Đại tá, TS Trần Xuân Phú
Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng
Cuối thập niên 30 của thế kỷ XX, ở Việt Nam, chính quyền phản động thuộc địa thực hiện chính sách cai trị thời chiến: vơ vét sức người, sức của đưa về chiến trường phương Tây; thủ tiêu mọi quyền lợi nhân dân ta đấu tranh giành được trong thời kỳ 1936 - 1939; tiến công vào phong trào cách mạng, trước hết nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương. Do chính sách thống trị tàn bạo của thực dân phản động Pháp, đời sống chính trị, kinh tế của các giai cấp, tầng lớp, các đảng phái và mỗi người Việt Nam đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Ngày 1-9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Lợi dụng tình thế chiến tranh, chính phủ các nước đế quốc thi hành chính sách phát xít ở cả chính quốc và thuộc địa. Chiến tranh thế giới mới diễn ra trên đất châu Âu, nhưng đã ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta, đặt ra cho Đảng Cộng sản Đông Dương những vấn đề mới cấp bách về lãnh đạo phong trào cách mạng. Chỉ hơn hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới bùng nổ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ sáu từ ngày 6 đến ngày 8 - 11 - 1939 tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định). Hội nghị chỉ rõ bản chất của cuộc Chiến tranh thế giới là cuộc chiến tranh “phản động”, “cướp bóc”, xâu xé lẫn nhau giữa hai tập đoàn đế quốc. Chiến tranh sẽ đưa thế giới trở thành “cái lò sát sinh lớn”, đẩy nhân loại vào hoàn cảnh “vô cùng thê thảm, nhưng chiến tranh cũng là biểu hiện một giai đoạn mới của cuộc tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản; tiền đồ cách mạng thế giới sẽ rất rực rỡ. Về tình hình Đông Dương, Hội nghị nhận định: “Những thảm trạng do đế quốc chiến tranh gây nên sẽ làm cho trình tự cấp tiến hóa và cách mệnh hóa của quần chúng hết sức mau chóng… lòng phẫn uất sẽ sôi nổi, cách mệnh sẽ nổ bùng”(1). Tình thế mới đã đặt ra trước mắt vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương. Muốn sống còn, nhân dân Việt Nam cũng như các dân tộc Đông Dương nói chung không còn con đường nào khác là phải vùng lên đánh đổ phát xít, thực dân giành chính quyền về tay nhân dân.
Tuy vẫn xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ là chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày, nhưng trước diễn biến mau lẹ của tình hình, Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định: “...lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”. Vấn đề dân tộc trở thành vấn đề khẩn cấp trước mắt, phải lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mạng, cả vấn đề ruộng đất cũng phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết”(2). Khẩu hiệu cách mạng ruộng đất lúc này tạm gác lại, khẩu hiệu lập chính quyền Xô-viết công, nông, binh được thay thế bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa.
Như vậy, về mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược, Đảng vẫn giữ vững, không thay đổi, nhưng về chỉ đạo chiến lược, từ Hội nghị Trung ương lần này, đã có sự chuyển hướng rất quan trọng: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Tháng 11 - 1940, Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh). Hội nghị khẳng định chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Hội nghị Trung ương sáu là đúng. Hội nghị nhận định: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập”(3).
Tháng 2 -1941, sau 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng ở ngoài nước, tháng 02-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 5- 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Pắc Bó (Cao Bằng). Hội nghị nhận xét tổng quát tình hình Đông Dương là: Đông Dương bị lôi cuốn vào vòng chiến tranh, làm cho kinh tế đổ nát, chính trị rối ren và cách mạng phát triển. Hội nghị nhận định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Pháp - Nhật và bọn tay sai đang áp bức, bóc lột vô cùng dã man đối với tất cả các tầng lớp nhân dân, quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật và vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Hội nghị chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc”(4); “...cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”(5). Hội nghị khẳng định tiếp tục giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, xác định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Đông Dương là giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách thống trị của Pháp - Nhật. Hội nghị Trung ương Tám quyết định thành lập mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Chủ trương của Việt Minh là: “Chủ trương liên hiệp hết thảy các từng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp - Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở”(6).
Như vậy, trước tình hình thế giới và trong nước có chuyển biến lớn, qua ba hội nghị Trung ương, Hội nghị Trung ương sáu là mở đầu, Hội nghị Trung ương bảy là tiếp tục và Hội nghị Trung ương tám là hoàn chỉnh, Đảng đã chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác các nhiệm vụ cách mạng khác. Cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc. Khi mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với phát xít, thực dân đã lên đến đỉnh điểm, Đảng giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc đã đáp ứng yêu cầu bức thiết của các tầng lớp và từng cá nhân đồng bào, nên cách mạng Việt Nam đã nhanh chóng chuyển sang một cao trào mới.
Hội nghị Trung ương Tám kết thúc, ngày 6 - 6 - 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi thư Kính cáo đồng bào. Trong thư, Người kêu gọi: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm… Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên!”(7).
Sau Hội nghị Trung ương Tám, phong trào cách mạng cả nước dâng lên mạnh mẽ. Các đoàn thể Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh: Công nhân cứu quốc hội, Nông dân cứu quốc hội, Thanh niên cứu quốc đoàn, Phụ nữ cứu quốc hội, Nhi đồng cứu vong đoàn, Văn nhân cứu quốc hội, Giáo viên cứu quốc hội, Học sinh cứu quốc đoàn, Hội Văn hoá cứu quốc…được thành lập. Tháng 6 - 1944, Đảng Dân chủ Việt Nam được thành lập và gia nhập Mặt trận Việt Minh. Với tôn chỉ mục đích là “đoàn kết với hết thảy các tầng lớp nhân dân và các đoàn thể cách mạng chân chính để phấn đấu giải phóng dân tộc”, Đảng Dân chủ đã tập hợp được nhiều trí thức yêu nước và tư sản tiến bộ vào hàng ngũ lực lượng chính trị của cách mạng, đánh bại âm mưu lôi kéo, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân của bọn đế quốc và tay sai. Mặt trận Việt Minh đã thực sự là Mặt trận dân tộc thống nhất tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân, theo ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, chuẩn bị và tiến hành Cách mạng Tháng Tám.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang từng bước được tổ chức để bảo vệ lực lượng chính trị, xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ở căn cứ địa Việt Bắc, đội Cứu quốc quân được thành lập và hoạt động có hiệu quả, tiếp đó, ngày 22 - 12 - 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, chiến đấu thắng lợi và phát triển nhanh chóng. Lực lượng Việt Minh và lực lượng vũ trang cách mạng là hai lực lượng căn bản chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.
Chập tối hôm 9 - 3 - 1945, phát xít Nhật đảo chính lật đổ chính quyền Pháp. Ngay tối hôm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Đình Bảng (Bắc Ninh) ra bản chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Bản chỉ thị nhận định cuộc đảo chính đã tạo nên tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc, làm cho điều kiện cuộc khởi nghĩa chóng chín muồi. Hội nghị quyết định phát động một cao trào chống Nhật, cứu nước trong toàn quốc, làm tiến đề cho cuộc tổng khởi nghĩa.
Từ tháng 3 - 1945, cách mạng Việt Nam tiến lên cao trào kháng Nhật, cứu nước. Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân (tháng 4 - 1945 thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân) từ căn cứ địa Việt Bắc tiến xuống phía Nam, đến đâu đều được lực lượng quần chúng nổi dậy phối hợp hoạt động xoá bỏ bộ máy thống trị của phát xít Nhật và bọn tay sai, thành lập chính quyền nhân dân. Nhiều căn cứ kháng Nhật trên những địa bàn chiến lược trong cả nước được xây dựng, Uỷ ban dân tộc giải phóng ở các địa phương được thành lập. Cả dân tộc ta gấp rút chuẩn bị những công việc cuối cùng, tạo và đón lấy thời cơ để vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Ngày 14 - 8 - 1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng Minh, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.
Dự báo trước diễn biến tình hình thế giới, từ ngày 13 - 8 đến ngày 15 - 8 - 1945, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang). Hội nghị nhận định điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi và cử ra Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc. Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc Quân lệnh số 1 phát lệnh tổng khởi nghĩa.
Ngày 16 - 8 - 1945, Đại hội quốc dân họp tại Tân Trào quyết định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đại hội quốc dân kết thúc, ngay trong ngày 16 - 8 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(8).
Cả dân tộc với quyết tâm “dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” như lời dạy của Bác Hồ, đã nhất tề vùng lên. Giữa tháng 8 - 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra trên phạm vi toàn quốc. Dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng và các Uỷ ban khởi nghĩa, 20 triệu đồng bào Việt Nam yêu nước, tạm gác đói nghèo, cùng những lợi ích trước mắt, kết đoàn lại vì mục tiêu chung bức thiết là độc lập dân tộc, nhất tề nổi dậy với khí thế mạnh mẽ, quyết liệt, áp đảo chiếm các công sở, lật đổ chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ toàn bộ bộ máy thống trị phát xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập chính quyền cách mạng trong hầu khắp các địa phương cả nước.
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu thật sự là nhân tố có vai trò quyết định nhất. Lịch sử dân tộc Việt Nam, đặc biệt lịch sử Cách mạng Tháng Tám để lại cho các thế hệ nối tiếp một bài học vô cùng sâu sắc: mỗi khi đất nước nguy nan thì độc lập dân tộc bao giờ cũng là ngọn cờ hiệu triệu màu nhiệm nhất huy động được sức mạnh cả nước vượt qua khó khăn, thử thách, giành thắng lợi cho dân tộc.
Tài liệu tham khảo
(1) (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 534, 538-539
(3) (4) (5) (6) Sách đã dẫn, tập 7, tr. 58, 113, 119, 149
(7) (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 320, 596.