Thiếu tướng, TS. Phùng Thị Phú -
Phó Cục trưởng Cục Quân huấn – Nhà trường
Tóm tắt: Nghị quyết số 71-NQ/TW (ngày 22/8/2025) của Bộ Chính trị khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đặt mục tiêu đột phá nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới toàn diện và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bài viết phân tích nội hàm cốt lõi của Nghị quyết, đánh giá ý nghĩa đối với hệ thống giáo dục quốc dân, từ đó đề xuất phương hướng vận dụng Nghị quyết trong các nhà trường quân đội. Các giải pháp được xây dựng dựa trên đặc thù nhiệm vụ chiến lược của quân đội, nhằm phát triển năng lực, phẩm chất người học, gắn với yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Từ khóa: Nghị quyết 71-NQ/TW, giáo dục và đào tạo, nhà trường quân đội, đột phá, phát triển, đổi mới.
1. Mở đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, lĩnh vực giáo dục – đào tạo đang có những biến đổi sâu sắc. Trên thế giới, xu thế số hóa, trí tuệ nhân tạo và mô hình học tập mở đang thay đổi căn bản phương thức giáo dục. Ở Việt Nam, yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại đặt ra cấp thiết.
Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định trong phát triển kinh tế — xã hội và bảo đảm quốc phòng — an ninh. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, ngày 22 tháng 8 năm 2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển GD&ĐT. Đây là văn bản chiến lược định hướng phát triển GD&ĐT trong giai đoạn mới, thúc đẩy đổi mới sâu rộng và đồng bộ các yếu tố cấu thành hệ thống GD&ĐT.
Đối với các nhà trường quân đội, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo gắn liền với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, sĩ quan trong kỷ nguyên mới, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì vậy, việc nghiên cứu, quán triệt và vận dụng Nghị quyết 71-NQ/TW trong môi trường đặc thù này là hết sức cần thiết và cấp bách.

Thiếu tướng, TS Phùng Thị Phú - Phó Cục trưởng, Cục Quân huấn - Nhà trường
2. Bối cảnh ra đời của Nghị quyết số 71-NQ/TW
Nghị quyết 71-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh thế giới chuyển mạnh sang kỷ nguyên số, cạnh tranh về tri thức và nhân lực ngày càng gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng sự phát triển nhanh của công nghệ quân sự hiện đại, chiến tranh không gian mạng và trí tuệ nhân tạo đặt ra thách thức lớn đối với công tác đào tạo sĩ quan, cán bộ, nhân viên kỹ thuật quân đội.
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hệ thống giáo dục Việt Nam và quân đội đã đạt nhiều kết quả quan trọng, song vẫn còn bất cập: nội dung chậm đổi mới, phương pháp giảng dạy chưa hiện đại, cơ sở vật chất và nhân lực chưa đồng bộ. Đặc biệt, công tác giáo dục – đào tạo trong quân đội chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại vào năm 2030.
Trước tình hình đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW (ngày 22/8/2025) nhằm tạo bước đột phá chiến lược, xác định giáo dục và đào tạo là khâu then chốt, động lực trực tiếp cho hiện đại hóa quân đội.
3. Nội dung và nội hàm đột phá của Nghị quyết số 71-NQ/TW
3.1. Khái quát nội dung cơ bản của Nghị quyết số 71-NQ/TW
Nghị quyết đã vạch ra 6 quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo trong kỷ nhuyễn mới: (1). Nhận thức sâu sắc, đầy đủ và thực hiện nhất quán quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc. Phát triển giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, kiến tạo phát triển, bảo đảm nguồn lực và công bằng trong giáo dục; bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Toàn xã hội có trách nhiệm chăm lo, tham gia đóng góp nguồn lực và giám sát phát triển giáo dục. (2). Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, xây dựng xã hội học tập, khơi dậy mạnh mẽ các phong trào thi đua trong Nhân dân và trong toàn xã hội về học tập, tự học tập, học tập không ngừng, học tập suốt đời vì sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước, vì tương lai của dân tộc. (3). Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục, đào tạo. Người học là trung tâm, là chủ thể của quá trình giáo dục và đào tạo; nhà trường là nền tảng, nhà giáo là động lực, quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo. (4). Giáo dục, đào tạo phải bảo đảm "học đi đôi với hành", "lý thuyết gắn liền với thực tiễn", "nhà trường gắn liền với xã hội". (5). Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức và thể chế. (6). Giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân; xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho mọi người, đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy học tập suốt đời.
Nghị quyết xác định mục tiêu đưa GD&ĐT nước ta phát triển nhanh, bền vững, hội nhập sâu rộng; xây dựng con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, kỹ năng, năng lực sáng tạo, góp phần phát triển kinh tế — xã hội, đảm bảo quốc phòng — an ninh. Nghị quyết đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và các mục tiêu đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, đến năm 2030 nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á. Đến năm 2035, phấn đấu ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín. Năm 2045, Việt Nam có hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng và chất lượng, đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra hệ thống 8 nhiệm vụ và giải pháp cơ bản: (1). Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. (2). Đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo. (3). Tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới. (4). Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo. (5). Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông. (6). Cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. (7). Hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. (8). Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục và đào tạo.
Những quan điểm, mục tiêu, giải pháp xác định trong Nghị quyết là cơ sở tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo quân sự đến năm 2035, định hướng 2045.
3.2. Những luận điểm cơ bản mang tính đột phá trong Nghị quyết số 71-NQ/TW
(1). Nhận thức và tư duy chiến lược mới về giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc” – đặt lên hàng đầu trong hoạch định chiến lược phát triển đất nước, lấy mục tiêu con người làm trọng tâm. Phát triển GD&ĐT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân, đòi hỏi sự thống nhất nhận thức và hành động trong cả hệ thống chính trị và xã hội. Đổi mới tư duy, nhận thức và hành động để tạo bước “đột phá” trong chất lượng, hiệu quả và cơ chế tổ chức của toàn hệ thống GD&ĐT. Đây là nội hàm nền tảng, thay đổi cách tiếp cận giáo dục – đào tạo từ đơn thuần “phát triển” sang “đột phá”, coi giáo dục là động lực chiến lược của quốc gia.
(2). Đổi mới thể chế – cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội. Hoàn thiện thể chế pháp luật, cơ chế chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ các rào cản thể chế, thúc đẩy phát triển GD&ĐT một cách linh hoạt, hiệu quả. Tăng cường tự chủ, phân cấp, phân quyền cho cơ sở giáo dục gắn với trách nhiệm giải trình về chất lượng, nhân sự và tài chính. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo phát triển, dẫn dắt bằng đầu tư công, đồng thời tạo hành lang thu hút nguồn lực xã hội tham gia. Việc đổi mới thể chế là trọng tâm để tạo “đột phá về không gian phát triển”, giúp giải quyết các nút thắt lâu nay của hệ thống.
(3). Phát triển toàn diện yếu tố con người và phẩm chất người học. Giáo dục đức – trí – thể – mỹ toàn diện, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới. Người học là chủ thể trung tâm của giáo dục, phát huy năng lực, phẩm chất hơn là chỉ truyền tải kiến thức. Khơi dậy phong trào học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập rộng khắp. Đây là nội hàm thể hiện mục tiêu đổi mới chất lượng giáo dục không chỉ ở đầu ra kiến thức mà còn ở phẩm chất nhân cách và năng lực ứng xử thực tiễn.
(4). Học đi đôi với hành – gắn lý thuyết với thực tiễn. Nhà trường gắn liền với xã hội, gắn với thị trường lao động, tạo điều kiện trải nghiệm, thực hành và ứng dụng kiến thức ngay từ quá trình học. Giáo dục nghề nghiệp định hướng kỹ năng nghề cao, đáp ứng nhu cầu thị trường, góp phần phát triển lực lượng lao động chất lượng cao. Đây là đột phá trong phương pháp đào tạo, từ “dạy cho biết” sang “dạy để làm được”.
(5). Xây dựng hệ thống giáo dục mở, liên thông và công bằng. Giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng, cộng hưởng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Bảo đảm công bằng, bình đẳng tiếp cận giáo dục ở mọi vùng miền, mọi đối tượng, thúc đẩy phổ cập giáo dục. Xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, học tập suốt đời, tăng cơ hội học tập cho mọi người dân. Đây là nội hàm hướng tới một hệ thống linh hoạt, thích ứng, công bằng và hội nhập quốc tế.
(6). Tăng cường đầu tư nguồn lực – chuyển đổi số mạnh mẽ. Tăng đầu tư ngân sách cho giáo dục, ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở vật chất, thiết bị, công nghệ. Phát triển chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào quản lý và dạy học. Đây là nội hàm nhấn mạnh yếu tố công nghệ và nguồn lực trong thời đại mới để thúc đẩy đột phá chất lượng.
(7). Nâng tầm giáo dục đại học và nâng cao năng lực nhân lực chất lượng cao. Hiện đại hóa giáo dục đại học, đào tạo nhân lực trình độ cao và nhân tài, gắn nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là nội hàm chiến lược để Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đến 2045, nằm trong nhóm các quốc gia có hệ thống GD&ĐT hiện đại, chất lượng cao.
Tóm lại, những nội hàm cơ bản về “đột phá” trong Nghị quyết 71-NQ/TW không chỉ dừng ở đổi mới chương trình, sách giáo khoa mà bao trùm cả tư duy chiến lược, thể chế, cơ chế, con người, nguồn lực và công nghệ, với mục tiêu xây dựng một hệ thống giáo dục hiện đại, công bằng và hội nhập quốc tế.
4. Ý nghĩa của Nghị quyết số 71-NQ/TW và những vấn đề đặt ra đối với nhà trường quân đội trong kỷ nguyên mới
4.1. Ý nghĩa của Nghị quyết đối với quá trình đổi mới, phát triển giáo dục – đào tạo ở các nhà trường quân đội
- Thống nhất mục tiêu phát triển. Nghị quyết cung cấp khung định hướng chiến lược cho GD&ĐT quốc gia, tạo cơ sở để các nhà trường quân đội xây dựng chiến lược đào tạo phù hợp với yêu cầu quốc phòng — an ninh trong giai đoạn mới.
- Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học. Tập trung phát triển năng lực, tư duy sáng tạo của học viên, phù hợp với yêu cầu “tự học, tự nghiên cứu” của người chiến sĩ trong môi trường tác chiến hiện đại.
- Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên quân sự. Gắn đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ với yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và hội nhập quốc tế, tạo điều kiện cho giảng viên tiếp cận công nghệ giáo dục tiên tiến.
4.2. Đặc điểm và yêu cầu đối với nhà trường quân đội hiện nay
Các nhà trường quân đội có vị trí đặc thù trong hệ thống giáo dục quốc gia, vừa mang tính sư phạm, khoa học, vừa mang tính chính trị, quân sự và chiến đấu. Môi trường giáo dục có kỷ luật cao, đào tạo gắn liền với huấn luyện và thực tiễn chiến đấu.
Trong bối cảnh mới, các nhà trường phải đối mặt với tác động của chuyển đổi số và công nghệ cao. Nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới đòi hỏi các nhà trường quân đội phải tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ các cuộc chiến tranh công nghệ cao đang diễn ra ở các khu vực khác nhau trên thế giới, cập nhật trình độ phát triển mới của khoa học quân sự hiện đại. Chủ động các phương án tham gia xu thế hội nhập giáo dục và quốc phòng quốc tế.
Từ đó, đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện tư duy giáo dục trong nhà trường quân đội. Chuẩn hóa, hiện đại hóa chương trình và phương pháp đào tạo. Phát triển đội ngũ nhà giáo quân đội vững mạnh vừa đạt chuẩn học vấn theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT, vừa đạt chuẩn chức vụ theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng. Xây dựng môi trường sư phạm quân sự chính quy, kỷ luật, nhân văn, sáng tạo. Xây dựng nhà trường quân đội thành những cơ sở khoa học hiện đại, vừa đào tạo, vừa nghiên cứu sáng tạo làm nòng cốt khoa học cho sự phát triển đột phá của quân đội và đất nước.
5. Giải pháp trọng tâm phát triển nhà trường quân đội theo tinh thần nghị quyết số 71-NQ/TW
5.1. Đổi mới tư duy, nhận thức về giáo dục và đào tạo quân sự
Đây là giải pháp có tính nền tảng, định hướng và xuyên suốt, nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức, hành động của toàn quân về vị trí, ý nghĩa của giáo dục – đào tạo trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại. Mục tiêu của giải pháp này nhằm hình thành tư duy giáo dục mở, năng động, phát triển năng lực và phẩm chất người học, thay thế mô hình giáo dục hành chính, nặng truyền thụ kiến thức.
Nội dung cơ bản của giải pháp này bao gồm: Quán triệt sâu sắc Nghị quyết 71-NQ/TW trong toàn quân. Lồng ghép nội dung Nghị quyết vào sinh hoạt chính trị, chuyên môn. Tổ chức diễn đàn, hội thảo khoa học về đổi mới tư duy giáo dục quân sự. Bồi dưỡng năng lực tư duy chiến lược cho cán bộ quản lý, giảng viên.
Khó khăn chủ yếu trong thực hiện giải pháp này là: Một bộ phận cán bộ, giảng viên còn tư duy bảo thủ, ngại đổi mới. Cơ chế, quy định về tự chủ học thuật trong quân đội còn hạn chế. Thiếu các mô hình mẫu để tham chiếu và nhân rộng.
Cách thức tổ chức thực hiện: Cục Quân huấn – Nhà trường chủ trì, ban hành hướng dẫn quán triệt thống nhất trong các học viện, nhà trường quân đội. Kết hợp giữa học tập chính trị với tập huấn nghiệp vụ sư phạm. Các học viện, nhà trường căn cứ hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, chủ động xây dựng đề án vận dụng Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và các nghị quyết của Quân ủy Trung ương trong đổi mới, đề xuất giải pháp đột phá phát triển giáo dục, đào tạo của đơn vị mình. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Lấy kết quả chuyển biến tư duy và hành động làm tiêu chí đánh giá thi đua.
5.2. Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục quân đội vững mạnh toàn diện
Đây là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục – đào tạo, trực tiếp tác động đến năng lực, phẩm chất và bản lĩnh của học viên. Mục tiêu của giải pháp này nhằm hình thành đội ngũ nhà giáo vững chính trị, giỏi chuyên môn, tinh thông công nghệ, giàu sư phạm và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ thời kỳ hiện đại hóa quân đội.
Nội dung cơ bản của giải pháp này bao gồm: Chuẩn hóa tiêu chí tuyển chọn, đánh giá, bổ nhiệm giảng viên. Từng học viện, nhà trường cần có kế hoạch quy hoạch bồi dưỡng, xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên nói chung, trong đó phải chú trọng đầu tư xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành thành mũi nhọn của đơn vị mình và của toàn quân, đạt chuẩn ngang tầm quốc gia và quốc tế. Tổ chức các chương trình bồi dưỡng định kỳ về lý luận, phương pháp sư phạm, ngoại ngữ, tin học, chuyển đổi số. Chính sách khuyến khích nghiên cứu, sáng tạo, phong học hàm, học vị. Tăng cường hợp tác đào tạo giảng viên với học viện, trường đại học trong và ngoài quân đội.
Khó khăn chủ yếu trong thực hiện giải pháp này là: Thiếu nguồn giảng viên trẻ có trình độ cao, nhất là ở lĩnh vực công nghệ mới. Môi trường nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Cơ chế thu hút, đãi ngộ chuyên gia giỏi chưa thực sự hấp dẫn và chưa đồng đều giữa các nhà trường.
Cách thức tổ chức thực hiện: Bộ Quốc phòng phê duyệt quy hoạch phát triển đội ngũ nhà giáo đến 2035. Các học viện, trường sĩ quan chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hằng năm, đặc biệt phải có chiến lược thu hút, phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Thực hiện luân chuyển giảng viên giữa các nhà trường – đơn vị để gắn lý luận với thực tiễn. Gắn chỉ tiêu thi đua, khen thưởng với kết quả đổi mới giảng dạy và nghiên cứu.
5.3. Chuẩn hóa, hiện đại hóa và số hóa chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo
Đây là khâu đột phá trọng tâm, trực tiếp quyết định chất lượng đầu ra của người học và năng lực cạnh tranh của hệ thống giáo dục quân sự. Mục tiêu của giải pháp này nhằm xây dựng chương trình đào tạo chuẩn hóa, hiện đại, linh hoạt, mở và liên thông, bảo đảm đào tạo sát thực tế chiến đấu và yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ quân sự trong bối cảnh mới.
Nội dung cơ bản của giải pháp này bao gồm: Chuẩn hóa chuẩn đầu ra, khung chương trình theo vị trí chức danh quân sự. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, mô phỏng thực tế ảo trong dạy học. Phát triển hệ thống học liệu số, ngân hàng câu hỏi, nền tảng e-learning toàn quân. Tổ chức hội đồng chuyên môn rà soát, cập nhật nội dung giảng dạy định kỳ.
Khó khăn chủ yếu trong thực hiện giải pháp này là sự hạn chế về hạ tầng công nghệ, trang thiết bị số, đường truyền dữ liệu. Đội ngũ giảng viên chưa đồng đều về trình độ công nghệ thông tin. Thiếu hành lang pháp lý cho chuyển đổi số trong môi trường quân đội.
Cách thức tổ chức thực hiện: Xây dựng đề án “Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo quân đội đến 2035”. Bộ Quốc phòng đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, phần mềm quản lý, phòng học thông minh. Các nhà trường phối hợp với Tập đoàn Viettel, Học viện Kỹ thuật Quân sự triển khai công nghệ số hóa học liệu. Từng bước hình thành “nhà trường thông minh – quản lý thông minh – học viên thông minh”. Cục Quân huấn – Nhà trường định hướng cho các học viện, nhà trường quân đội nghiên cứu xây dựng chuẩn theo mô hình mở, thường xuyên cập nhật phát triển chuẩn theo yêu cầu của thực tiễn.
5.4. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong giáo dục – đào tạo quân sự
Đây là động lực phát triển bền vững, góp phần hình thành tư duy sáng tạo, năng lực thực hành và khả năng làm chủ công nghệ của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên. Mục tiêu của giải pháp này nhằm phát triển nhà trường quân đội trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ quốc phòng, phục vụ hiện đại hóa quân đội.
Nội dung cơ bản của giải pháp này bao gồm: Tăng cường đầu tư phòng thí nghiệm, mô hình mô phỏng chiến đấu. Khuyến khích các đề tài, sáng kiến kỹ thuật ứng dụng vào huấn luyện. Phối hợp giữa nhà trường – viện nghiên cứu – doanh nghiệp quân đội trong nghiên cứu công nghệ mới. Phát triển ngân hàng dữ liệu số và hệ thống chia sẻ tri thức toàn quân.
Khó khăn chủ yếu trong thực hiện giải pháp này là nguồn kinh phí nghiên cứu còn hạn chế. Một số đơn vị chưa gắn kết chặt giữa nghiên cứu với giảng dạy. Thiếu cơ chế khen thưởng, bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm khoa học.
Cách thức tổ chức thực hiện: Bộ Quốc phòng xây dựng Quỹ phát triển khoa học giáo dục quân sự. Cục Khoa học Quân sự và Cục Quân huấn – Nhà trường phối hợp triển khai các chương trình nghiên cứu trọng điểm. Định hướng cho các học viện, nhà trường có kế hoạch chiến lược về phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học. Tận dụng các thế mạnh của đơn vị mình, từng bước hiện đại hóa xây dựng các trung tâm nghiên cứu sáng tạo trọng điểm của quân đội và quốc gia trong lòng các nhà trường quân đội. Tổ chức các diễn đàn, hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quân. Gắn kết quả nghiên cứu với tiêu chí đánh giá, xét thi đua, phong quân hàm.
5.5. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức nhà trường quân đội
Đây là giải pháp có tính thể chế, bảo đảm sự thống nhất, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, điều hành hệ thống giáo dục quân sự. Mục tiêu của giải pháp này nhằm xây dựng mô hình quản lý tinh gọn, linh hoạt, hiện đại, thúc đẩy tự chủ và trách nhiệm giải trình trong tổ chức đào tạo.
Nội dung cơ bản của giải pháp này bao gồm: Rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản, quy chế đào tạo, kiểm định, đánh giá. Sắp xếp, quy hoạch lại mạng lưới học viện, trường sĩ quan theo hướng chuyên sâu, liên thông. Tăng cường phân cấp, ủy quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực. Đổi mới cơ chế tài chính, đầu tư, xã hội hóa giáo dục quân sự.
Khó khăn chủ yếu trong thực hiện giải pháp này là một số quy định còn chồng chéo, chưa phù hợp với cơ chế đặc thù quân đội. Tư duy quản lý hành chính còn nặng nề, ngại phân cấp. Nguồn lực đầu tư chưa đồng đều giữa các cơ sở đào tạo.
Cách thức tổ chức thực hiện: Quân ủy Trung ương chỉ đạo Bộ Quốc phòng ban hành Chiến lược phát triển hệ thống nhà trường quân đội đến năm 2045. Thực hiện thí điểm cơ chế tự chủ ở một số học viện lớn như Học viện Quốc phòng, Học viện Lục quân, Học viện Chính trị, Học viện Kỹ thuật Quân sự. Trước hết, cần rà soát sáp nhập trong nội bộ các nhà trường, học viện, trên cơ sở đó rà soát, sáp nhập các nhà trường của các quân, binh chủng, các trường sĩ quan sao cho phù hợp với mô hình nhà trường hiện đại và phù hợp tính đặc thù quân đội. Tổ chức sơ kết, tổng kết định kỳ để điều chỉnh kịp thời mô hình và chính sách.
5.6. Xây dựng môi trường sư phạm quân sự mẫu mực, nhân văn, hiện đại
Môi trường sư phạm là không gian văn hóa hình thành nhân cách, bản lĩnh, phẩm chất người sĩ quan và nhà giáo quân đội. Mục tiêu của giải pháp này nhằm tạo dựng môi trường “chính quy – mẫu mực – kỷ luật – nhân văn – sáng tạo”, góp phần xây dựng văn hóa quân sự thời kỳ mới.
Nội dung cơ bản của giải pháp này bao gồm: Xây dựng chuẩn mực hành vi, đạo đức, tác phong sư phạm. Đẩy mạnh phong trào “dạy tốt – học tốt – rèn luyện nghiêm”. Kết hợp giáo dục tri thức, thể chất, chính trị, thẩm mỹ, đạo đức. Xây dựng mô hình “Nhà trường văn hóa – Nhà giáo mẫu mực – Học viên tiêu biểu”.
Khó khăn chủ yếu trong thực hiện giải pháp này là một bộ phận học viên chịu ảnh hưởng mặt trái của mạng xã hội, công nghệ. Áp lực nhiệm vụ học tập, huấn luyện cao, dễ phát sinh vi phạm kỷ luật. Cơ sở vật chất văn hóa, thể thao ở một số đơn vị còn thiếu.
Cách thức tổ chức thực hiện: Cấp ủy, chỉ huy các cấp trực tiếp lãnh đạo xây dựng môi trường sư phạm quân sự, xây dựng các mối quan hệ kỷ cương, dân chủ, tập trung, đoàn kết, thống nhất. Đưa tiêu chí văn hóa sư phạm vào công tác đánh giá, xếp loại hàng năm. Kết hợp chặt giữa giáo dục chính trị – đạo đức với quản lý kỷ luật, dân chủ cơ sở. Đầu tư hệ thống nhà văn hóa, thư viện, khu thể thao, không gian xanh, tạo môi trường học tập thân thiện, chính quy.
5.7. Tăng cường kiểm tra, đánh giá và trách nhiệm giải trình
Đây là giải pháp bảo đảm chất lượng, kỷ cương và hiệu quả thực thi Nghị quyết 71-NQ/TW trong thực tế. Mục tiêu của giải pháp này nhằm thiết lập hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục quân sự minh bạch, khách quan, khoa học và thường xuyên.
Nội dung cơ bản của giải pháp này bao gồm: Ban hành bộ tiêu chí kiểm định chất lượng đào tạo trong quân đội trong kỷ nguyên mới. Thực hiện đánh giá đa chiều: người dạy – người học – đơn vị sử dụng. Tăng cường kiểm tra nội bộ, thanh tra giáo dục, giám sát công khai. Khen thưởng, xử lý nghiêm minh các tập thể, cá nhân vi phạm quy chế.
Khó khăn chủ yếu trong thực hiện giải pháp này là chưa có hệ thống dữ liệu đánh giá tự động, đồng bộ toàn quân. Một số đơn vị chưa coi trọng công tác kiểm định chất lượng. Thiếu nhân lực chuyên trách về kiểm định, đánh giá.
Cách thức tổ chức thực hiện: Cục Quân huấn – Nhà trường phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục quân sự. Ứng dụng công nghệ số trong thu thập, phân tích dữ liệu đánh giá. Thực hiện chế độ báo cáo, giải trình nghiêm túc, nghiêm minh theo đúng quy định. Tổ chức sơ kết, tổng kết, công bố kết quả kiểm định định kỳ. Gắn kết quả đánh giá với công tác quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW sẽ tạo đột phá toàn diện trong đổi mới giáo dục và đào tạo quân đội, góp phần trực tiếp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
6. Kết luận
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị ra đời trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là trước yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại vào năm 2030. Nghị quyết khẳng định giáo dục và đào tạo là khâu đột phá chiến lược, là nguồn lực cốt lõi để phát triển con người, nhân lực, nhân tài quân sự – yếu tố quyết định sức mạnh tổng hợp của quân đội.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW, hệ thống các nhà trường quân đội cần được nhận thức là trung tâm đổi mới, sáng tạo và chuyển giao tri thức quân sự hiện đại. Giáo dục, đào tạo trong quân đội phải được chuẩn hóa, hiện đại hóa, số hóa và hội nhập quốc tế, lấy chất lượng, hiệu quả, kỷ luật, trách nhiệm làm tiêu chí hàng đầu.
Các giải pháp trọng tâm như: Đổi mới tư duy giáo dục; Xây dựng đội ngũ nhà giáo quân đội vững mạnh; Hiện đại hóa chương trình và phương pháp đào tạo; Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số; Hoàn thiện thể chế và cơ chế quản lý giáo dục; Xây dựng môi trường sư phạm quân sự mẫu mực; Tăng cường kiểm định, đánh giá, trách nhiệm giải trình…đều mang tính đồng bộ, hệ thống và khả thi cao.
Thực hiện nghiêm túc, sáng tạo và quyết liệt các giải pháp này sẽ góp phần tạo bước chuyển căn bản về chất lượng đào tạo cán bộ, sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu hiện đại hóa quân đội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
Có thể khẳng định, quán triệt và thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị là nhiệm vụ chiến lược, cấp thiết và lâu dài đối với toàn quân. Đây không chỉ là sự tiếp nối tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, mà còn là bước phát triển mới, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế.
Thực hiện thắng lợi Nghị quyết 71-NQ/TW sẽ tạo bước đột phá mạnh mẽ trong xây dựng nền giáo dục quân sự tiên tiến, hiện đại, đậm bản sắc Việt Nam, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, giỏi về chiến thuật, tinh nhuệ về công nghệ, chính quy về tổ chức và hiện đại về phương pháp huấn luyện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ Quốc phòng (2021), Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong Quân đội đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
[2]. Bộ Quốc phòng (2023), Đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD trong Quân đội giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo”
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Hà Nội ngày 22/12/2024
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025
[5]. Quân ủy Trung ương (2022). Nghị quyết số 1652-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về lãnh đạo công tác khoa học quân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
[6]. Quân ủy Trung ương (2025), Nghị quyết Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025
THOROUGHLY GRASPING THE RESOLUTION NO. 71-NQ/TW OF THE POLITBURO ON BREAKTHROUGH DEVELOPMENT IN EDUCATION AND TRAINING: ORIENTATIONS FOR APPLICATION IN MILITARY SCHOOLS
Major General, Dr. Phung Thi Phu -
Deputy Director, Department of Military Training – Military Schools
Abstract: Resolution No. 71-NQ/TW (dated August 22, 2025) of the Politburo affirms that education and training constitute a top national policy, setting breakthrough goals to improve the quality of human resources, promote comprehensive innovation, and enhance national competitiveness. This article analyzes the core contents of the Resolution, assesses its significance to the national education system, and proposes directions for applying the Resolution in military schools. The proposed solutions are built on the particular characteristics of the army’s strategic missions, aiming to develop learners’ competencies and qualities in line with the requirements of building a regular, elite, and modern army.
Keywords: Resolution 71-NQ/TW, education and training, military schools, breakthrough, development, innovation.