Phạm Quang Thịnh,
Ban Công nghệ thông tin, Học viện Chính trị
Email: [email protected]
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, công tác bảo đảm an toàn thông tin (ATTT) và an ninh mạng (ANM) tại các Học viện Chính trị đóng vai trò then chốt để bảo vệ bí mật nhà nước và nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài báo phân tích thực trạng, những thách thức mới và đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm phòng ngừa vi phạm quy định về ATTT, ANM, góp phần xây dựng môi trường sư phạm quân sự, chính trị chính quy, hiện đại và an toàn.
Từ khóa: An toàn thông tin; An ninh mạng; Học viện Chính trị; Phòng ngừa vi phạm; Bảo vệ tư tưởng.
1. Mở đầu
Trước tác động của thành tựu khoa học công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đến nay, không gian mạng đã thay đổi sâu sắc, trở thành một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống không gian phát triển đất nước. Cùng với những lợi ích to lớn, các đe dọa từ không gian mạng như thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác ngày càng lớn, đe dọa lộ lọt bí mật nhà nước, bí mật quân sự, làm đình trệ và rối loạn các hệ thống quan trọng của quốc gia. Trong bối cảnh mới, bảo đảm an toàn thông tin, xây dựng, bảo vệ không gian mạng an toàn là nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Học viện Chính trị là trung tâm đào tạo, nghiên cứu lý luận chính trị hàng đầu, nơi lưu trữ và xử lý khối lượng lớn thông tin thuộc phạm vi bí mật quốc gia, các công trình nghiên cứu chiến lược và tài liệu giảng dạy quan trọng. Với sự phát triển của công nghệ 4.0, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để thực hiện các hành vi xâm nhập, gián điệp mạng và phát tán thông tin xấu độc. Do đó, việc phòng ngừa vi phạm các quy định về ATTT và ANM không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà còn là nhiệm vụ chính trị cấp bách.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Đặc điểm và nguy cơ mất an toàn thông tin tại Học viện
Đối với Học viện Chính trị, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng chính quy với đặc trưng là lưu trữ, sử dụng nhiều tài liệu quân sự, tìm kiếm, vận dụng, ứng dụng thông tin trên không gian mạng phục vụ nhiệm vụ cao, do đó, yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng càng đặt ra cấp thiết.
Hệ thống dữ liệu đặc thù: Bao gồm giáo án, bài giảng, kết quả nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn quân sự và hồ sơ nhân sự cấp cao.
Nguy cơ từ môi trường kết nối: Việc sử dụng các thiết bị thông minh cá nhân, thiết bị lưu trữ ngoài (USB, ổ cứng) và kết nối internet không kiểm soát trong khu vực học viện tiềm ẩn rủi ro lây nhiễm mã độc.
Thủ đoạn của các đối tượng xấu: Sử dụng các kỹ thuật tấn công định danh, giả mạo email lãnh đạo, hoặc khai thác lỗ hổng từ các trang thông tin điện tử nội bộ.
2.2. Thực trạng công tác phòng ngừa vi phạm
Trong tình hình mới, Học viện Chính trị đã chủ động tiếp cận thành tựu khoa học, công nghệ, xây dựng Học viện ngang tầm nhiệm vụ, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Trong đó, đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên của Học viện đã tích cực đổi mới sáng tạo, nhanh nhạy, chủ động ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào quá trình thực hiện nhiệm vụ, là lực lượng nòng cốt trong thực hiện chuyển đổi số, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng ở Học viện.
Trước thực tế đó, đảng ủy, ban giám đốc Học viện Chính trị trên cơ sở quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng về quản lý, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, đã có nhiều chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo phòng ngừa vi phạm quy định bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên. Nhất là việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về quy trình, kỹ năng, phương pháp bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng cho cán bộ, giảng viên, nhân viên; phổ biến quy chế, quy định, đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, góp phần bảo đảm chính quy, an toàn đối với cơ quan, đơn vị.
Tuy nhiên, vẫn còn một số cấp ủy, chỉ huy chưa thực sự coi trọng việc phòng ngừa, chưa tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm phòng ngừa, làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng chính quy của Học viện.
Mặt khác, do kiến thức, kinh nghiệm về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của một số đồng chí cán bộ, giảng viên, nhân viên còn hạn chế. Dẫn đến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, còn có hiện tượng vi phạm quy định bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện Chính trị. Ý thức tự giác của một bộ phận cán bộ, học viên đôi lúc còn chủ quan. Kỹ năng xử lý sự cố mạng của lực lượng chuyên trách đôi khi chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ tấn công.
2.3. Giải pháp trọng tâm phòng ngừa vi phạm
Để phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện Chính trị trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng trong phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện Chính trị.
Nhận thức của chủ thể, lực lượng với việc phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện có ý nghĩa quyết định đến kết quả thực hiện mục tiêu nhiệm vụ đề ra; là cơ sở để vạch ra phương hướng, mục tiêu, chương trình, kế hoạch, lựa chọn hình thức, phương pháp phòng ngừa. Không gian mạng là một môi trường tác chiến mới, trên đó, các thế lực thù địch không từ một thủ đoạn nào chống phá cách mạng nước ta. Do vậy, cần nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng của phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên. Thường xuyên quán triệt tốt các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Nhận thức sâu sắc về vai trò của cán bộ, giảng viên, nhân viên trong ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số của Học viện Chính trị. Nhận thức rõ thực trạng vi phạm, những vi phạm chủ yếu và thực trạng phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện hiện nay. Những thuận lợi, khó khăn trong phòng ngừa vi phạm quy định, trên cơ sở đó, xây dựng quyết tâm, đề cao trách nhiệm. Nắm chắc phạm vi trách nhiệm trong phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện Chính trị. Có thái độ kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái trong bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng ở Học viện Chính trị. Để tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên, cần thực hiện qua các hình thức như: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, cán bộ, giảng viên, nhân viên; thông qua hoạt động thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của Học viện; phân công rõ trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng phòng ngừa vi phạm quy định; qua sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm; qua đấu tranh với các biểu hiện vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên.
Thứ hai, hoàn thiện môi trường pháp lý, đầu tư cơ sở hạ tầng về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện Chính trị
Trên cơ sở quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của Quân đội, nhiệm vụ của Học viện đến cán bộ, giảng viên, nhân viên. Cụ thể như: Luật An ninh mạng, Thông tư số 45/2020/TT-BQP ngày 27/4/2020 của Bộ Quốc phòng quy định về điều phối và ứng cứu sự cố an toàn thông tin, an ninh mạng trong Bộ Quốc phòng, Thông tư số 56/2020/TT-BQP ngày 05/5/2020 của Bộ Quốc phòng về quy định quản lý và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong Bộ Quốc phòng, Thông tư số 11/2022/TT-BQP ngày 24/01/2022 của Bộ Quốc phòng quy định về xây dựng và quản lý, khai thác, sử dụng phần mềm, cơ sở dữ liệu số trong Bộ Quốc phòng, Quyết định số 3145/QĐ-BTL ngày 18/9/2023 ban hành Quy chế tổ chức, quản lý, khai thác sử dụng hệ thống truyền hình ứng dụng trên mạng máy tính quân sự, Quyết định số 3581/QĐ-BTL ngày 17/10/2023 của Bộ Tư lệnh 86 ban hành quy chế tổ chức, quản lý, vận hành, khai thác sử dụng hệ thống kiểm soát truy cập mạng máy tính NAC… Học viện xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, xác định quy hoạch bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Ban hành đầy đủ các quy định nội bộ về công tác bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với tình hình nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị trong tình hình mới. Cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm đối với cán bộ, giảng viên, nhân viên.
Đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng hiện đại, đồng bộ. Coi trọng xây dựng Học viện chính quy, chuẩn hóa, hiện đại hóa, với bước đi phù hợp. Tích cực đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Học viện theo mô hình nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Huy động các nguồn lực đầu tư tạo sự đột phá về cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông tin. Tiếp tục xây dựng, triển khai các dự án thành phần, từng bước đầu tư hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Thực hiện tin học hóa, tích hợp hóa, hiện đại hóa công tác quản lý, giáo dục, điều hành huấn luyện. Quan tâm đầu tư công nghệ, hệ thống kỹ thuật bảo đảm các quy chuẩn, tiêu chuẩn theo quy định, tránh tình trạng tập trung chuyển đổi số nhưng thiếu sự quan tâm đến công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Sử dụng các sản phẩm, thiết bị mạng được kiểm tra, đánh giá đảm bảo an ninh mạng. Tổ chức rà soát đánh giá tổng thể an ninh, an toàn thông tin đối với hệ thống mạng, dịch vụ mạng như siết chặt việc truy cập trên các thiết bị bảo mật, bảo vệ mạng, chỉ cho phép kết nối đến các địa chỉ IP, cổng dịch vụ cần thiết; rà soát vi rút, mã độc trên các máy chủ, máy tính quản trị, máy tính người dùng; rà soát, khắc phục lỗ hổng bảo mật của các máy chủ, ứng dụng mạng, phần mềm nghiệp vụ, trong đó ưu tiên các hệ thống kết nối mạng Internet, hệ thống kết nối bên thứ 3; thực hiện ngay việc sao lưu hệ thống, dữ liệu trên thiết bị lưu trữ độc lập hoặc giải pháp tương đương; kịp thời loại bỏ hoặc nâng cấp các máy tính, máy chủ đang sử dụng hệ điều hành không còn được nhà sản xuất hỗ trợ cập nhật bản vá bảo mật; thay đổi mật khẩu, tài khoản quản trị, tài khoản cán bộ.
Thứ ba, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra kiến thức, kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện quân đội hiện nay
Bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng là một lĩnh vực tương đối mới với nhiều quy định về kỹ thuật. Do đó, cần trang bị cho cán bộ, giảng viên, nhân viên hệ thống kiến thức, kỹ năng về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng tài liệu quân sự; bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng cho trang bị, mạng máy tính quân sự, trong phát triển và triển khai các hệ thống thông tin. Trong xác định nội dung phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, cần bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, phù hợp với trình độ, khả năng nhận thức của từng nhóm cán bộ, giảng viên, nhân viên, từng nhiệm vụ được giao. Trong đó, tập trung bồi dưỡng nâng cao ý thức trách nhiệm, thái độ đối với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong bối cảnh mới; bồi dưỡng nâng cao kiến thức toàn diện cho cán bộ, giảng viên, nhân viên về bảo đảm an toàn thông tin; bồi dưỡng kỹ năng thực hành bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Giáo dục cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên các quy định của pháp luật về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cần vận dụng đa dạng, phong phú, linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật, các cuộc thi tìm hiểu về an toàn thông tin, an ninh mạng. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, giảng viên, nhân viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và bí mật nhà nước, bí mật quân sự trên không gian mạng. Thường xuyên tổ chức kiểm tra việc bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên trong quá trình sử dụng công nghệ thông tin, ứng dụng chuyển đổi số thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Thứ tư, phát huy sức mạnh tổng hợp trong phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện Chính trị
Tăng cường sự lãnh đạo của đảng ủy, ban giám đốc trong lãnh đạo, chỉ đạo phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Trên cơ sở quán triệt chủ trương, chỉ đạo của cấp trên, cấp ủy, chỉ huy các cấp căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của cấp mình, ngành mình để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên. Tăng cường sự hướng dẫn, giúp đỡ của cơ quan công nghệ thông tin, cơ quan bảo vệ an ninh quân đội. Phát huy tính tích cực, chủ động của cán bộ, giảng viên, nhân viên trong phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng ở Học viện Chính trị. Mỗi cán bộ, giảng viên, nhân viên phải quán triệt sâu sắc, thấy được vị trí, ý nghĩa của phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, xác định đây là yêu cầu, nhiệm vụ trọng yếu trong bối cảnh mới.
Vấn đề bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, được thực hiện theo quy định của pháp luật, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, bí mật nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên ở Học viện Chính trị là một bộ phận cán bộ của Đảng, Nhà nước hoặt động trong môi trường sư phạm quân sự. Trong bối cảnh mới, trước tác động của cuộc Cách mạng công nghệ lần tư, sự chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng, cần vận dụng tổng hợp các giải pháp để phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của cán bộ, giảng viên, nhân viên, để đội ngũ này luôn có ý thức, thái độ, kiến thức, kỹ năng toàn diện, tích cực, chủ động trong ứng dụng thông tin, tìm kiếm, trao đổi thông tin, đấu tranh chống các thế lực thù địch bảo đảm an toàn, đúng nguyên tắc, chất lượng, hiệu quả./.
3. Kết luận
Phòng ngừa vi phạm quy định về ATTT và ANM tại Học viện Chính trị là một cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa "xây" và "chống", giữa biện pháp hành chính và kỹ thuật là chìa khóa để bảo vệ an toàn tuyệt đối tài nguyên thông tin, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan công nghệ thông tin cấp trên, việc phòng ngừa vi phạm quy định về an toàn thông tin, an ninh mạng ở Học viện được tiến hành thiết thực và bảo đảm hiệu quả tốt. Để hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin không bị tác động, ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các nguy cơ về mất an toàn thông tin, an ninh mạng, Học viện cấn tiến hành tổng thể các giải pháp phòng ngừa vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng ở Học viện. Các giải pháp nêu ra có tính đồng bộ, thống nhất nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra/.
Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội khóa XIV (2018), Luật An ninh mạng, Luật số 24/2018/QH14.
2. Chính phủ (2019), Nghị định số 85/2016/NĐ-CP về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ.
3. Bộ Quốc phòng, Các thông tư, chỉ thị về công tác bảo mật và an toàn thông tin trong Quân đội.
4. Học viện Chính trị, Quy định về quản lý và sử dụng mạng nội bộ, mạng Internet tại đơn vị