PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

Ninh Quang Thảo - Trường Đại học Nguyễn Huệ Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo được xem là một trong những lĩnh vực tiên phong trong ứng dụng công nghệ số. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển năng lực khai thác, sử dụng thiết bị, phần mềm và nền tảng số cho đội ngũ giảng viên, học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục – đà
08:48 | 02/02/2026

Ninh Quang Thảo -

Trường Đại học Nguyễn Huệ

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo được xem là một trong những lĩnh vực tiên phong trong ứng dụng công nghệ số. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển năng lực khai thác, sử dụng thiết bị, phần mềm và nền tảng số cho đội ngũ giảng viên, học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục – đào tạo hiện nay. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.

Từ khóa: Năng lực số, thiết bị và phần mềm dạy học, nền tảng số, chuyển đổi số giáo dục, phát triển năng lực.

1. Đặt vấn đề

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các thành tựu về công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và Internet vạn vật đang làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực, trong đó có giáo dục và đào tạo. Quá trình chuyển đổi số không chỉ yêu cầu đổi mới phương thức dạy học, quản lý giáo dục mà còn đòi hỏi giảng viên và học viên phải được trang bị năng lực số để thích ứng với môi trường học tập hiện đại.

Trong bối cảnh đó, giáo dục quân sự đứng trước yêu cầu cấp thiết về hiện đại hóa, xây dựng nhà trường thông minh và từng bước tiệm cận mô hình giáo dục số. Nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng xác định rõ việc ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số là giải pháp then chốt nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quân đội.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy năng lực số của một bộ phận giảng viên và học viên còn chưa đồng đều; kỹ năng khai thác công nghệ, thiết kế học liệu số, tổ chức dạy học trực tuyến và tự học trong môi trường số vẫn hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả triển khai các mô hình dạy học hiện đại.

Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn, nghiên cứu phát triển năng lực số cho giảng viên và học viên ở nhà trường quân đội có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, vừa làm rõ cơ sở lý luận, vừa đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội hiện đại.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận về phát triển năng lực số trong giáo dục

2.1.1. Khái niệm năng lực khai thác, sử dụng thiết bị và nền tảng số

Năng lực khai thác và sử dụng thiết bị, phần mềm và nền tảng số là khả năng của cá nhân trong việc tìm hiểu, vận dụng, quản lý và tối ưu hóa các công cụ công nghệ thông tin – từ phần cứng (máy tính, thiết bị thông minh) đến phần mềm, ứng dụng và các nền tảng số – nhằm phục vụ cho công việc, học tập và sáng tạo. Cụ thể, năng lực này bao gồm các thành phần chính sau:

Một là, khả năng sử dụng thiết bị số: Người dạy và người học biết cách vận hành, bảo dưỡng cơ bản và khai thác hiệu quả các thiết bị công nghệ như máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh, các thiết bị chuyên dụng trong giáo dục và công nghiệp. Phân biệt và lựa chọn thiết bị phù hợp với mục đích sử dụng.

Hai là, khả năng sử dụng phần mềm và ứng dụng: Người dạy và người học sử dụng thành thạo các phần mềm phục vụ công việc, học tập và nghiên cứu như phần mềm văn phòng, phần mềm quản lý dữ liệu, ứng dụng học tập trực tuyến, công cụ lập kế hoạch và tổ chức công việc. Sử dụng các ứng dụng số để tạo, chỉnh sửa, lưu trữ và chia sẻ thông tin một cách hiệu quả.

Khả năng khai thác nền tảng số: Người dạy và người học biết cách truy cập, khai thác và vận dụng các nền tảng số phục vụ học tập, nghiên cứu, giảng dạy và quản lý, bao gồm các hệ thống học tập trực tuyến, thư viện số, mạng xã hội chuyên môn, và các nền tảng dữ liệu lớn.Đánh giá, lựa chọn và áp dụng các nền tảng số phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Biết kết hợp linh hoạt các thiết bị, phần mềm và nền tảng số để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp. Sáng tạo trong việc ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả công việc, học tập và nghiên cứu.

2.1.2. Vai trò của năng lực số trong giáo dục hiện nay

Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ của nền giáo dục toàn cầu, năng lực số giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ đối với người học mà còn đối với đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Việc phát triển năng lực này góp phần định hình lại cách thức tổ chức, triển khai và đánh giá hoạt động dạy – học, hướng đến một nền giáo dục mở, linh hoạt và thích ứng với thời đại số.

Thứ nhất, năng lực số góp phần đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ mô hình truyền thụ kiến thức sang mô hình phát triển năng lực người học. Người dạy có thể vận dụng các công cụ số để thiết kế bài học tương tác, tổ chức hoạt động nhóm trực tuyến, đánh giá năng lực người học theo tiến trình, qua đó phát huy tính chủ động, sáng tạo và khả năng tư duy phản biện của người học.

Thứ hai, năng lực số tạo điều kiện tăng tính linh hoạt và cá thể hóa quá trình học tập. Nhờ sự hỗ trợ của các nền tảng quản lý học tập và học trực tuyến như LMS, MOOC, Zoom, Microsoft Teams, Google Classroom…, người học có thể học mọi lúc, mọi nơi, theo tốc độ và nhu cầu riêng. Điều này đặc biệt phù hợp với mô hình học tập suốt đời và học tập mở – những định hướng trọng tâm của giáo dục hiện đại.

Thứ ba, năng lực số giúp tăng cường năng lực tự học, tự nghiên cứu và khả năng tương tác đa chiều giữa người học – người dạy – hệ thống. Các công cụ và nền tảng số cho phép người học chủ động tìm kiếm, xử lý và đánh giá thông tin; đồng thời tạo môi trường giao tiếp, phản hồi và hợp tác hiệu quả trong không gian ảo.

Như vậy, năng lực số không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là điều kiện tiên quyết để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, hướng tới xây dựng một hệ sinh thái học tập thông minh, mở và hội nhập quốc tế.

2.1.3. Cơ sở pháp lý và định hướng phát triển

Việc phát triển năng lực khai thác, sử dụng thiết bị, phần mềm và nền tảng số trong giáo dục hiện nay được đặt trên nền tảng của nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện quyết tâm đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Trước hết, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 6/7/2024 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới khẳng định: “Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục và đào tạo, coi đây là giải pháp đột phá để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam”. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát triển đội ngũ nhà giáo có năng lực ứng dụng công nghệ số, chủ động khai thác và sử dụng hiệu quả các thiết bị, phần mềm và nền tảng số nhằm nâng cao chất lượng dạy học và quản lý giáo dục.

Tiếp đó, Chiến lược Chuyển đổi số ngành giáo dục giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã đề ra mục tiêu cụ thể: “Từng bước hình thành và phát triển năng lực số cho cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên và học sinh, sinh viên; xây dựng hệ sinh thái giáo dục số toàn diện, đồng bộ, hiện đại và an toàn”. Chiến lược này coi việc bồi dưỡng và phát triển năng lực sử dụng công nghệ số là yếu tố then chốt trong việc hiện thực hóa mô hình “trường học thông minh” và “quản lý giáo dục thông minh”.

Ngoài ra, Khung năng lực công dân số Việt Nam (2023) do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành đã cung cấp cơ sở pháp lý quan trọng để xác định các mức độ năng lực số cần đạt được đối với từng nhóm đối tượng trong xã hội, bao gồm cả người học và người dạy trong các cơ sở giáo dục. Khung này được xem là căn cứ để các cơ sở giáo dục thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và chứng nhận năng lực số cho giáo viên, học sinh, sinh viên.

2.2. Thực trạng và giải pháp phát triển năng lực số ở Nhà trường quân đội hiện nay

2.2.1. Thực trạng phát triển năng lực số ở Nhà trường quân đội hiện nay

Trước hết, hạ tầng và thiết bị dạy học số tại nhiều cơ sở giáo dục đã được đầu tư, nâng cấp đáng kể. Các trường học, đặc biệt ở bậc đại học và cao đẳng, đã được trang bị phòng học thông minh, phòng máy tính hiện đại, hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS), cùng với mạng Internet tốc độ cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai dạy học kết hợp (blended learning) và dạy học trực tuyến.

Đội ngũ giảng viên ngày càng thành thạo trong việc ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy. Nhiều giảng viên đã sử dụng thành thạo các phần mềm trình chiếu, thiết kế bài giảng e-learning, công cụ tạo nội dung số tương tác; đồng thời bước đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hỗ trợ soạn giảng, đánh giá kết quả học tập và phân tích dữ liệu học tập của người học. Việc sử dụng các nền tảng như Google Classroom, Microsoft Teams, Zoom, Moodle, Canva, ChatGPT, hay các công cụ mô phỏng ảo đã trở nên phổ biến, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.

Người học cũng đã có sự tiến bộ rõ rệt trong việc khai thác các nền tảng số để học tập. Học viên, sinh viên có khả năng tìm kiếm, xử lý, đánh giá thông tin trực tuyến, đồng thời tích cực tham gia các khóa học mở (MOOC), diễn đàn học tập trực tuyến và các hoạt động học tập tương tác đa phương tiện. Điều này cho thấy nhận thức và kỹ năng số của người học đang từng bước được hình thành và phát triển theo hướng tích cực.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai vẫn cho thấy nhiều khó khăn, hạn chế cần được khắc phục để năng lực số trong giáo dục được phát triển toàn diện và bền vững.

Thứ nhất, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ còn chưa đồng bộ. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, các cơ sở giáo dục vẫn thiếu thiết bị hiện đại, đường truyền Internet không ổn định, dẫn đến hạn chế trong việc triển khai dạy học trực tuyến hoặc mô hình lớp học thông minh.

Thứ hai, năng lực số của một bộ phận giảng viên và học viên còn hạn chế. Không ít giáo viên mới chỉ dừng lại ở mức sử dụng công cụ cơ bản (trình chiếu, văn bản, bảng điện tử), trong khi năng lực phân tích dữ liệu, thiết kế học liệu số, hay ứng dụng công nghệ nâng cao còn yếu. Học viên cũng gặp khó khăn trong việc chọn lọc thông tin, đảm bảo an toàn số và khai thác hiệu quả tài nguyên học tập trực tuyến.

Thứ ba, thiếu các chương trình đào tạo, bồi dưỡng bài bản về năng lực số. Hiện nay, phần lớn các khóa tập huấn chỉ mang tính chất ngắn hạn, thiên về thao tác kỹ thuật, chưa chú trọng phát triển tư duy số, năng lực khai thác dữ liệu học tập hay ứng dụng công nghệ mới như AI, Big Data, VR/AR trong dạy học và nghiên cứu.

Những hạn chế trong việc phát triển năng lực khai thác, sử dụng thiết bị, phần mềm và nền tảng số trong giáo dục hiện nay bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan.

Quảng cáo

Thứ nhất, nhận thức về chuyển đổi số trong giáo dục chưa thật đầy đủ và thống nhất. Ở một số cơ sở giáo dục, việc triển khai chuyển đổi số mới dừng lại ở mức ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, chưa thực sự hiểu đúng bản chất của chuyển đổi số là thay đổi phương thức tổ chức, quản lý và vận hành hệ thống giáo dục dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Điều này dẫn đến tình trạng lúng túng trong việc xác định mục tiêu, lựa chọn công cụ, hoặc đầu tư nguồn lực chưa hợp lý.

Thứ hai, thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và chia sẻ tài nguyên số trong giáo dục. Hiện nay, nhiều giảng viên, giáo viên đã có khả năng tạo lập học liệu điện tử, song chưa có hệ thống đánh giá, ghi nhận và khuyến khích phù hợp đối với những sáng tạo đó. Cơ chế chia sẻ, khai thác chung các bài giảng điện tử, học liệu số giữa các cơ sở giáo dục còn hạn chế, dẫn đến lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả lan tỏa của đổi mới sáng tạo.

Thứ ba, sự kết nối và hợp tác giữa các cơ sở giáo dục với doanh nghiệp công nghệ còn yếu. Việc thiếu các mô hình liên kết bền vững giữa nhà trường – doanh nghiệp – cơ quan quản lý khiến cho việc cập nhật công nghệ mới, tiếp cận nguồn học liệu số hiện đại, cũng như triển khai các giải pháp chuyển đổi số đồng bộ gặp nhiều khó khăn. Nhiều trường chưa có đội ngũ chuyên trách về công nghệ giáo dục, hoặc chưa có điều kiện hợp tác với các doanh nghiệp trong việc phát triển nền tảng, công cụ và hệ thống học tập thông minh.

2.2.2. Giải pháp phát triển năng lực số cho giảng viên và học viên ở nhà trường quân đội hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức và xây dựng văn hóa số trong giáo dục

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc nâng cao nhận thức và xây dựng văn hóa số trong giáo dục trở thành yếu tố nền tảng, quyết định hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ trong dạy học và quản lý giáo dục. Đối với cán bộ quản lý, nhận thức đúng về chuyển đổi số giúp họ xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển công nghệ phù hợp với định hướng và mục tiêu giáo dục, đồng thời thúc đẩy quản lý hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Đối với giảng viên, hiểu rõ vai trò của công nghệ trong giảng dạy giúp họ vận dụng thiết bị, phần mềm và nền tảng số để thiết kế bài giảng tương tác, nâng cao chất lượng học tập và khuyến khích sự sáng tạo của học viên. Đối với học viên, nhận thức về tầm quan trọng của công nghệ giúp họ chủ động học tập trong môi trường số, phát triển kỹ năng tự học, kỹ năng số và khả năng thích ứng với yêu cầu nghề nghiệp trong kỷ nguyên số.

Nội dung nâng cao nhận thức bao gồm việc cung cấp kiến thức tổng quan về chuyển đổi số, vai trò và lợi ích của công nghệ trong giáo dục, đồng thời làm rõ những thách thức khi sử dụng thiết bị, phần mềm và nền tảng số. Xây dựng văn hóa số là hình thành thói quen và hành vi làm việc, học tập số, trong đó mỗi cá nhân có ý thức sử dụng công nghệ một cách sáng tạo, hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm. Văn hóa số còn bao gồm việc chia sẻ thông tin, hợp tác trực tuyến, tôn trọng bản quyền và bảo mật dữ liệu.

Để thực hiện, các cơ sở giáo dục cần tổ chức hội thảo, diễn đàn, tọa đàm, chuyên đề tập huấn cho cán bộ quản lý, giảng viên và học viên về chuyển đổi số và kỹ năng số cơ bản. Cần xây dựng các khóa học trực tuyến và chương trình tập huấn kỹ năng sử dụng thiết bị, phần mềm và nền tảng số gắn với thực tiễn giảng dạy và học tập. Đồng thời, nên tạo môi trường thử nghiệm và các dự án thực tế để người học vận dụng công nghệ giải quyết vấn đề, nâng cao tư duy số và khả năng sáng tạo. Việc ban hành hướng dẫn về bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu, cách thức giao tiếp, chia sẻ và hợp tác trong môi trường số cũng đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra, cần định kỳ đánh giá nhận thức và kỹ năng số, đồng thời khích lệ các sáng kiến và mô hình ứng dụng công nghệ hiệu quả.

Hai là, tăng cường bồi dưỡng, đào tạo kỹ năng số cho giảng viên và học sinh, sinh viên

Việc bồi dưỡng và đào tạo kỹ năng số cho giảng viên và học viên đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục trong kỷ nguyên số. Giảng viên được trang bị các kỹ năng thiết yếu như thiết kế bài giảng e-learning, phân tích dữ liệu học tập (Learning Analytics), ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ thực tế ảo (VR/AR) sẽ chủ động, sáng tạo hơn trong quá trình dạy học và nghiên cứu. Học viên có năng lực số tốt sẽ phát triển kỹ năng tự học, tư duy phản biện và khả năng thích ứng với môi trường học tập hiện đại.

Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các kỹ năng thiết yếu nêu trên và tích hợp chuẩn năng lực số theo Khung năng lực công dân số Việt Nam 2023 cũng như các khung quốc tế như DigCompEdu vào chương trình đào tạo, kiểm tra và đánh giá.

Để thực hiện, các cơ sở giáo dục cần triển khai các khóa tập huấn và bồi dưỡng chuyên sâu cho giảng viên và học viên, đảm bảo tính liên tục, linh hoạt và gắn với thực tiễn nghề nghiệp của từng nhóm đối tượng. Việc đào tạo cần kết hợp lý thuyết với thực hành, tạo điều kiện cho người học vận dụng trực tiếp các kỹ năng số vào giảng dạy, nghiên cứu và học tập, từ đó nâng cao năng lực số một cách thực chất và bền vững.

Ba là, phát triển hạ tầng và hệ sinh thái số trong nhà trường

Phát triển hạ tầng và hệ sinh thái số là yếu tố quan trọng để chuyển đổi số trong giáo dục đạt hiệu quả. Đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật số giúp nhà trường đảm bảo điều kiện thuận lợi cho dạy và học, nghiên cứu và quản lý. Các thiết bị dạy học thông minh, mạng Internet tốc độ cao, hệ thống máy chủ lưu trữ dữ liệu và các phần mềm quản lý học tập hiện đại là nền tảng kỹ thuật cần được trang bị đầy đủ.

Song song với việc hoàn thiện hạ tầng, nhà trường cần xây dựng hệ sinh thái học tập số thống nhất. Hệ sinh thái này bao gồm nền tảng quản lý học tập (LMS), thư viện điện tử, kho học liệu số, hệ thống quản lý học viên và không gian học tập trực tuyến. Việc kết nối và liên thông giữa các hệ thống giúp hình thành môi trường giáo dục mở, hỗ trợ học tập suốt đời, chia sẻ dữ liệu học tập hiệu quả và tăng cường hợp tác giữa giảng viên, học viên và các bộ phận quản lý.

Để thực hiện, nhà trường cần lập kế hoạch đầu tư hạ tầng công nghệ đồng bộ, lựa chọn và triển khai các nền tảng số phù hợp với quy mô và nhu cầu. Cần đảm bảo tính liên thông và khả năng mở rộng của các hệ thống, đồng thời xây dựng quy trình quản lý, vận hành và bảo trì hạ tầng số. Ngoài ra, cần đào tạo đội ngũ cán bộ, giảng viên và học viên sử dụng thành thạo các hệ thống này, đồng thời khuyến khích việc khai thác, chia sẻ dữ liệu và ứng dụng sáng tạo trong học tập, nghiên cứu và quản lý.

Bốn là, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp công nghệ và các tổ chức giáo dục

Tăng cường hợp tác với doanh nghiệp công nghệ và các tổ chức giáo dục là giải pháp quan trọng để phát triển giáo dục số trong nhà trường. Việc hợp tác giúp các cơ sở giáo dục cập nhật, tiếp cận và triển khai các giải pháp giáo dục số tiên tiến, đồng thời rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn trong dạy học. Liên kết với các tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước không chỉ giúp tiếp cận nhanh các công nghệ mới mà còn tạo điều kiện cho học viên và giảng viên thực hành, trải nghiệm thực tế, nâng cao năng lực số.

Nội dung hợp tác bao gồm chuyển giao công nghệ, triển khai phần mềm và thiết bị giáo dục số, xây dựng các mô hình học tập thực tế, chia sẻ dữ liệu học tập và nghiên cứu. Nhà trường cũng cần khuyến khích mô hình hợp tác công – tư (PPP) trong đầu tư hạ tầng, phần mềm và phát triển hệ sinh thái số, nhằm huy động nguồn lực xã hội hỗ trợ giáo dục số.

Để thực hiện, các cơ sở giáo dục nên chủ động xây dựng kế hoạch hợp tác chiến lược với doanh nghiệp công nghệ và các tổ chức giáo dục, lựa chọn đối tác uy tín, phù hợp với nhu cầu và định hướng phát triển của nhà trường. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp, theo dõi, đánh giá hiệu quả hợp tác, đồng thời tạo điều kiện cho giảng viên và học viên tham gia các chương trình thực hành, trải nghiệm công nghệ mới và khai thác dữ liệu học tập một cách hiệu quả.

Năm là, xây dựng cơ chế khuyến khích sáng tạo và chia sẻ học liệu số

Khuyến khích sáng tạo và chia sẻ học liệu số là yếu tố quan trọng để phát triển năng lực số trong giáo dục. Việc ghi nhận và đánh giá cao các sản phẩm giảng dạy số không chỉ thúc đẩy giảng viên sáng tạo mà còn tạo động lực cho học viên chủ động tham gia học tập và nghiên cứu. Các sản phẩm này có thể bao gồm giáo án điện tử, bài giảng e-learning, video bài giảng hoặc các ứng dụng hỗ trợ học tập.

Nội dung thực hiện bao gồm xây dựng chính sách khen thưởng, ghi nhận các sản phẩm giảng dạy số chất lượng và phát triển các kho học liệu mở (OER), nhằm tạo môi trường cho giảng viên và học viên cùng chia sẻ, khai thác và phát triển tài nguyên học tập. Qua đó, hình thành cộng đồng học tập số cả trong và ngoài nhà trường, góp phần nâng cao hiệu quả học tập và năng lực số.

Để thực hiện, các cơ sở giáo dục cần xây dựng cơ chế chính sách rõ ràng về khen thưởng và ghi nhận sản phẩm số, phát triển hệ thống kho học liệu mở và các nền tảng chia sẻ tài nguyên. Đồng thời, cần tổ chức các hoạt động hỗ trợ, hướng dẫn giảng viên và học viên khai thác, cập nhật và phát triển học liệu số, khuyến khích hợp tác và trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong cộng đồng học tập số.

3. Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu, phát triển năng lực khai thác và sử dụng công nghệ số là yêu cầu tất yếu đối với giảng viên và học viên ở các nhà trường quân sự. Năng lực này giúp tiếp cận nhanh tri thức mới, đổi mới phương pháp huấn luyện và nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng hiện đại, linh hoạt và sát thực tiễn.

Thực tiễn cho thấy việc đầu tư hạ tầng số, triển khai hệ thống quản lý học tập và bồi dưỡng kỹ năng số đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực hành. Tuy nhiên, những hạn chế về cơ sở vật chất, trình độ công nghệ và cơ chế chính sách vẫn đặt ra yêu cầu phải có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn.

Phát triển năng lực số và ứng dụng công nghệ trong huấn luyện là nền tảng để các nhà trường quân sự đổi mới và hiện đại hóa đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại và hội nhập quốc tế./.

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phá triển giáo dục và đào tạo.

[1] Quân ủy Trung ương, Nghị quyết về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, Số 3484-NQ/QUTW ngày 29-01-2025.

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Chiến lược Chuyển đổi số ngành giáo dục giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

[3] Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Khung năng lực công dân số Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.

[4] Nguyễn Văn An (2022). Thách thức về hạ tầng công nghệ trong quá trình chuyển đổi số tại các trường đại học. Tạp chí Quản lý Giáo dục.

DEVELOPING DIGITAL COMPETENCIES FOR LECTURERS AND STUDENTS IN MILITARY SCHOOLS TODAY

Ninh Quang Thảo-

Nguyễn Huệ University

Email: [email protected]

Abstract: In the context of rapid digital transformation across all sectors of society, education and training are considered among the pioneering fields in applying digital technologies. This paper focuses on analyzing the theoretical foundations, current status, and proposing solutions to develop the competencies for utilizing devices, software, and digital platforms for lecturers and students in educational and training institutions. The research results contribute to improving teaching effectiveness and meeting the requirements for fundamental and comprehensive reform of education and training in the era of the Fourth Industrial Revolution.

Keywords: Digital competencies, teaching devices and software, digital platforms, digital transformation in education, competency development