PGS.TS. Phạm Văn Lực -
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tóm tắt: Bài viết trình bày khái quát về Khu tự trị Tây Bắc (1955 - 1975); chủ trương của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc; thành tựu và đóng góp của nền giáo dục cách mạng ở Tây Bắc (1955 - 1975). Trên cơ sở đó rút ra một số kết luận và bài học kinh nghiệm cho công cuộc phát triển văn hóa, giáo dục ở Tây Bắc và vùng đặc biệt khó khăn trong cả nước hiện nay.
Từ khóa: Hình thành và phát triển; Nền giáo dục cách mạng; Khu tự trị Tây Bắc
Nhận bài: 15/9/2025; Biên tập 22/9/2025; Duyệt đăng:24/9/2025
1. Đặt vấn đề
Nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc được hình thành trong thời kỳ từ 1955 đến 1975. Nhờ có nền giáo dục mới đã góp phần mang ánh sáng văn hóa của Đảng, Chính phủ đến các bản làng Tây Bắc xa xôi, xóa đi những tăm tối, nghèo nàn ở nơi được coi là “địa đầu” của Tổ quốc. Để làm rõ quá trình hình thành, phát triển, cùng những thành tựu của nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc trong thời kỳ này; bài tham luận tập trung làm rõ những nội dung: Khái quát về Khu tự trị Tây Bắc (1955 - 1975); chủ trương của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc; thành tựu và đóng góp của nền giáo dục cách mạng ở Tây Bắc (1955 - 1975). Trên cơ sở đó rút ra một số kết luận và bài học kinh nghiệm cho công cuộc phát triển văn hóa, giáo dục ở Tây Bắc và vùng đặc biệt khó khăn trong cả nước hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Khái quát về Khu Tự trị Tây Bắc (1955 - 1975)
Khu tự trị Tây Bắc khi thành lập gọi là Khu tự trị Thái - Mèo, theo Sắc lệnh số 230/SL, ngày 29/4/1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đến ngày 7/5/1955, Khu tự trị Thái - Mèo chính thức được công bố thành lập tại Thị xã Sơn La (nay là Thành phố Sơn La). Mục đích thành lập Khu tự trị Thái - Mèo được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Thư gửi đồng bào các dân tộc Tây Bắc (07/05/1955) là: “...làm cho các dân tộc anh em dần dần tự quản lí lấy mọi công việc, để thực hiện các dân tộc bình đẳng về mọi mặt. Khu tự trị Thái - Mèo là một bộ phận khăng khít trong đại gia đình Việt Nam, cùng với các dân tộc anh em khác đoàn kết thành một khối như ruột thịt. Nó sẽ luôn luôn được sự giáo dục và lãnh đạo của Đảng và Chính phủ và sự giúp đỡ của các dân tộc anh em khác. Khu tự trị Thái - Mèo của chúng ta ngày nay là dân chủ, do nhân dân làm chủ. Nó khác hẳn với “Xứ Thái tự trị” giả hiệu của địch mà mục đích là để chia rẽ áp bức các dân tộc” [10]
Về địa giới của Khu tự trị Thái - Mèo: Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây và Nam giáp Lào, phía Đông Nam giáp vùng Mường Hòa Bình, phía Đông có dãy núi Phanxipăng ngăn cách với các dân tộc tập trung ở lưu vực sông Hồng; gồm 16 châu: Mường Tè, Mường Lay, Sìn Hồ, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Sông Mã, Tuần Giáo, Thuận Châu, Mường La, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Phù Yên (tức toàn bộ hai tỉnh Sơn La, Lai Châu cũ). Ngày 13/05/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 231/SL chuyển hai huyện Văn Chấn, Than Uyên của tỉnh Yên Bái và huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai về Khu Tự trị Thái - Mèo. Diện tích của Khu tự trị lúc đó là 67.300 km², dân số 438.000 người (1).
Thời kỳ từ 7/5/1955 đến 10/1962, Khu tự trị không có cấp tỉnh, chỉ có 3 cấp: Khu, Châu và Xã. Xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở; Ban cán sự Đảng các châu trực thuộc Khu uỷ. Đến ngày 27/10/1962, theo Nghị quyết của Quốc hội khóa II, Khu Tự trị Thái - Mèo được đổi tên là Khu tự trị Tây Bắc, các tỉnh Sơn La, Lai Châu được tái lập và thành lập thêm tỉnh mới là Nghĩa Lộ (bao gồm Than Uyên, Mù Cang Chải, Văn Chấn và Phù Yên) thuộc Khu tự trị Tây Bắc.Từ 1963 đến 1975, Khu Tự trị có 4 cấp: Khu, Tỉnh, Châu (huyện) và Xã).
Cơ quan có quyền lực cao nhất ở mỗi cấp là Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân cấp nào bầu ra Uỷ ban hành chính cấp đó. Khu ủy Khu Tây Bắc (thành lập 17/07/1952) được chuyển thành Khu ủy Khu tự trị Thái - Mèo. Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Bắc (thành lập 1950) là cơ quan chỉ huy các lực lượng vũ trang của Khu tự trị Thái - Mèo.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, ngày 20/09/1975 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ Khu, hợp tỉnh (2). Tháng 12/1975, Quốc hội Việt Nam khóa V đã ra nghị quyết bãi bỏ cấp Khu trong hệ thống hành chính. Từ đó Khu tự trị Thái - Mèo sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển đến năm 1975 giải thể theo Thông tư hướng dẫn Số 335 - TTg ngày 28/10/1975 của Phủ Thủ tướng “Về việc giải thể cấp Khu và hợp Tỉnh (3).
2.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc (1955 - 1975)
2.2.1. Tình hình kinh tế - xã hội Tây Bắc sau khi Khu tự trị Tây Bắc được thành lập.
Sau khi Khu tự trị Tây Bắc được thành lập (7/5/1955), mặc dù được Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, nhưng Tây Bắc vẫn trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu. Phần lớn người dân đi sơ tán trong thời kỳ chiến tranh mới trở về quê cũ, ruộng đất hoang hóa, cuộc sống chưa ổn định; đói kém thiếu lương thực diễn ra ở cả vùng thấp (trong đồng bào Thái) cũng như ở vùng cao trong các dân tộc: Mông, Kháng, Mảng, Lào, Lự, Hà Nhì, Khơ Mú… Trong thời kỳ này, Ủy ban Hành chính các tỉnh Tây Bắc đã phải kêu gọi đồng bào tương trợ giúp đỡ lẫn nhau và xin hỗ trợ của Nhà nước để “cứu đói”, “cứu rách” cho đồng bào các dân tộc, nhất là ở vùng cao (4).
Cùng với đói kém là tình trạng mù chữ, thất học trong nhân dân; vẫn còn trên 90% con em các dân tộc Tây Bắc mù chữ, thất học; số người thông thạo tiếng phổ thông rất ít. Năm 1955, cả khu Tây Bắc mới có 60 điểm trường cấp 1 không hoàn chỉnh, với 129 lớp, nhưng hầu hết là lớp 1 và lớp 2; tổng số học sinh theo học là 2.184 em (5). Trước tình hình đó, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời có chủ trương đúng đắn, sáng suốt để xây dựng nền giáo dục mới nhằm xóa bỏ tình trạng nghèo nàn, thất học trong đồng bào các dân tộc Tây Bắc.
2.2.2. Chủ trương của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc.
Để tiến tới xây dựng nền giáo dục cách mạng ở Tây Bắc, tại Hội nghị lần thứ 14 (11/1958) Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết về phát triển kinh tế, văn hóa ở các tỉnh miền núi của miền Bắc (trong đó có Khu tự trị Thái - Mèo) giai đoạn 1958 - 1960. Ngày 7/5/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn công tác của Chính phủ đã lên thăm đồng bào các dân tộc Tây Bắc và Người căn dặn các cấp chính quyền cần quan tâm: “Phát triển bình dân học vụ khắp nơi, làm thêm nhà trường cho con em có chỗ học...”(6). Thực hiện chỉ huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 15/8/1959, Phủ Thủ tướng ra Thông tư Số 3116-A7, quyết định điều động giáo viên cấp 1,2,3 ở các tỉnh miền xuôi lên miền núi công tác.
Chủ trương đúng đắn của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Khu ủy và Ủy ban Hành chính Khu tự trị Thái - Mèo, cùng Tỉnh ủy - Ủy ban Hành chính các tỉnh Tây Bắc và các tỉnh miền xuôi nhanh chóng triển khai thực hiện. Tháng 9/1959, Phong trào xung phong lên phát triển văn hóa giáo dục miền núi, nhất là ở Tây Bắc được phát động; nhiều cán bộ, giáo viên miền xuôi đã hăng hái xung phong lên phát triển văn hoá giáo dục ở Tây Bắc. Đây chính là cơ sở nền tảng để hình thành nền giáo dục cách mạng ở Tây Bắc, nhằm xóa đi nghèo nàn lạc hậu ở vùng đất biên cương Tây Bắc, nơi được coi là “địa đầu” của Tổ quốc.
2.3. Thành tựu của nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc (1955 - 1975)
Nhờ có chủ trương đúng đắn, sáng suốt của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1955 đến 1975, nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc từng bước được hình thành, phát triển và đạt được những thành tựu như sau:
2.3.1. Về đội ngũ giáo viên. Đội ngũ giáo viên là một nhân tố có tính chất quyết định đối với một nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc sau năm 1955. Ngày 15/8/1959, Phủ Thủ tướng ra Thông tư Số 3116-A7 quyết định điều động giáo viên cấp 1,2,3 ở các tỉnh miền xuôi lên miền núi công tác. Tháng 9/1959 đã có 860 giáo viên của 11 tỉnh miền xuôi đã xung phong lên phát triển văn hóa giáo dục ở Tây Bắc (7). Các giáo viên được học tập chính trị 1 tháng (từ 15/9/1959 đến 15/10/1959) tại Trường Bổ túc Công nông Trung ương ở Giáp Bát (Hà Nội) và lớp học đã vinh dự được đón Bác Hồ đến thăm hỏi và động viên (ngày 22/9/1959), trong bài nói chuyện Người căn dặn: “Công tác ở miền núi có nhiều khó khăn, các cô, các chú xung phong gánh lấy những khó khăn để làm công tác giáo dục ở miền núi, thế là tốt, là vẻ vang. Nhưng các cô chú cần xung phong đến nơi đến chốn.Cần có tinh thần bền bỉ, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ” (8).
Trong số 860 giáo viên năm đó, có hơn 100 giáo viên được phân về công tác ở các huyện: Đà Bắc, Lạc Thủy, Lạc Sơn, Mai Châu của tỉnh Hòa Bình. Còn lại, hầu hết lên nhận công tác ở 16 châu của Khu tự trị Thái - Mèo (sau đổi tên là Khu tự trị Tây Bắc), đó là: Mường Tè, Mường Lay, Sình Hồ (nay viết là Sìn Hồ), Điện Biên, Quỳnh Nhai, Sông Mã, Tuần Giáo, Thuận Châu, Mường La, Mai Sơn, Yên Châu,Mộc Châu, Phù Yên (cả Bắc Yên), Phong Thổ (thuộc tỉnh Lào Cai), Than Uyên, Văn Chấn (thuộc tỉnh Yên Bái). Riêng 6 châu của tỉnh Sơn La (tái lập năm 1963) có 137 giáo viên miền xuôi lên công tác (sau khi hoàn thành nhiệm vụ, 102 giáo viên đã chuyển về xuôi chỉ còn 35 người là bám trụ lâu dài cho đến ngày nay.
Các châu của tỉnh Lai Châu cũ (tái lập 1963) đã đón nhận 211 giáo viên miền xuôi lên công tác. Tỉnh Nghĩa Lộ đón nhận 110 giáo viên miền xuôi lên công tác; riêng huyện Mù Cang Chải đón nhận 14 giáo viên (9), số giáo viên còn lại được điều lên công tác tại tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai.
Cùng với phong trào vận động giáo viên miền xuôi tình nguyện lên công tác ở Tây Bắc, Đảng và Chính phủ cũng đặc biệt chú trọng đến công tác đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ cho các tỉnh Tây Bắc. Ngày 30/6/1960,Bộ Giáo dục đã ký Quyết định số 267 thành lập Trường Sư phạm cấp II, Khu tự trị Thái - Mèo (năm 1981 nâng cấp là Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, năm 2001 nâng cấp thành Trường Đại học Tây Bắc ngày nay) (10). Ngay sau khi thành lập, Trường đã mở được 5 lớp ngắn hạn, đào tạo cấp tốc (3 tháng, 6 tháng) được trên 200 giáo viên cấp 1, kịp thời bổ sung vào đội ngũ giáo viên các tỉnh Tây Bắc lúc đó. Do nhu cầu đội ngũ giáo viên ngày một tăng, Khu ủy Khu tự trị Tây Bắc đã chỉ đạo Ủy ban Hành chính các tỉnh Tây Bắc nhanh chóng thành lập các Trường Trung học Sư phạm của tỉnh. Quán triệt chủ trương của Khu ủy, Trường Trung học Sư phạm Nghĩa Lộ được Ủy ban Hành chính tỉnh Nghĩa Lộ ra quyết định thành lập đầu tiên vào tháng 12/1962. Đến ngày 22/7/1963, Ủy ban Hành chính tỉnh Lai Châu ra quyết định thành lập Trường Trung học Sư phạm Lai Châu. Ngày 15/10/1963, Ủy ban Hành chính tỉnh Sơn La quyết định thành lập Trường Trung học Sư phạm Sơn La...(11)
Từ năm 1960, tiếp tục có 7 đợt, tổng số 246 giáo viên ở Nam Hà, Hà Tây, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… xung phong lên Tây Bắc. Năm học 1960 - 1961, tỉnh Sơn La được bổ sung thêm 51 giáo viên miền xuôi, tỉnh Lai Châu là 61 giáo viên; các châu của Nghĩa Lộ, Yên Bái và Lào Cai cũng được tăng cường thêm hơn 100 giáo viên.
Bên cạnh đội ngũ giáo viên được tăng cường từ dưới xuôi lên, đến 1970, 4 trường sư phạm của Khu (Trường Sư phạm cấp II Tây Bắc, Trường Trung học Sư phạm Sơn la, Trường Trung học Sư phạm Lai Châu, Trường trung học Sư phạm Nghĩa Lộ) cũng đào tạo được hàng nghìn giáo viên cấp 1, cấp 2. Nhờ vậy, đội ngũ giáo viên phổ thông ở Tây Bắc đến năm học 1974 - 1975 đã có trên 4.000 giáo viên các cấp, trong đó có 13 trường cấp 3, với tổng số 241 giáo viên (12). Với đội ngũ giáo viên đó đã đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục ở Tây Bắc, nhất là đối với các huyện vùng sâu, xùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
2.3.2. Về hệ thống trường, lớp và tỷ lệ học sinh đến trường. Do được tăng cường đội ngũ giáo viên, từ năm 1965, giáo dục phổ thông các tỉnh thuộc Khu tự trị Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu, Nghĩa Lộ) có sự phát triển mạnh mẽ: hệ thống giáo dục phổ thông đã được hình thành, phát triển ở cả ba cấp học, cấp 1, 2 (ở các xã, bản), cấp 3 (huyện, thị); trong đó có cả các trường phổ thông dân tộc nội trú (dành riêng cho con em dân tộc Mông), các trường bổ túc văn hóa. Đến năm 1975, toàn Khu đã có 13 trường cấp 3 (Lai Châu có 4 trường cấp 3 (13), Sơn La có 5 trường cấp 3 (14), Nghĩa Lộ 4 trường cấp 3 (15)); số lượng học sinh trong độ tuổi đến lớp ở các tỉnh trong Khu tự trị đều đạt trên 95% (riêng Sơn La đã có 5 vạn người được xóa mù, 2 vạn người theo học bổ túc, cứ 1.000 dân có 65 học sinh) (16).
Bảng 1. Tổng số các trường phổ thông cấp 1,2,3 và trường phổ thông dân tộc nội trú, trường bổ túc văn hóa ở Khu tự trị Tây Bắc tính đến năm học 1974 - 1975
|
Trường/lớp |
Số lớp |
Số học sinh |
Ghi chú |
|
Vỡ lòng |
2181 |
49.982 |
|
|
Mẫu giáo |
1974 |
3.720 |
|
|
Trường cấp 1 |
449 |
24.989 |
|
|
Trường cấp 2 |
107 |
14.462 |
|
|
Trường cấp 3 |
13 |
2.193 |
|
|
Trường bổ túc văn hóa |
26 |
4.7000 |
|
|
Trường PTDTNT |
7 |
400 |
Trường dành cho con em dân tộc Mông học từ vỡ lòng đến hết cấp 2 |
Tây Bắc trên 30 dân tộc thiểu số, bên cạnh các trường phổ thông cấp 1,2,3, hệ thống Trường PTDTNT dành cho con em dân tộc Mông trong Khu tự trị Tây Bắc tham gia học tập, rèn luyện. Ngoài ra, các trường bổ túc văn hóa cũng được hình thành ở hầu khắp các châu (huyện), cơ quan, nhà máy, xí nghiệp.
2.3.3. Nội dung chương trình, sách giáo khoa và cơ quan quản lý giáo dục địa phương
*Về nội dung chương trình: Là một đơn vị hành chính của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên chương trình giáo dục của Khu tự trị Tây Bắc chính là Chương trình giáo dục Quốc gia lúc bấy giờ. Chữ Quốc ngữ được sử dụng chung trong tất cả các trường học của miền Bắc, trong đó có các trường phổ thông ở Khu tự trị Tây Bắc, trên quan điểm giáo dục của Đảng là: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng; nguyên tắc và nội dung giáo dục toàn diện, bao gồm các môn học khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và rèn luyện sức khỏe, luân lý, đạo đức. Các kỳ thi chuyển khối lớp, học kỳ và thi tốt nghiệp cấp 1, cấp 2 và cấp 3 theo quy định chung của Bộ Giáo dục. Đặc biệt, trong Khu tự trị Tây Bắc có trên 30 dân tộc thiểu số sinh sống, nhất là đối với đồng bào Thái, đồng bào Mông lại có chữ viết riêng (17), do đó từ năm 1954, Ủy Ban hành chính Khu đã cho cải tiến chữ Thái và chữ Mông để dạy cho con em ở cấp 1 nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Quá trình cải tiến chữ Thái cổ, chữ viết của dân tộc Mông diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Khu ủy và UBHC Khu tự trị Tây Bắc, cụ thể như sau:
- Từ năm 1954, chữ Thái được thống nhất; sau đó đến năm 1959, chữ Thái được cải tiến theo các tài liệu về chữ viết người Thái. Đến năm 2008, chữ Thái cải tiến mới đã chính thức được đưa vào sử dụng.
- Đối với chữ viết của dân tộc Mông. Chữ Mông ở Việt Nam, hay còn gọi là chữ H'Mông, đã được cải tiến và chính thức công nhận vào năm 1961. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 206/CP ngày 27/11/1961 phê chuẩn phương án chữ Mông dựa trên ký tự Latin. Bộ chữ này được xây dựng dựa trên ngữ âm của ngành Mông Lềnh ở Sa Pa, Lào Cai và có bổ sung thêm một số âm vị của các ngành Mông khác. Trước đó, người Mông đã có các hệ thống chữ viết riêng nhưng chưa được chính thức công nhận và sử dụng rộng rãi. Việc ban hành chữ Mông chính thức vào năm 1961 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa của người Mông tại Việt Nam.
*Về công tác quản lý giáo dục địa phương: Bên cạnh cơ quan quản lý, chỉ đạo toàn diện về tất cả các mặt của Bộ Giáo dục, từ năm 1960 trước sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống giáo dục phổ thông các tỉnh Tây Bắc, đã đặt ra vấn đề phải tăng cường công tác quản lý tại địa phương từ Khu, Tỉnh đến huyện. Khu, Sở giáo dục Khu tự trị Tây Bắc được hình thành với nhiệm vụ kết hợp cùng với Bộ Giáo dục chỉ đạo quản lý giáo dục toàn diện cả về công tác tổ chức, đội ngũ giáo viên, hệ thống trường lớp, nội dung chương trình, thi học kỳ, chuyển hệ và thi tốt nghiệp... của các trường trong tỉnh và Khu.
Từ 1962, các tỉnh Sơn La, Lai Châu trong Khu tự trị Thái - Mèo được tái lập, đồng thời với đó các ty giáo dục cũng được thành lập. Ngày 01/6/1963, Ty Giáo dục Lai Châu được thành lập; cuối năm 1963, Ty Giáo dục Sơn La và Ty Giáo dục tỉnh Nghĩa Lộ cũng được thành lập. Sau đó, do sự phát triển của nền giáo dục mới, đến năm 1975 các phòng giáo dục ở tất cả các châu (huyện) trong Khu tự trị Tây Bắc cũng được thành lập.
Như vậy, đến năm 1975 nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc đã được hình thành và phát triển một cách hệ thống, đồng bộ ở cả 3 cấp học (cấp 1, cấp 2, cấp 3) từ tỉnh, đến các châu (huyện), thôn (bản); đặc biệt với sự hình thành hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, chỉ dành cho con em dân tộc Mông và các trường bổ túc văn hóa dành cho những người lao động học ban đêm; hoặc thứ 7, chủ nhật... đã tạo cơ hội cho tất cả con em đồng bào các dân tộc trong Khu đều được đi học. Điều đó thể hiện tính ưu việt của nền giáo dục cách mạng mà Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng ở Khu tự trị Tây Bắc từ năm 1955 đến năm 1975.
3. Kết luận và bài học kinh nghiệm
Nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc từ 1955 đến 1975 được xây dựng trên cơ sở nền tảng tư tưởng của Đảng: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng và nguyên tắc giáo dục toàn diện, gắn học đi đôi với hành... Đây là nền giáo dục mới, hoàn toàn khác với cách dạy chữ Thái cổ của các Mo Mường người Thái và mục đích giáo dục của một số lớp Pháp - Việt ở Tây Bắc thời Pháp thuộc trước đây.
Sự hình thành nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc không chỉ chấm dứt tình trạng mù chữ, thất học, mang đến quyền được đi học cho tất cả các dân tộc, mà còn góp phần xóa đi những tăm tối, nghèo nàn, lạc hậu ở Tây Bắc. Nhờ có nền giáo dục cách mạng, trực tiếp là đội ngũ các thầy, cô giáo với tình thương, trách nhiệm và sự nhiệt huyết đã khơi dậy và thắp lên được “ngọn lửa” của lòng hiếu học trong đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc.
Từ thực tế quá trình xây dựng nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc (1955 - 1975), một số bài học kinh nghiệm được rút ra như sau:
Một là: Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh được triển khai một cách đồng bộ, sáng tạo từ Trung ương đến cơ sở, phù hợp với thực tế của địa phương miền núi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Đó là nhân tố có tính chất quyết định đối với thắng lợi của công cuộc phát triển văn hóa, giáo dục ở Tây Bắc thời kỳ này.
Hai là: Thực tế quá trình xây dựng nền giáo dục cách mạng ở Khu tự trị Tây Bắc cho thấy, muốn phát triển giáo dục ở Tây Bắc nói riêng, các tỉnh vùng núi đầy khó khăn, thử thách nói chung, không phải chỉ cần những giáo viên giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề: “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Chỉ có tình thương yêu học sinh, tận tâm, tận lực, bám trường, bám lớp, khéo léo vận động đồng bào các dân tộc, giàu nghị lực vượt khó, năng động sáng tạo, không ngừng học hỏi vươn lên… mới có thể trụ vững lâu dài ở Tây Bắc và các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của miền núi.
Ba là: Phải thống nhất quan điểm: “Dạy tốt”, “Học tốt” không chỉ là phong trào thi đua mà còn là yêu cầu, giá trị, mục tiêu của giáo dục ở tất cả các cấp học trong cả nước cũng như của Tây Bắc. Vì thế, trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào, dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua “Dạy tốt”, “Học tốt”; chớ vì khó khăn “đặc thù” của Tây Bắc, của miền núi mà coi nhẹ vấn đề này.
Bốn là: Thực hiện quyết liệt phấn đấu duy trì được sĩ số đối với giáo dục vùng cao nói chung, Tây Bắc nói riêng không chỉ có ý nghĩa chính trị - xã hội lớn lao mà còn là sự đảm bảo cho giáo dục vùng cao có thể phát triển bền vững và không ngừng nâng cao được chất lượng dạy học; trên cơ sở đó mới có thể từng bước nâng cao được dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo nhân tài trong con em các dân tộc thiểu số. Đây cũng chính là thách thức lớn nhất của giáo dục Tây Bắc nói riêng, các vùng sâu, vùng xa ở nước ta nói chung trước đây cũng như hiện nay, nhất là trong kỷ nguyên số hiện nay.
Năm là: Phát triển giáo dục vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đòi hỏi phải tận tụy, bền bỉ, sáng tạo và quyết tâm rất cao. Gắn bó với đồng bào các dân tộc, yêu thương và thấu hiểu những khó khăn, những thiệt thòi của người dân và trẻ em vùng cao, khéo vận động, tìm ra những giải pháp phù hợp với từng vùng, từng cộng đồng dân tộc, cụ thể hóa thành biện pháp linh hoạt của người quản lý, thành thao tác và kỹ năng trong tuyên truyền vận động, trong giảng dạy và trong ứng xử khéo léo của từng nhà giáo. Đến với dân, gần gũi dân, chiếm được lòng tin của dân, thu hút được học sinh đến lớp và duy trì tỉ lệ chuyên cần là điều kiện tiên quyết đầu tiên của sự thành công.
Sáu là: Hệ thống trường lớp ở vùng cao không nhất thiết cứ phải xây dựng thật hoành tráng mà cần phải được quy hoạch, xây dựng một cách hợp lý với địa hình, công năng phải tiện dụng, phù hợp với sự phát triển quy mô đào tạo của từng cấp học và điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương.
Tài liệu tham khảo
1. Báo cáo nhiệm kỳ hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban Hành chính Khu tự trị Tây Bắc khoá V; Tài liệu lưu tại Văn phòng UBND tỉnh Sơn La.
2. 35 năm thầm lặng những "chuyến đò”, Báo điện tử tỉnh Điện Biên, 20/11/2017.
3. Nguyễn Thanh Đàm: Họ đã “xung phong đến nơi đến chốn”,kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ thăm Yên Bái (25/9/1958 - 25/9/2018),Báo Yên Bái ngày 10-8-2018.
4. Đình Tứ: “50 năm - một chặng đường đầy khó khăn đối với sự nghiệp phát triển giáo dục ở vùng cao Mù Cang Chải”, Báo điện tử Yên Bái ngày 18-11-2009.
5. Thông tư Số 3116-A7, ngày 15-8-1959 của Phủ Thủ tướng Về việc điều động giáo viên Cấp 1,2,3 ở các tỉnh miền xuôi lên miền núi công tác, Tài liệu lưu tại Văn phòng Phủ Thủ tướng Chính phủ.
6. Vi Văn An, Nguyễn Văn Huy (2010): “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, NXB Giáo dục, Hà Nội.
7. Tài liệu của Trung tâm lưu trữ quốc gia III - Phông Tây Bắc, Hồ sơ số 6165.
8. Trần Luyến, “Diễn văn kỷ niệm và vinh danh đoàn Nhà giáo năm 1959 lên công tác ở Sơn La” (Nhân kỷ niệm 50 năm đoàn Nhà giáo năm 1959 lên công tác ở Sơn La, Tài liệu lưu tại Hội khuyến học tỉnh Sơn La.
9. Vương Kiêm Toàn (1986), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp chống nạn thất học, nâng cao dân trí”, NXB Giáo dục, Hà Nội.
10. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La 1954 - 1975 (tập 2), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.
11. Thư Bác Hồ gửi đồng bào các dân tộc Tây Bắc nhân dịp thành lập Khu tự trị Thái - Mèo 7-5-1955, Tài liệu lưu tại Bảo tàng tỉnh Sơn La.
12. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu 1945 - 1975 (tập 1), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999.
13. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1,4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
14. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7,9, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
15. Quyết định thành lập Trường cấp II Khu tự trị Thái - Mèo, Tài liệu lưu trữ tại trường Đại học Tây Bắc.
Chú thích
(1) Báo cáo chính trị trong Lễ công bố Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập Khu Tự trị Thái - Mèo tại thị xã Sơn La, ngày 7/5/1955. Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, Phông Tây Bắc, hồ sơ số 1029.
(2) Nghị quyết số 245-NQ/TW ngày 20/9/1975 “Về việc bỏ Khu, hợp tỉnh”, Tài liệu lưu Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, phông Bộ Nội vụ, hồ sơ 547
(3) Phủ Thủ tướng, Số 335- TTg, ngày 28/10/1975, Thông tư hướng dẫn việc giải thể cấp Khu và hợp Tỉnh. Tài liệu lưu Văn phòng Phủ Thủ tướng.
(4) Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La 1954-1975 (tập 2). NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1994, trang 12
(5) Số liệu tổng hợp từ các báo cáo, nghị quyết, chương trình công tác năm 1955, 1956, 1957 - Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Sơn La
(6) Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tập 9, trang 436
(7) 11 tỉnh đó là: Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nam, Hà Nội, Hà Đông, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc.
(8) Nguyễn Thanh Đàm: Họ đã “xung phong đến nơi đến chốn”. Hướng tới kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ thăm Yên Bái (25/9/1958 - 25/9/2018).Báo Yên Bái ngày 10-8-2018
(9) Đình Tứ: “50 năm - một chặng đường đầy khó khăn đối với sự nghiệp phát triển giáo dục ở vùng cao Mù Cang Chải”. Báo điện tử Yên Bái ngày 18-11-2009.
(10) Quyết định thành lập Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái – Mèo (nay là Trường Đại học Tây Bắc). Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III, Phong Tây Bắc, Số hồ sơ 2031.
(11) Tài liệu lưu tại Trường CĐ Điện Biên (trước là Trường TH Sư phạm Lai Châu) và Trường CĐ Sơn La (trước là Trường TH Sư phạm Sơn La)
(12) Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Khu năm 1974, 5/1975, Tài liệu lưu tại Văn phòng UBND tỉnh Sơn La.
(13) Trường THPT (Trung học phổ thông) Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, được thành lập vào năm 1962. Trường THPT thị xã Mường Lay (Điện Biên), tiền thân là trường cấp II - III Lai Châu, được thành lập năm 1963. Trường THPT Tuần Giáo (Điện Biên được) thành lập vào tháng 9 năm 1966, với tên ban đầu là trường cấp 2-3 Tuần Giáo. Trường THPT Phong Thổ thành lập năm 1967…
(14) Trường THPT Tô Hiệu, TP Sơn La được thành lập năm 1961. Đây là trường THPT đầu tiên của tỉnh Sơn La. Trường THPT Mộc Lỵ (tiền thân là Trường cấp 3 Mộc Châu) được thành lập vào năm 1963. Trường THPT Thuận Châu, tỉnh Sơn La được thành lập vào năm 1966. Trường cấp 3 Mai Sơn, tỉnh Sơn La, được thành lập vào năm 1969. Trường THPT Sông Mã (Sơn La) được thành lập vào ngày 19 tháng 12 năm 1964. Trường được thành lập với tên gọi ban đầu là Trường cấp II-III Sông Mã.
(15) Trường THPT Mường Lò, nay là Trường THPT Thị xã Nghĩa Lộ, thành lập vào ngày 14/10/1961. Trường THPT Phù Yên, tỉnh Sơn La thành lập năm 1964. Trường THPT Than Uyên thành lập vào ngày 15/10/1973. Trường THPT huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, được thành lập vào năm 1972
(16) Tổng hợp số liệu từ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La 1954-1975 (tr.85) và Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu 1945-1975 (tr.282)
(17) Chữ viết của đồng bào Thái là chữ Thái cổ; chữ viết của đồng bào Mông là chữ Mông