PHỔ CẬP GIÁO DỤC VÀ GIÁO DỤC BẮT BUỘC TIỂU HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 TRONG BỐI CẢNH CHÍNH QUYỀN 2 CẤP

PGS.TS Trần Đình Tuấn - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Tóm tắt: Phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc là những phạm trù khoa học khác nhau nhưng có các nội dung đan xen lẫn nhau, thống nhất với nhau và cùng được thực hiện dựa trên cơ sở pháp lý chung. Trong bối cảnh thực hiện chính quyền 2 cấp, nhiều vấn đề mới đang đặt ra cho ngành giáo dục. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc đối với tiểu học cần phải đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra
06:42 | 26/10/2025

PGS.TS Trần Đình Tuấn -

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Tóm tắt: Phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc là những phạm trù khoa học khác nhau nhưng có các nội dung đan xen lẫn nhau, thống nhất với nhau và cùng được thực hiện dựa trên cơ sở pháp lý chung. Trong bối cảnh thực hiện chính quyền 2 cấp, nhiều vấn đề mới đang đặt ra cho ngành giáo dục. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác phổ cập giáo dục và giáo dục bắt buộc đối với tiểu học cần phải đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra những yếu tố tác động, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp đổi mới phương thức hoạt động phù hợp với sự vận động, phát triển của thực tiễn giáo dục hiện nay.

Từ khóa: Phổ cập giáo dục; giáo dục bắt buộc; tiểu học, Chương trình giáo dục phổ thông 2018

1. Đặt vấn đề

Phổ cập giáo dục (PCGD) và giáo dục bắt buộc (GDBB) đối với tiểu học là yêu cầu tất yếu vừa có tính khoa học, vừa có tính pháp lý. Phương thức tổ chức PCGD và GDBB đối với tiểu học luôn vận động, phát triển cùng với sự vận động, phát triển của lý luận và thực tiễn giáo dục, của thành tựu khoa học, công nghệ và của điều kiện kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, của quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đặc biệt là quá trình thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cùng với thực hiện chính quyền 2 cấp đã và đang tác động mạnh mẽ đến các hoạt động PCGD và GDBB đối với tiểu học. Sự tác động đó đã làm nảy sinh cả những thời cơ và những thách thức mới. Điều đó đặt ra vấn đề cần thiết phải nghiên cứu tìm ra giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động PCGD và GDBB đối với tiểu học.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của PCGD và GDBB đối với tiểu học

Phổ cập giáo dục (universal education) và giáo dục bắt buộc (Compulsory Education) là những phạm trù khoa học khác nhau nhưng có các nội dung gần nhau, đan xen lẫn nhau, thống nhất với nhau. PCGD và GDBB là những tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển giáo dục của mỗi quốc gia. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và các điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia có những quy định riêng về PCGD và GDBB. Thông thường, PCGD và GDBB được quy định trong Luật giáo dục và các văn bản pháp lý của quốc gia.

Ở Việt Nam, Điều 14 Luật giáo dục 2019 quy định PCGD và GDBB như sau:

1. Giáo dục tiểu học là GDBB. Nhà nước thực hiện PCGD mầm non cho trẻ em 05 tuổi và PCGD trung học cơ sở.

2. Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện GDBB trong cả nước; quyết định kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục.

3. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để thực hiện PCGD và hoàn thành GDBB.

4. Gia đình, người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được học tập để thực hiện PCGD và hoàn thành GDBB.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, GDBB được hiểu như sau: GDBB là quá trình thực hiện giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện.

Luật Giáo dục năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2014 chỉ quy định PCGD mầm non cho trẻ em 05 tuổi, PCGD tiểu học và PCGD trung học cơ sở. Nhà nước quyết định kế hoạch và đảm bảo các điều kiện để thực hiện trong cả nước.

Luật giáo dục 2019 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2020 quy đinh, việc hoàn thành chương trình tiểu học là yêu cầu bắt buộc và cũng được thực hiện trong cả nước. Luật quy định giáo dục tiểu học là GDBB, có nghĩa là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện. Bởi lẽ mục tiêu của giáo dục tiểu học là hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh. Giáo dục tiểu học giúp cho học sinh sẽ có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; Có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; Có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh…Để thực hiện được việc này, mọi công dân trong độ tuổi phải có nghĩa vụ học tập để thực hiện PCGD và hoàn thành GDBB. Gia đình, người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình ở độ tuổi quy định được thực hiện PCGD và hoàn thành GDBB.

PCGD được quy định tại khoản 8, Điều 5, Luật Giáo dục năm 2019 “PCGD là quá trình tổ chức hoạt động giáo dục để mọi công dân trong độ tuổi đều được học tập và đạt đến trình độ học vấn nhất định theo quy định của pháp luật”. Theo Luật Giáo dục năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2014 thì PCGD gồm: PCGD mầm non cho trẻ em năm tuổi, PCGD tiểu học và PCGD trung học cơ sở. Luật Giáo dục năm 2019, thì PCGD tại Việt Nam bao gồm PCGD mầm non cho trẻ em 05 tuổi và PCGD trung học cơ sở. Nhà nước thực hiện chính sách PCGD tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến hết lớp 5 đối với tất cả trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi.

Điều 40 của Thông tư số 50/2012/TT-BGDĐT quy định tuổi của học sinh tiểu học từ 6 đến 14 tuổi. Từ khái niệm PCGD ở trên, thì PCGD tiểu học là quá trình tổ chức hoạt động giáo dục để mọi công dân trong độ tuổi từ 06 đến 14 tuổi đều được học tập và đạt đến trình độ tiểu học. Đối tượng PCGD tiểu học là trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 chưa hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học. Chương trình giáo dục thực hiện PCGD tiểu học là chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.

PCGD tiểu học thực hiện giáo dục tối thiểu đạt trình độ tiểu học cho trẻ trong độ tuổi quy định một cách phổ biến trên phạm vi cả nước, trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 nắm vững các kỹ năng nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội và con người; hình thành đạo đức con người, có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng thầy giáo, cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ; yêu lao động, có kỷ luật; tạo những thói quen nhỏ hàng ngày; có nếp sống văn hóa; có thói quen rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hòa bình.

Sự khác nhau cơ bản ở đây là tính chất giáo dục đối với mỗi đối tượng PCGD và GDBB. GDBB là quy định có tính pháp luật mà các đối tượng trong độ tuổi nhất định phải thực hiện. PCGD là Nhà nước tạo mọi điều kiện để các đối tượng trong độ tuổi quy định được học và có thể học được. Nghĩa là, người học được học và phải học nhưng phải có đủ điều kiện để có thể học được. Tóm lại, GDBB với PCGD được khái quát trong cụm từ: PHẢI HỌC – ĐƯỢC HỌC – HỌC ĐƯỢC.

GDBB ở các trường phổ thông khác với GDBB ở các trường giáo dưỡng. GDBB ở các trường giáo dưỡng là loại hình giáo dục dành cho trẻ vị thành niên từ 12 tới dưới 18 tuổi có hành vi vi phạm pháp luật cần được giáo dục đặc biệt. Mục đích đưa những trẻ em phạm tội vào trường giáo dưỡng nhằm trang bị cho trẻ văn hóa, tổ chức sinh hoạt, lao động, học nghề dưới sự giáo dục và quản lý của nhà trường, giúp các em cải tạo bản thân trở thành công dân tốt hòa nhập với cộng đồng.

Khoản 3, điều 99 của Luật Giáo dục 2019 quy định: “Học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục công lập không phải đóng học phí; ở địa bàn không đủ trường công lập, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục tư thục được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí, mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định”. Theo đó, đối với GDBB ở tiểu học, học sinh không phải nộp học phí. Nhà nước bảo đảm các điều kiện cơ bản để thực hiện GDBB; ở địa bàn không đủ trường công lập, Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí cho học sinh, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ đóng học phí đối với học sinh trong trường tư thục. Việc xã hội hóa giáo dục cần có cơ chế rõ ràng để khuyến khích, nhưng phải bảo đảm nguyên tắc không thương mại hóa giáo dục và cấm lợi dụng hoạt động giáo dục vì mục đích vụ lợi.

PCGD tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến hết lớp 5 là điều kiện để đưa nền giáo dục nước ta nói chung hòa nhập cùng hệ thống giáo dục của các quốc gia khác trong khu vực và quốc tế. PCGD tiểu học bắt buộc là một bộ phận trong chiến lược phát triển con người, giữ vai trò quyết định cho sự phát triển kinh tế – xã hội góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

2.2. Thực trạng và những yếu tố tác động đến PCGD và GDBB ở tiểu học

2.2.1. Thực trạng PCGD và GDBB ở tiểu học

Trên thế giới, GDBB và miễn học phí 9 năm trở lên là xu hướng chung của các quốc gia. Hầu hết các nước châu Âu áp dụng GDBB 9 năm trở lên. Trong đó, nhiều nước như Anh, Ba Lan, Hà Lan, Pháp... thực hiện GDBB 12 năm (hay đến 18 tuổi). Mỹ thực hiện GDBB 9 năm trở lên ở tất cả các bang, trong đó nhiều bang đã thực hiện miễn học phí hoàn toàn cho đến cấp THPT. Nhật Bản là nước châu Á áp dụng sớm nhất, bắt đầu từ sau Cải cách Minh Trị năm 1868 đã thực hiện GDBB 6 năm đối với tiểu học. Đến năm 1947, Luật Giáo dục của Nhật Bản quy định GDBB 9 năm, gồm 6 năm tiểu học và 3 năm trung học cơ sở.

Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thực hiện GDBB 9 năm trở lên, trong đó Cuba và Triều Tiên thực hiện 12 năm. Năm 1986, Trung Quốc đã ban hành luật GDBB 9 năm. Tuy nhiên, với hơn 1,4 tỉ dân, Trung Quốc không phải thực hiện miễn phí THCS ngay mà thực hiện từng bước, nơi thuận lợi làm trước, nơi khó khăn làm sau. Cho đến năm 2006, nước này mới miễn phí THCS 100% trên phạm vi toàn quốc.

Ở Đông Nam Á, Singapore và Philippines áp dụng GDBB 10 năm; Indonesia, Thái Lan và Campuchia 9 năm, Malaysia 6 năm. Trong đó, Indonesia đang triển khai thí điểm 12 năm tại thủ đô Jakarta.

Ở Việt Nam, sau nhiều lần dự thảo nhưng do nguồn lực tài chính không đảm bảo nên phải đến Luật giáo dục 2019 mới quy định “Giáo dục tiểu học là GDBB. Nhà nước thực hiện PCGD mầm non cho trẻ em 05 tuổi và PCGD trung học cơ sở”.

Bảng 1: Thống kê số liệu về quy mô Giáo dục tiểu học Việt Nam

TT

Nội dung

Năm học 2018-2019

Năm học 2019-2020

Tổng số

Công lập

Tư thục

Tổng số

Công lập

Tư thục

1

Số trường

13.970

13.852

118

12.961

12.827

134

2

Số lớp

78.955

74.859

4.096

279.646

274.859

4.787

3

Số học sinh

8.506.562

8.402.000

104.562

8.718.356

.596.716

121.640

4

Cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ và giáo viên

492.422

483.525

8.897

477.035

466.761

10.274

4.1

CBQL, nhân viên phục vụ

101.668

99.148

2.520

99.159

96.614

2.545

- Hiệu trưởng

13.499

13.368

131

12.564

12.430

134

- Phó Hiệu trưởng

18.954

18.769

185

18.302

18.102

200

- GV tổng phụ trách Đội

11.188

11.140

48

10.266

10.211

55

- Nhân viên

58.027

55.871

2.156

58.027

55.871

2.156

4.2

Giáo viên

390.754

384.377

6.377

377.876

370.147

7.729

- Đạt trình độ chuẩn trở lên

88.882

382.560

6.322

376.660

368.971

7.689

5

Phòng học

229.852

225.730

4.122

258.523

253.297

5.226

- Phòng học kiên cố

173.950

170.673

3.277

203.113

197.958

5.155

- Phòng học bán kiên cố

51.218

51.186

32

51.616

51.557

59

- Phòng học tạm

4.684

3.871

813

3.794

3.782

12

6

Số bình quân

- Học sinh/lớp

30,49

30,57

25,53

31,18

31,28

25,41

- Học sinh/giáo viên

21,77

21,86

16,40

23,07

23,23

15,74

- Giáo viên/lớp

1,40

1,40

1,56

1,35

1,35

1,61

Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo

Theo số liệu của Vụ giáo dục tiểu học, năm học 2019-2020 cả nước có 12.961 trường tiểu học với 8.718.356 học sinh; 377.876 giáo viên, tỷ lệ GV/lớp đạt 1,35; tỷ lệ học sinh/giáo viên là 23,07; tỷ lệ học sinh/lớp là 31,18. Giáo dục tiểu học ở Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực các nước ASEAN.

2.2.2. Những yếu tố tác động đến PCGD và GDBB ở tiểu học

Tác động từ Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến cả nội dung, phương thức tổ chức hoạt động PCGD và GDBB ở tiểu học. Mọi hoạt động PCGD và GDBB ở tiểu học phải điều chỉnh, đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Tác động từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vừa tạo ra những thời cơ, vừa đặt ra những yêu cầu và thách thức mới cho hoạt động PCGD và GDBB ở tiểu học. Việc vận dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào quá trình PCGD và GDBB đối với tiểu học đòi hỏi cán bộ, giáo viên và các cơ quan chức năng phải đổi mới phương thức hoạt động theo hướng số hóa.

Tác động từ các nguồn lực đảm bảo cho hoạt động PCGD và GDBB tiểu học. Những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, của quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trước yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đòi hỏi hoạt động PCGD và GDBB tiểu học phải đồng bộ nâng tầm của các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực. Đó là các điều kiện đảm bảo cho hoạt động PCGD và GDBB tiểu học đạt hiệu quả.

Tác động từ việc sáp nhập các tỉnh, các xã, thực hiện chính quyền 2 cấp. Không còn cấp huyện, không còn phòng giáo dục cấp quận, huyện, mọi hoạt động giáo dục ở cơ sở giao cho cán bộ xã phường kiêm nhiệm. Nhiều văn bản quản lý ban hành chưa theo kịp sự vận động của thực tiễn, thiếu đội ngũ chuyên gia chuyên trách về giáo dục. Việc triển khai các hoạt động PCGD và GDBB ở cấp xã phường vốn đã khó lại càng khó khăn nhiều hơn.

2.3. Đánh giá chung về thực trạng PCGD và GDBB ở tiểu học

2.3.1. Ưu điểm và nguyên nhân

Một là, hoàn thành mục tiêu PCGD tiểu học, các mục tiêu giáo dục quốc gia được duy trì, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.

Năm 2000, sau khi hoàn thành mục tiêu PCGD tiểu học, xóa mù chữ, Việt Nam đã cam kết phấn đấu đạt được tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ được ghi trong Bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc với 189 quốc gia thành viên. Trong các mục tiêu này, PCGDTH là một trong những mục tiêu mà Việt Nam chú trọng triển khai và đã đạt được thành tích rất đáng trân trọng ở tất cả các vùng miền trong cả nước.

Kết quả PCGD tiểu học, Việt Nam được đánh giá là có tiến bộ nhanh hơn so với phần lớn các nước có thu nhập thấp khác trên thế giới trong việc khắc phục những sự chênh lệch về giới và về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi. Đến năm 2014 đã có 63/63 tỉnh, thành đã đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi cấp độ I, tức là đã hoàn thành trước kế hoạch đối với mục tiêu thiên niên kỷ về PCGDTH.

Duy trì bền vững kết quả đạt chuẩn PCGDTH. Hiện nay, 100% các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn PCGD tiểu học mức độ 2, trong đó có 16 tỉnh/thành phố đạt chuẩn PCGD tiểu học mức độ 3 (theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP và Thông tư số 07/2016/TT-BGDĐT).

Số đơn vị cấp xã đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi mức độ 1 (tương đương PCGDTH mức độ 2): 11120/11153, tỷ lệ 99,70% (trong đó đơn vị cấp xã đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi mức độ 2 (tương đương PCGDTH mức độ 3) là 5110/11153, tỷ lệ 45,82%; số đơn vị cấp xã đạt chuẩn PCGDTH: 33/11153, tỷ lệ 0,30%.

Hai là, kết quả giáo dục tiểu học Việt Nam được đánh giá cao trong khu vực.

Số trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 là 1.317.083/1.325.132, đạt tỷ lệ 99,39% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN sau Singapore).

Số trẻ em đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm (11 tuổi) là 1.056.664/1.115.010, đạt tỷ lệ 94,76%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN.

Học sinh tiểu học Việt Nam tham gia kỳ đánh giá quốc tế PASEC 10 năm 2011 đạt kết quả rất cao (cao nhất trong cộng đồng các nước nói tiếng Pháp)

Học sinh tiểu học Việt Nam tham gia các cuộc thi trong khu vực và quốc tế đều đạt thứ hạng cao như: thi Toán APMOS, IMC, thi Robotics, Cờ vua,...

Giáo dục tiểu học Việt Nam bảo đảm được các mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay, tạo nền móng vững chắc cho học sinh tiếp tục học lên cấp trung học cơ sở.

Ba là, cơ sở vật chất được quan tâm và đầu tư xây dựng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của trẻ trong độ tuổi và thực hiện đổi mới giáo dục ở cấp tiểu học

Theo số liệu của Vụ Giáo dục tiểu học, năm học 2019-2020 cấp tiểu học cả nước có 258.523 phòng học, trong đó có 203.113 phòng học kiên cố; 51.616 phòng học bán kiên cố; 3.794 phòng học tạm (xem mục 5 bảng 1).

Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới đối với cấp tiểu học cho biết như sau: Toàn quốc hiện có 13.995 trường tiểu học(với 17.609 điểm trường), trong đó số trường tiểu học công lập là 13.735 (giảm 1.052 trường so với năm học trước) và 260 trường ngoài công lập tỷ lệ trung bình trường tiểu học/xã là 1,25; tỷ lệ trung bình điểm trường/trường tiểu học là 1,26; nhiều trường tiểu học có từ 3 đến 5 điểm trường (chủ yếu ở các vùng miền núi).

Số trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên toàn quốc đạt 66%, trong đó có 1.946 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 đạt tỷ lệ 13,9%.

Toàn quốc có 247.976 phòng học kiên cố, đạt 71.1%; phòng bán kiên cố, đạt 24%, vẫn còn trên 5% phòng học tạm và mượn.

Quảng cáo

Hiện tại ở cấp tiểu học tỷ lệ phòng học trung bình chung cả nước là 0,89 (Miền núi phía Bắc 0,90; Tây Nguyên 0,85; Tây Nam Bộ 0,7).

Tỷ lệ học sinh tiểu học 2 buổi/ngày trên toàn quốc hiện nay đạt trên 80% [3].

Bốn là, đội ngũ giáo viên cơ bản đủ về số lượng, đạt chuẩn về trình độ đào tạo và bước đầu đã được làm quen về đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở cấp tiểu học

Số liệu thống kê tại mục 4, bảng 1 cho thấy năm học 2019-2020 tổng số cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ và giáo viên cấp tiểu học là 477.035 người. Trong đó CBQL, nhân viên phục vụ là 99.159; giáo viên là 377.876.

Tỷ lệ giáo viên biên chế gần 85% nên rất yên tâm công tác và tâm huyết với nghề.

Số giáo viên đạt chuẩn đào tạo và trên chuẩn là 376.660, đạt 99,9%, (Đại học và trên Đại học đạt 60%).

Tỷ lệ giáo viên/lớp, bình quân cả nước đạt 1,38 giáo viên/lớp nên đủ để tổ chức dạy đủ các môn học và dạy học 2 buổi/ngày.

Năm là, tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình hiện hành theo hướng đổi mới, dạy học Tiếng Anh và Tin học đã được đặc biệt chú trọng.

Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới đối với cấp tiểu học cho biết như sau [3]. Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình hiện hành theo hướng đổi mới, dạy học Tiếng Anh và Tin học đã được đặc biệt chú trọng. Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá theo Thông tư 30 và Thông tư 22 đã phát huy hiệu quả và nhận được sự đồng thuận của phụ huynh học sinh.

Giáo dục Tiểu học đã vận dụng các thành tựu về khoa học giáo dục của thế giới vào điều kiện thực tế của Việt Nam một cách hiệu quả như: Phương pháp “Bàn tay nặn bột”, Phương pháp dạy học Mỹ thuật của Đan Mạch, mô hình Trường học mới. Toàn quốc đã có 92% học sinh khối 3-5 được học tiếng Anh; môn Tin học đạt gần 70%. Việc đánh giá học sinh theo Thông tư 30 và Thông tư 22 đã bước đầu nhận được sự đồng thuận và sự hợp tác, tham gia của phụ huynh học sinh.

Những ưu điểm trên đây có nguyên nhân cơ bản như sau:

PCGD và GDBB ở tiểu học đạt được những kết quả khả quan như trên, trước hết là nhờ sự quan tâm của Đảng, Quốc Hội, Chính phủ, của các cấp ủy, chính quyền từ trung ương đến địa phương. Cụ thể là, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 10-CT/TW ngày 05/12/2011 về PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả PCGDTH và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn. Quốc hội đã ban hành Luật Giáo dục 2019 quy đinh giáo dục tiểu học là GDBB, tạo hành lang pháp lý cho tổ chức thực hiện. Chính phủ đã ban hành Nghị định 20/2014/NĐ-CP về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai Nghị định 20/2014/NĐ-CP thông qua việc ban hành Thông tư số 07/2016/TT-BGDĐT ngày 22/3/2016 quy định về điều kiện bảo đảm và nội dung, quy trình, thủ tục kiểm tra công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ để hướng dẫn, giúp địa phương thực hiện củng cố, duy trì bền vững và thúc đẩy hơn nữa công tác PCGD tiểu học.

Về tổ chức thực hiện, khi chưa thực hiện chính quyền 2 cấp, đã tăng cường phân cấp cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ động chỉ đạo, đôn đốc các huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), xã (phường, thị trấn) xây dựng kế hoạch và thực hiện PCGD và GDBB tiểu học; tự kiểm tra, đánh giá kết quả PCGDTH và GDBB tiểu học hằng năm. Các tỉnh, thành phố chủ động kiện toàn, củng cố Ban chỉ đạo PCGD các cấp, rà soát kết quả PCGDTH và GDBB tiểu học theo mức độ.

Chỉ đạo ngành giáo dục phối hợp chính quyền các cấp để thực hiện công tác PCGD và GDBB tiểu học, trong đó có các giải pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ đào tạo, năng lực đội ngũ giáo viên về chuẩn nghề nghiệp, nghiệp vụ sư phạm và khả năng tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên các tỉnh miền núi; chỉ đạo các tỉnh, thành phố xây dựng quy hoạch mạng lưới trường, lớp, quy hoạch nguồn nhân lực giáo dục tại địa phương.

Các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương chủ động bố trí ngân sách cho công tác PCGDTH, xóa mù chữ và thực hiện GDBB tiểu học. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong giáo dục, góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và đảm bảo đạt chuẩn PCGDTH và GDBB tiểu học.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

PCGD và GDBB ở tiểu học là một chủ trương, chính sách đúng đắn mang tính nhân văn cao. Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực đáng tự hào, nhưng trong tổ chức thực hiện vẫn còn nảy sinh những hạn chế, bất cập cần phải điều chỉnh.

Công tác tham mưu của cán bộ quản lý giáo dục ở một số đơn vị thiếu chủ động, chưa tích cực, hiệu quả chưa cao. Tại một số địa phương việc phân cấp quản lý giáo dục chưa hợp lý, chưa phát huy được tính chủ động, tự chịu trách nhiệm và sáng tạo của người đứng đầu các cơ sở giáo dục. Một số cán bộ chưa mạnh dạn thực hiện các giải pháp đổi mới quản lý, đổi mới phương pháp giáo dục, chưa tự tin trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương đổi mới củ nhành; chưa tạo động cơ, khuyến khích sự đổi mới sáng tạo của giáo viên.

Tỷ lệ giáo viên hợp đồng chưa được xét tuyển chính thức còn nhiều (khoảng 15%) nên chưa yên tâm công tác. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, cơ cấu đội ngũ chưa hợp lý, một số nơi thiếu trầm trọng giáo viên các môn chuyên như Tiếng Anh, tin học, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục; thực hiện đổi mới phương pháp dạy học của một bộ phận giáo viên còn yếu; việc tiếp cận thông tin của giáo viên vùng khó khăn còn hạn chế.

Việc thực hiện giảm áp lực cho giáo viên (áp lực công việc, sổ sách, dư luận, áp lực điểm số từ phía phụ huynh học sinh, sĩ số lớp học, môi trường làm việc dân chủ…) chưa được các cấp quản lý chú trọng chỉ đạo thực hiện. Việc đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp và theo Nghị định 56/2015/NQ-CP ở một số trường tiểu học còn mang tính hình thức, chưa phản ánh đúng năng lực và hiệu quả công việc, thậm chí còn biểu hiện thiếu dân chủ, chưa tạo động lực để giáo viên phấn đấu vươn lên, công tác bồi dưỡng giáo viên chưa hiệu quả.

Thực hiện quản lý các trường có yếu tố nước ngoài, các chương trình tích hợp, các hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường học còn nhiều vấn đề phức tạp, kém hiệu quả. Công tác kiểm tra thực hiện quy định về dạy thêm, học thêm trên địa bàn theo Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16/5/2012 của một số địa phương, đơn vị còn hạn chế.

Tình trạng học sinh bỏ học, học sinh ngồi nhần lớp vẫn diễn ra ở một vài địa phương có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, đặc biệt là khu vực Tây Nam Bộ, Tây nguyên, việc thực hiện công tác giáo dục hòa nhập đối tượng cho học sinh khuyết tật còn hạn chế, kết quả chưa phản ánh đúng bản chất, cần được quan tâm giải quyết bằng những giải pháp tổng thể, đặc hiệt đối với giáo dục tiểu học.

Theo số liệu thống kê, năm học 2020-2021, tỷ lệ học sinh phổ thông lưu ban năm học trước là 2,85%, trong đó: tỷ lệ học sinh phổ thông lưu ban năm học trước cấp tiểu học là 3,35%, tỷ lệ học sinh phổ thông lưu ban năm học trước cấp THCS là 3,10%, tỷ lệ học sinh phổ thông lưu ban năm học trước cấp THPT là 0,74%. Tỷ lệ học sinh phổ thông bỏ học đầu năm là 0,12%, trong đó: tỷ lệ học sinh phổ thông bỏ học đầu năm cấp tiểu học là 0,03%, tỷ lệ học sinh phổ thông bỏ học đầu năm cấp THCS là 0,16%, tỷ lệ học sinh phổ thông bỏ học đầu năm cấp THPT là 0,33% (Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng ngày 15/11/2021).

Như vậy, tỷ lệ học sinh lưu ban ở cấp tiểu học cao hơn các cấp học khác. Hiện tượng ngồi nhầm lớp chủ yếu diễn ra ở cấp tiểu học. Mặc dù tỷ lệ bỏ học ở cấp tiểu học thấp hơn các cấp học khác nhưng vẫn còn học sinh tiểu học bỏ học. Học sinh tiểu học bỏ học chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

2.4. Giải pháp PCGD và thực hiện GDBB ở tiểu học trong bối cảnh mới

2.4.1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ, chính quyền, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển giáo dục và PCGD tiểu học

Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ, chính quyền, Ban chỉ đạo PCGD các cấp; nâng cao năng lực, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền, Ban chỉ đạo PCGD các cấp trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục nói chung và công tác PCGD tiểu học nói riêng. Hàng năm tiếp tục đưa kế hoạch PCGD tiểu học vào chương trình công tác của các cấp, xác định trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể đối với công tác phát triển giáo dục và thực hiện nhiệm vụ PCGD tiểu học. Tiếp tục kiện toàn và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động chỉ đạo của Ban chỉ đạo PCGD các cấp; tăng cường và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển giáo dục và PCGD của địa phương.

Ban chỉ đạo PCGD có quy chế định kỳ tổ chức các cuộc họp giao ban
để triển khai kế hoạch PCGD chung của toàn xã trong đó bao gồm PCGD tiểu học đúng độ tuổi cho các trường để các thành viên nắm bắt. Cán bộ chuyên trách PCGD của xã nên có kế hoạch tập huấn về công tác PCGD, hướng dẫn lại nghiệp vụ điều tra cũng như công tác nhập liệu cho các trường để có kỹ năng tốt hơn về các hoạt động PCGD tiểu học.

Theo định kỳ, Ban chỉ đạo PCGD cấp xã cần tiến hành kiểm tra tổng kết, đánh giá việc thực hiện PCGD trong một năm. Khen thưởng kịp thời nhằm động viên các cá nhân và tập thể làm tốt công tác này, đồng thời có biện pháp xử lý chấn chỉnh những cá nhân và tập thể thực hiện chưa tốt phần nhiệm vụ của mình.

Ban Giám hiệu nhà trường hàng năm có kế hoạch tham mưu với Đảng ủy, chính quyền địa phương kiện toàn Ban chỉ đạo PCGD của xã sau khi sáp nhập, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên về nhiệm vụ PCGD để nâng cao hiệu quả nhiệm vụ được giao. Đồng thời, phát hiện và đề xuất phương án xử lý các tình huống nảy sinh trong thực tiễn hoạt động PCGD của địa phương sau khi sáp nhập.

2.4.2. Đa dạng hóa các hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cộng đồng và gia đình về chủ trương, mục đích, ý nghĩa của công tác PCGD tiểu học

Cấp ủy và chính quyền địa phương cần phải tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương và của tỉnh về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, về công tác PCGD tiểu học. Đẩy mạnh, đa dạng hóa các hoạt động thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cộng đồng và gia đình về chủ trương, mục đích, ý nghĩa của công tác PCGD trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ, làm cơ sở vững chắc góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, xác định nhiệm vụ PCGD tiểu học là trách nhiệm của toàn xã hội, là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân.

Ban chỉ đạo PCGD phối hợp với các sở, ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội, cấp ủy, chính quyền các cấp làm tốt công tác tuyên truyền vận động trẻ em trong các độ tuổi ra lớp, giảm học sinh bỏ học, đi học không chuyên cần, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài và xây dựng xã hội học tập. Phân công cán bộ giáo viên viết tin bài về PCGD tiểu học để gửi đăng tải trên Website của ngành.

Các nhà trường cần phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên về tầm quan trọng của công tác PCGD nói chung và PCGD tiểu học đúng độ tuổi trong nhà trường nói riêng. Giải thích cho mọi thành viên trong nhà trường hiểu công tác PCGD là của toàn Hội đồng nhà trường và của toàn xã hội. Giáo viên đến trường không phải chỉ có nhiệm vụ giảng dạy mà ngoài ra còn phải tham gia tích cực các công việc khác khi cần thiết đặc biệt là công tác PCGD. Làm tốt công tác tham mưu với ban chỉ đạo của địa phương tuyên truyền sâu rộng về nhiệm vụ PCGD đến mọi tầng lớp nhân dân, các ban ngành đoàn thể trên địa bàn để họ hiểu và cùng hỗ trợ tạo điều kiện cho trường thực hiện nhiệm vụ được tốt hơn.

2.4.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, thực hiện PCGD tiểu học theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 trong bối cảnh thực hiện chính quyền 2 cấp

Cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng cần phải chú trọng xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bảo đảm chất lượng và hiệu quả gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Có chính sách khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tự học, tự bồi dưỡng song song với rèn luyện kỹ năng mềm và hiểu biết xã hội. Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học, tiếng dân tộc cho cán bộ, giáo viên. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc đánh giá cán bộ quản lý, giáo viên theo chuẩn; thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo từng cấp học. Thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo quy định.

Ban Giám hiệu các nhà trường tiểu học chủ động phối hợp với các cấp có thẩm quyền kiện toàn đội ngũ giáo viên đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu phù hợp. Bố trí và sử dụng đội ngũ giáo viên phù hợp với chuyên môn và sở trường cũng như điều kiện gia đình của bản thân từng người để giáo viên an tâm công tác thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Động viên và tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên của trường tham gia tự học các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để thực hiện nâng chuẩn. Nhà trường tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và năng lực sư phạm cho giáo viên, chú trọng các chuyên đề nâng cao chất lượng dạy và học. Tích cực đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Nhà trường tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng, phương pháp hoạt động PCGD tiểu học phù hợp với đặc điểm của địa phương và phù hợp với Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

2.4.4. Cập nhật thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện số hóa, đổi mới các hoạt động PCGD và tuyển sinh tiểu học

Cuộc cách mạng cong nghiệp lần thứ tư đang thâm nhập vào mọi khâu, mọi bước, mọi hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo. Để nâng cao hiệu quả của các hoạt động PCGD và GDBB ở tiểu học trong bối cảnh hiện nay cần phải vận dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Vận dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong công tác huy động và tuyển sinh trẻ vào lớp 1. Huy động trẻ ra lớp, tuyển sinh vào lớp 1 và duy trì sĩ số của lớp là công việc rất quan trọng của các trường tiểu học. Hàng năm các nhà trường tiểu học đều phải tập trung cao độ cho công tác huy động học sinh trong độ tuổi ra lớp, vận động trẻ khuyết tật, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã đến trường. Theo cách làm truyền thống, các nhà trường tiểu học phải đến các trường mầm non, phối hợp với các trường mầm non để tuyển sinh vào tiểu học. Mặt khác, phải phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể trong các thôn trên địa bàn tuyên truyền sâu rộng “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường” để cho phụ huynh nắm bắt. Những trường hợp nào chưa ra lớp nhà trường đã phân công giáo viên và kết hợp với cán bộ trong thôn đến tận nhà động viên phụ huynh cho con em ra lớp.

Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, các nhà trường có thể nắm bắt được danh sách trẻ trên địa bàn đến độ tuổi vào tiểu học. Nhà trường có thể tiến hành tuyển sinh trực tuyến. Cán bộ xã, phường có thể nắm bắt chính xác tổng số trẻ em trên địa bàn đến tuổi vào học lớp 1 và tổng số trẻ em đã nhập học. Từ đó sẽ phát hiện ra còn bao nhiêu trẻ em chưa đi học. Trên cơ sở đó để có các biện pháp tác động phù hợp nhằm huy động trẻ đi học.

Vận dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong theo dõi, cập nhật, quản lý hệ thống hồ sơ phổ cập của trường đầy đủ, chính xác khoa học. Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, có thể đổi mới cách điều tra, quản lý số liệu và hồ sơ PCGD tiểu học theo hướng số hóa. Để đảm bảo số lượng trẻ trong diện phổ cập theo dõi một cách chính xác trên hệ thống hồ sơ sổ sách thì nhà trường có thể sử dụng các phần mềm chuyên dụng để thiết kế, quản lý phiếu điều tra, sổ phổ cập, số đăng bộ, danh sách học sinh đang học hằng năm, sổ chuyển đi chuyển đến, tất cả các thông tin số liệu phải đảm bảo đầy đủ, chính xác trùng khớp nhau. Hàng năm cập nhật tổng hợp các thông tin lên lớp, ở lại chuyển đi chuyển đến kịp thời vào sổ phổ cập và sổ Đăng bộ. Ngoài ra hàng năm nhà trường phải có một sổ theo dõi riêng số học sinh trong địa bàn theo học các nơi khác và học sinh ngoài địa bàn học tại trường, học sinh khuyết tật. Nếu sử dụng phần mềm chuyên dụng, số hóa các tài liệu đó thì việc thống kê số liệu trên các biểu mẫu sẽ thuận lợi hơn nhiều. Số hóa các văn bản sẽ cho phép cập nhật thường xuyên các thông tin liên quan đến PCGD vào hồ sơ đầy đủ và các loại hồ sơ sẽ được lưu giữ cẩn thận và lâu dài.

Vận dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong phân chia quản lý đối tượng phổ cập theo từng địa bàn thôn cụ thể cho các trường. Thực tiễn PCGD ở các địa phương có nhiều cách làm khác nhau nhưng chủ yếu vẫn bằng các phương pháp thủ công, hiệu quả thấp, độ chính xác không cao. Về tổ chức, có địa phương chỉ đạo cho giáo viên tiểu học điều tra, giáo viên trung học cơ sở nhập liệu; có địa phương chỉ đạo giáo viên cả giáo viên mầm non, tiểu học và trung học cơ sở cùng điều tra, sau đó cùng nhau nhập liệu nhưng rồi vẫn xảy ra sai sót dẫn đến không ai chịu trách nhiệm.

Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin có thể phân chia cho các trường tiểu học tự chịu trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện tất cả các khâu, các bước, các hoạt động PCGD trên địa bàn được phân công. Mỗi trường đều có trách nhiệm vừa điều tra vừa nhập liệu thôn mà trường mình được phân công cụ thể. Ban chỉ đạo PCGD có trách nhiệm lập một địa chỉ Email PCGD để liên lạc. Các trường lập danh sách học sinh của trường mình theo từng đội, thôn cụ thể chính xác gửi lên Email để bộ phận PCGD của xã có cần thì lên địa chỉ đó để lấy. Các nhóm điều tra của các trường sau khi điều tra và nhập liệu xong các thôn của mình phụ trách, dựa vào danh sách học sinh của các trường gửi lên gmail thì có trách nhiệm đối chiếu lại cho đúng và trùng khớp các thông tin với nhau, nếu trường nào làm sai thì phải tự kiểm tra và tìm cho bằng được lỗi của trường mình sai sót. Bằng cách làm đó thì trường nào cũng có trách nhiệm về nhiệm vụ của mình và tự chịu trách nhiệm trước Ban PCGD. Mặt khác sẽ kiểm tra và quản lý được đối tượng học sinh đang học của 3 cấp từ mầm non đến tiểu học và trung học cơ sở một cách chính xác, đồng bộ.

3. Kết luận

PCGD và GDBB đối với tiểu học là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà trường, của toàn ngành giáo dục và của cấp ủy, chính quyền địa phương. Kết quả của hoạt động PCGD và GDBB đối với tiểu học là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ phát triển bền vững về giáo dục của quốc gia, là cơ sở để thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Thực tiễn, công tác PCGD và GDBB ở tiểu học trong những năm qua đã được tổ chức thực hiện nghiêm túc, đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chung của cả nước. Tuy nhiên, trước sự tác động của quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, của Chương trình giáo dục phổ thông 2018, của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và của phương thức quản lý chính quyền 2 cấp đã làm nảy sinh nhiều vấn đề, đặt ra những yêu cầu mới đối với PCGD và GDBB ở tiểu học.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động PCGD và GDBB ở tiểu học cần phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp quản lý và giải pháp tổ chức thực hiện phù hợp với yêu cầu của thực tiễn trong bối cảnh mới.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cấp tiểu học, (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Điều lệ trường tiểu học, Thông tư số 28/2020/TT-BGDĐT, ngày 04/9/2020

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Báo cáo tại Hội nghị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới đối với cấp tiểu học, http://pgdtuson.bacninh.edu.vn/tin-tuc-su-kien/thuc-trang-giao-duc-tieu-hoc-va-giai-phap-trien-khai-chuong-.html

4. Chính phủ (2014), Nghị định số 20/2014/NĐ-CP về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, ngày 24 tháng 03 năm 2014

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng trung ương Đảng, Hà Nội.

6. Đảng cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025

8. Trần Khánh Đức (2014), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

9. Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2019), Luật Giáo dục, Luật số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019.