ chế giữ ổn định trong đa dạng.

Mô hình bốn lớp này có tính mới ở chỗ nối liền năng lực văn hóa với năng lực chính trị công dân. Nó cũng phù hợp với logic phát triển năng lực mà Deardorff và các tổng quan gần đây nhấn mạnh, nhưng được mở rộng theo nhu cầu riêng của xã hội Việt Nam trong hội nhập quốc tế và bảo vệ ổn định chính trị.

2.5 Phương thức triển khai trong đại học và cao đẳng

Để mô hình trên đi vào thực tiễn, cần chuyển từ các hoạt động rời rạc sang thiết kế giáo dục có chủ đích.

Trước hết, cần tích hợp nội dung nhận diện xung đột văn hóa vào những học phần nền như lý luận chính trị, pháp luật đại cương, kỹ năng học đại học, truyền thông số, văn hóa học và ngoại ngữ học thuật. Đây không nhất thiết là mở thêm môn mới, mà là đưa vào các mô-đun tình huống, hồ sơ tranh luận và bài tập phản tư. Khi học lý luận chính trị, sinh viên có thể phân tích mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển dưới tác động của xung đột văn hóa. Khi học kỹ năng số, sinh viên có thể phân tích cơ chế lan truyền phẫn nộ và kỳ thị trên nền tảng.

Tiếp theo, cần tạo các không gian đối thoại liên văn hóa có hướng dẫn trong nhà trường. Không nên chỉ dừng ở ngày hội giao lưu văn hóa mang tính biểu diễn. Cần có diễn đàn học thuật, phòng thí nghiệm truyền thông, câu lạc bộ tranh biện, mô phỏng tình huống quốc tế hóa và các dự án học tập phục vụ cộng đồng để sinh viên thực hành phân tích, thương lượng và giải quyết khác biệt. Thực hành này càng quan trọng khi giáo dục đại học Việt Nam đang gia tăng quốc tế hóa và kết nối học thuật xuyên biên giới.

Một phương diện rất quan trọng nữa là bồi dưỡng giảng viên. Giảng viên không chỉ cần hiểu về văn hóa hay chính trị riêng rẽ, mà cần có năng lực dẫn dắt các chủ đề nhạy cảm trong lớp học. Nhiều xung đột văn hóa nếu được đưa vào giảng dạy mà không có phương pháp sẽ dễ biến lớp học thành nơi phát tán định kiến hơn là tháo gỡ định kiến. Vì vậy, cần bồi dưỡng phương pháp đối thoại khó, sư phạm phản tư, quản trị tranh luận và tích hợp truyền thông số cho giảng viên.

Cuối cùng, cần đổi mới đánh giá. Không thể đánh giá năng lực nhận diện xung đột văn hóa chỉ bằng trắc nghiệm kiến thức. Cần dùng hồ sơ tình huống, nhật ký phản tư, bài luận phân tích diễn ngôn, dự án nhóm, mô phỏng xung đột và đánh giá theo tiêu chí năng lực. Chỉ khi đánh giá thay đổi, người học mới có động lực học theo chiều sâu.

3. Kết luận và hàm ý chính sách

Phát triển năng lực nhận diện xung đột văn hóa cho sinh viên là một yêu cầu mới nhưng ngày càng cấp thiết đối với giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và truyền thông số. Điểm cốt lõi cần khẳng định là xung đột văn hóa không chỉ là va chạm ứng xử giữa các cộng đồng khác nhau, mà là hiện tượng có thể tác động tới niềm tin xã hội, bản lĩnh công dân và ổn định chính trị theo cách mềm, phân tán nhưng dai dẳng. Vì vậy, năng lực nhận diện xung đột văn hóa phải được xem như một năng lực công dân chiến lược, chứ không chỉ là kỹ năng mềm hay một nội dung phụ trong giáo dục văn hóa.

Từ góc nhìn liên ngành, bài viết cho thấy việc tích hợp nghiên cứu văn hóa, lý thuyết liên văn hóa và khoa học chính trị cho phép xây dựng một cách tiếp cận sâu hơn. Sinh viên không chỉ cần học để giao tiếp lịch thiệp với khác biệt, mà cần học để đọc ra khi nào khác biệt bị chính trị hóa, khi nào biểu tượng bị huy động để tạo đối kháng, khi nào truyền thông số đang biến xung đột văn hóa thành hàng hóa cảm xúc. Chỉ khi có năng lực này, họ mới có thể vừa hội nhập tự tin, vừa giữ được bản lĩnh phán đoán và trách nhiệm với cộng đồng chính trị của mình.

Về hàm ý chính sách, trước hết cần xem nội dung phát triển năng lực nhận diện xung đột văn hóa là một cấu phần trong chiến lược giáo dục công dân và bản lĩnh hội nhập của sinh viên. Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể xây dựng khung năng lực tham chiếu dùng chung cho đại học và cao đẳng, trong đó nêu rõ các chuẩn đầu ra về nhận diện xung đột, phản biện truyền thông, đối thoại liên văn hóa và trách nhiệm xã hội.

Tiếp theo, cần khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học thí điểm các mô-đun liên ngành giữa lý luận chính trị, văn hóa học, truyền thông số và kỹ năng đối thoại. Những mô-đun này nên gắn với hồ sơ thực tế của Việt Nam và thế giới, thay vì chỉ sao chép mô hình kỹ năng liên văn hóa chung chung.

Một hàm ý quan trọng khác là phải tăng đầu tư cho bồi dưỡng giảng viên và nghiên cứu ứng dụng. Nhà trường cần có các nhóm nghiên cứu về xung đột văn hóa trong môi trường sinh viên, về tác động của nền tảng số tới cực đoan hóa nhận thức, về phương pháp dạy học đối thoại trong các chủ đề nhạy cảm. Không có bằng chứng nghiên cứu trong nước, chính sách rất dễ rơi vào diễn ngôn đúng nhưng khó triển khai.

Sau cùng, cần mở rộng sự phối hợp giữa nhà trường, tổ chức thanh niên, thiết chế văn hóa, cơ quan truyền thông và các nền tảng giáo dục số để tạo thành môi trường học tập xã hội. Năng lực nhận diện xung đột văn hóa không thể được hình thành chỉ bằng một vài giờ học, mà phải được nuôi dưỡng trong toàn bộ hệ sinh thái đại học và đời sống số của sinh viên.

Nói cách khác, nếu hội nhập quốc tế đặt ra thách thức mới cho ổn định chính trị, thì câu trả lời không nên chỉ nằm ở quản lý hay kiểm soát, mà phải bắt đầu từ phát triển con người. Sinh viên có khả năng nhận diện xung đột văn hóa sớm, phân tích nó thấu đáo và tham gia đối thoại có trách nhiệm sẽ là lực lượng góp phần tạo nên một nền ổn định chính trị trưởng thành hơn, dựa trên năng lực xử lý khác biệt chứ không phải né tránh khác biệt. Đó chính là ý nghĩa sâu xa và cũng là tính mới thực tiễn nhất của việc đặt vấn đề này trong giáo dục đại học Việt Nam hôm nay.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị. (2024). Kết luận số 91-KL/TW ngày 12 tháng 8 năm 2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

2. Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

3. Deardorff, D. K. (2006). Identification and assessment of intercultural competence as a student outcome of internationalization. Journal of Studies in International Education, 10(3), 241-266.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Hà Nội, Việt Nam: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Đoàn, M. H. (2022). Phương thức bảo đảm ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam. Tạp chí Cộng sản.

6. UNESCO. (2013). Intercultural competences: Conceptual and operational framework. Paris, France: UNESCO.

7. UNESCO. (2023). Harnessing intercultural competencies for peacebuilding: Report. Paris, France: UNESCO.

8. UNESCO in the UK, & Institute for Economics and Peace. (2023). We need to talk: Measuring intercultural dialogue for peace and inclusion. London, UK: UNESCO in the UK.

9. Zhang, J., Lou, X., & Sun, I. Y. (2023). Intercultural competence developmental processes of university and college students: A systematic review. International Journal of Intercultural Relations, 93, 101775.

10. Öhman, M., Mansdotter, A., & Sundberg, K. (2024). Interventions and evaluation of intercultural competence of students in higher education: A scoping review. Journal of Education for Sustainable Development.