Bùi Phan Bảo Trân
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Email: [email protected]
|
|
|
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nguồn nhân lực tri thức đối với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay; đồng thời làm rõ những định hướng lớn trong phát triển nguồn nhân lực tri thức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Nguồn nhân lực tri thức, lực lượng sản xuất, Đại hội XIV, phát triển nguồn nhân lực.
1. Đặt vấn đề
Trong học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Lực lượng sản xuất phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất và bao gồm ba yếu tố cơ bản: người lao động, tư liệu sản xuất và trình độ khoa học - công nghệ. Trong đó, con người giữ vai trò trung tâm, là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, khi khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tri thức đã trở thành nguồn lực trực tiếp của sản xuất. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất và tổ chức kinh tế trên phạm vi toàn cầu.
2. Nội dung
2.1 Cơ sở lý luận về vai trò của nguồn nhân lực tri thức đối với phát triển lực lượng sản xuất
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa sức lao động của con người với tư liệu sản xuất và trình độ khoa học - công nghệ. Theo đó, con người vừa là yếu tố trung tâm vừa là động lực trực tiếp của quá trình sản xuất. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, mỗi bước tiến của lực lượng sản xuất đều gắn liền với sự phát triển của tri thức và khoa học - công nghệ. Nếu như trong nền kinh tế nông nghiệp, đất đai và lao động thủ công là yếu tố chủ yếu của lực lượng sản xuất, thì trong nền kinh tế công nghiệp, máy móc và công nghệ giữ vai trò quyết định. Đến thời đại ngày nay, khi kinh tế tri thức trở thành xu hướng phát triển chủ đạo của thế giới, tri thức và nguồn nhân lực sáng tạo trở thành yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là sự phát triển bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ số… đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đặt ra yêu cầu cấp bách về xác lập mô hình tăng trưởng, mô hình phát triển mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản xuất và năng lực cạnh tranh quốc gia” [1, tr.9].
Trong nền kinh tế tri thức, tri thức và nguồn nhân lực sáng tạo trở thành yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Trong kinh tế tri thức, nguồn lực phát triển quan trọng nhất là tri thức, nhân lực có năng lực sáng tạo và thích ứng công nghệ cao” [2, tr.9]. Điều đó cho thấy, việc phát triển nguồn nhân lực tri thức không chỉ là yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà còn là điều kiện quyết định để phát triển lực lượng sản xuất trong giai đoạn mới.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ đã làm cho tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Những thành tựu của khoa học - công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, quản lý và tiêu dùng, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: “Dưới tác động của tiến bộ mới về khoa học và công nghệ, kinh tế thế giới chuyển mạnh sang kinh tế tri thức; các thành tựu khoa học và công nghệ được ứng dụng để tối ưu hóa quy trình sản xuất, quản lý và tiêu dùng” [2, tr.9].
2.2. Thực tiễn phát triển lực lượng sản xuất và nguồn nhân lực ở Việt Nam
Sau gần bốn thập kỷ thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử; đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao” [1, tr.9].
Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao trong nhiều năm. Văn kiện Đại hội XIV cho biết: “Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 30 năm đầu đổi mới trung bình gần 7%/năm” [2, tr.17]. Bên cạnh đó, quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên. Trong giai đoạn 2016 - 2025, quy mô nền kinh tế đạt trên 500 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh. Những thành tựu đó cho thấy lực lượng sản xuất ở nước ta đã có bước phát triển quan trọng. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: “Tăng trưởng vẫn dưới mức tiềm năng, năng suất lao động chưa cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế” [1, tr.9].
2.3. Định hướng phát triển nguồn nhân lực tri thức theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Một là, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực tri thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, giáo dục - đào tạo giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nguồn nhân lực tri thức. Chất lượng giáo dục quyết định trực tiếp đến trình độ tri thức, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng công nghệ của người lao động. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo là nhiệm vụ cơ bản nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát triển đất nước dựa trên nền tảng tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đảng khẳng định: “Phải tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức mạnh con người Việt Nam” 1, tr.14]. Điều đó cho thấy con người và nguồn nhân lực tri thức được xác định là yếu tố trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước.
Trong bối cảnh đó, giáo dục - đào tạo cần được đổi mới theo hướng phát triển toàn diện năng lực người học, chú trọng tư duy sáng tạo, kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ mới. Đồng thời, cần gắn chặt quá trình đào tạo với yêu cầu của nền kinh tế và thị trường lao động, nhằm bảo đảm nguồn nhân lực được đào tạo có thể đáp ứng hiệu quả yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ mới.
Hai là, phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tri thức.
Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của khoa học - công nghệ không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất mà còn tạo ra những ngành nghề mới, đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ tri thức cao và khả năng sáng tạo.
Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ rằng các quốc gia trên thế giới đang đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đảng nhấn mạnh: “Hầu hết các nước trên thế giới đều cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa nền quản trị quốc gia” [2, tr.11]. Điều đó cho thấy khoa học - công nghệ trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại. Do đó, cần đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức và nhà khoa học tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Việc xây dựng môi trường thuận lợi cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tri thức và thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Ba là, xây dựng môi trường thuận lợi để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong phát triển lực lượng sản xuất.
Đội ngũ trí thức là lực lượng quan trọng trong quá trình sáng tạo tri thức và phát triển khoa học - công nghệ. Trong nền kinh tế tri thức, vai trò của trí thức ngày càng trở nên nổi bật, bởi họ là những người trực tiếp nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội.
Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy sự đóng góp to lớn của đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định rằng sự phát triển của đất nước gắn liền với việc phát huy sức mạnh của toàn dân tộc và các nguồn lực xã hội. Đảng nhấn mạnh: “Cần khơi thông mọi nguồn lực, mọi động lực phát triển, phát huy sức mạnh Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc” [1, tr.10].
Để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, cần xây dựng môi trường nghiên cứu và sáng tạo thuận lợi, đồng thời có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài. Việc tạo điều kiện để trí thức tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, tư vấn chính sách và chuyển giao công nghệ sẽ góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Bốn là, gắn phát triển nguồn nhân lực tri thức với yêu cầu hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển của các quốc gia. Việc phát triển nguồn nhân lực tri thức cần gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của nền kinh tế. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ rằng quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đang tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các quốc gia, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực. Đảng nhấn mạnh: “Hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thực chất hơn, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia” [2, tr.11].
Trong bối cảnh đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, có trình độ chuyên môn cao và năng lực thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học - công nghệ. Đồng thời, việc phát triển nguồn nhân lực tri thức cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững, nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.
5. Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định rõ vai trò của khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực tri thức trong chiến lược phát triển đất nước nhanh và bền vững. Phát triển nguồn nhân lực tri thức không chỉ góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia mà còn tạo động lực quan trọng để Việt Nam thực hiện thành công mục tiêu trở thành quốc gia phát triển trong tương lai. Do đó, cần có những chính sách đồng bộ và hiệu quả nhằm phát triển nguồn nhân lực tri thức, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[4] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.