SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM – NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975

TCGCVN - Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc như một trong những chiến công rực rỡ nhất, một biểu tượng

TCGCVN - Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc như một trong những chiến công rực rỡ nhất, một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.

Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (khóa III) bàn về giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc họp ngày 18/12/1974 - 8/1/1975.

Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (khóa III) bàn về giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc họp ngày 18/12/1974 - 8/1/1975.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là thắng lợi của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta; là thành quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó, nhân tố quan trọng và quyết định nhất là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định Đại thắng mùa Xuân 1975 được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:

Một là, Đảng đã nắm chắc tình hình, kịp thời đề ra chủ trương, quyết tâm chiến lược đúng đắn, kịp thời giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn

Sau Hiệp định Paris năm 1973, Mỹ phải rút hết quân đội ra khỏi miền Nam. Cục diện chính trị, quân sự ở miền Nam Việt Nam vào thời điểm này có nhiều biến đổi lớn, với sự tồn tại hai vùng, do hai chính quyền quản lý: vùng chưa giải phóng do chính quyền và quân đội Sài Gòn quản lý; vùng giải phóng do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và quân Giải phóng quản lý. Mặc dù đã chấp nhận ký Hiệp định Paris, nhưng khi thực hiện Hiệp định, chính quyền và quân đội Sài Gòn liên tiếp vi phạm,. Chúng tăng cường mở các cuộc hành quân nhằm chiếm đất, giành dân ở vùng giải phóng, buộc quân Giải phóng phải đánh trả để bảo vệ vùng giải phóng, giữ vững hiện trạng. Mỹ tuy rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng vẫn tiếp tục giúp đỡ, viện trợ về quân sự, kinh tế cho chính quyền Sài Gòn hòng duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam.

Trước âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, cách mạng miền Nam có những khó khăn mới, nhất là cần có sự thống nhất nhận thức và xác định rõ hơn con đường phát triển và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Đáp ứng đòi hỏi đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 (khóa III) đã họp ra Nghị quyết “Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới” trong đó đề ra quyết sách chiến lược cho cách mạng miền Nam để đi tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hội nghị chỉ rõ: “Trong mỗi khả năng phát triển của tình hình, sẽ còn có nhiều tình huống phức tạp… Ta phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó chắc thắng với khả năng xấu nhất là địch gây lại chiến tranh” [2, Tr. 160]. Đồng thời, Trung ương khẳng định “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên” [2, tr.232]; với phương hướng là “Chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn” [2, tr.239]. Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 21 nhanh chóng được quán triệt trong toàn Đảng, nhất là với Trung ương Cục và các đảng bộ ở miền Nam.

Đặc biệt, nhờ bám sát tình hình chiến trường, vào cuối năm 1974, đầu năm 1975, liên tiếp trong tháng 10 và tháng 12/1974, Bộ Chính trị đã họp, đề ra chủ trương và hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm (1975-1976): “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975 - 1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam” [6, tr.742]. Đồng thời, chuẩn bị một phương án khác để lợi dụng thời cơ với phương hướng hành động là: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975” [1, tr.283]. Đây chính là chủ trương, quyết tâm chiến lược hết sức đúng đắn, được Đảng đề ra kịp thời để giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn - yếu tố quyết định trước tiên để làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 .

Hai là, phát hiện đúng thời cơ và Đảng kịp thời lãnh đạo chớp thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Chọn thời cơ, chớp lấy thời cơ có tầm quan trọng đặc biệt để bảo đảm kết thúc chiến tranh đúng lúc và đúng cách. Muốn có thời cơ, thì phải biết tạo thời cơ và khi thời cơ xuất hiện phải nắm vững, tận dụng và tranh thủ thời cơ không được bỏ lỡ. Nguyễn Trãi, nhà chiến lược lớn của dân tộc cho rằng: “Người giỏi dùng binh là ở chỗ biết rõ thời thế. Được thời, có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hoá ra lớn; mất thời, không thế, thì mạnh hoá yếu, yên hoá ra nguy; sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay” [8, tr.132].

Nhận thức rõ tầm quan trọng này, trong những năm 1973-1974, khi chuẩn bị kế hoạch chiến lược cho 2 đến 3 năm tiếp theo, vấn đề thời cơ đã được Đảng ta đề cập đến. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 đã đánh giá: “…thế và lực của cách mạng miền Nam lúc này mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào từ năm 1954 đến nay. Khi Mỹ đã rút đi, ta càng mạnh. Từ chỗ đánh giá như vậy, Hội nghị chỉ rõ thời cơ chiến lược sẽ đến” [7, tr.80]. Tiếp đó, tháng 10/1974, Bộ Chính trị họp, nhất trí duyệt kế hoạch chiến lược do Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị. Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu phải có kế hoạch tạo thời cơ và đón thời cơ, nhất là khi Nguyễn Văn Thiệu đổ. Trong bất cứ tình huống nào cũng không được bở lỡ thời cơ khi thời cơ chiến lược xuất hiện. “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975” [7, tr.138].

Trong cuộc họp ngày 18/12/1974 của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã đề xuất: Thời cơ lúc đầu có thể đến với mức bình thường. Nhưng nếu ta lợi dụng tốt, sẽ tạo nên thời cơ mới cao hơn và từ đó phát triển thành thời cơ đột biến…Có thể ta tiêu diệt địch ở Buôn Ma Thuột, chúng sẽ dao động rối loạn, lúc đó ta phải chớp lấy thời cơ giải phóng Huế, nếu lúc đó ta chậm chân, mệt mỏi, để mùa mưa mà đến thì lỡ mất thời cơ. Chúng ta phải chủ động tạo ra thời cơ chứ không thể bị động ngồi chờ. Khi thời cơ đến thì phải kiên quyết, kịp thời chớp lấy thời cơ.

Trước sự phát triển nhanh chóng trên chiến trường miền Nam với chiến thắng Phước Long, ngày 8/1/1975 Bộ Chính trị ra nghị quyết và chỉ rõ: Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, đồng thời có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước. Nghị quyết chỉ rõ: Cả năm 1975 là thời cơ, đòn tiến công quân sự mạnh là thời cơ, phong trào chính trị thúc đẩy thời cơ, tình hình thế giới và nội bộ nước Mỹ là thời cơ, từ bình thường, đến vừa, đến cao, đến đột biến với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm”. Do đó, cần phải khẩn trương, nhanh chóng hơn, nếu đã có thời cơ mà không kịp phát hiện, bỏ lỡ thì có tội lớn đối với dân tộc.

Thời cơ lịch sử mới chỉ là khả năng, muốn biến khả năng đó thành thắng lợi hiện thực thì cần phải tạo ra thời cơ chiến lược mới, trực tiếp làm nên những bước ngoặt mới. Vấn đề đặt ra là cần phải nhằm vào hướng nào và chọn thời cơ nào đánh đòn quyết định để tạo ra một sự sụp đổ dây chuyền, làm lung lay tận gốc toàn bộ bộ máy chiến tranh của địch. Trên cơ sở đó, dẫn đến đòn quyết định cuối cùng, đánh bại chúng hoàn toàn. Đó là những vấn đề thuộc về nghệ thuật chọn phương hướng đúng, chọn mục tiêu đúng, đồng thời cũng là nghệ thuật tạo thời cơ chiến lược mới.

Trong diễn biến từ đòn tiến công mở đầu cho đến đòn tiến công kết thúc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, thời cơ đã xuất hiện liên tiếp trong cuộc vận động tiến lên đó, hoàn toàn không phải là một quá trình phát triển tự phát, mà là quá trình phát triển theo quy luật. Ở đây, nghệ thuật chỉ đạo sáng suốt và tài tình của Đảng ta có tác dụng quyết định. Chính nhờ nắm chắc diễn biến của tình hình, tạo thời cơ chiến lược, tận dụng thời cơ trong nghệ thuật chỉ đạo sáng tạo, độc đáo của mình giúp Đảng ta chủ động điều khiển bước kết thúc chiến tranh theo diễn biến ngày càng có lợi cho ta. Chọn đúng phương hướng và mục tiêu tiến công là điều kiện cơ bản để đẩy nhanh quá trình chuyển biến của những bước ngoặt lịch sử đó. Chọn hướng Tây Nguyên, trước hết Đảng ta đã xác định đúng phương hướng và mục tiêu của đòn mở đầu cuộc tổng tiến công chiến lược. Quả thật, sau đòn điểm huyệt ở Buôn Ma Thuột và tiếp đến là toàn bộ Tây Nguyên được giải phóng đã mở ra cho ta một thời cơ lớn - thời cơ chiến lược mới vô cùng thuận lợi để tiến lên giành thắng lợi lớn hơn.

Trên cơ sở bám sát diễn biến của chiến trường và đánh giá đúng tình hình, ngay sau chiến thắng ở Tây Nguyên, ngày 24/3/1975, Bộ Chính trị phát hiện thấy thời cơ chiến lược mới và lại tiến hơn một bước nữa, bổ sung thêm nhận định chiến lược rất quan trọng là: Cuộc tổng tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu với chiến thắng Tây Nguyên. Thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm kế hoạch giải phóng miền Nam. Sau đó, trong bức điện gửi cho Bộ Chỉ huy chiến dịch ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị còn nhấn mạnh: Tình hình hiện nay phát triển rất nhanh. Đây là bước nhảy vọt. Lúc này tranh thủ thời gian và nắm thời cơ là quyết định lắm. Sau khi ta tiến công Huế và Đà Nẵng giành thắng lợi, trong cuộc họp ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị đã kết luận: Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà thời cơ chiến lược để tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu. Phải đẩy nhanh tiến công địch để kết thúc chiến tranh trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không để để chậm.

Với đòn tiến công mở đầu ở Tây Nguyên, chúng ta đã chủ động tạo ra thời cơ chiến lược và khi thời cơ xuất hiện, Đảng ta lại lập tức chỉ đạo tranh thủ và kịp thời chớp lấy, triển khai cấp tốc phương hướng và mục tiêu tiến công của đòn tiến công nối tiếp. Giải phóng Huế, sau đó là Đà Nẵng, chính là ta đã tiến hành một đòn tiến công chiến lược mới, nhằm tận dụng thời cơ đã xuất hiện, tạo thêm thời cơ mới để phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của đòn tiến công chiến lược thứ ba - trận quyết chiến chiến lược cuối cùng tại ngay Sài Gòn – Gia Định, sào huyệt của địch với tinh thần “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng” [7, tr.286] để làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ba là, Đảng lãnh đạo chọn đúng hướng và mục tiêu tiến công chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện cuộc chiến tranh, có lợi cho ta

Thực hiện những kết luận của Bộ Chính trị, ngày 09/01/1975, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã bàn và cụ thể hóa kế hoạch tác chiến chiến lược trong hai năm 1975 và 1976. Theo đó, mở đầu năm 1975, sẽ mở chiến dịch tiến công địch ở Tây Nguyên, hướng chính là Nam Tây Nguyên, mục tiêu chính là đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Trong chỉ đạo chiến tranh, việc chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thảo luận kỹ và đi đến quyết định thành lâp Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên và cử Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam vào chiến trường Tây Nguyên trực tiếp chỉ đạo. Ngày 17/02/1975, Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên thảo luận để thực hiện thắng lợi quyết định của Bộ Chính trị và Thường vụ Quân ủy Trung ương. Với sự chuẩn bị tốt nhất, sáng 10/3/1975, quân Giải phóng tiến công Buôn Ma Thuột, 11 giờ ngày 11/3/1975, ta đã giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột.

Trong ngày 11/3/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo diễn biến ở chiến trường Tây Nguyên và chiến thắng Buôn Ma Thuột. Phân tích tình hình địch và lực lượng cách mạng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cho rằng, ta có khả năng giành thắng lợi to lớn với nhịp độ nhanh hơn dự kiến. Ngày 16/3/1975, địch còn lại ở Plâyku và Kon Tum rút về đồng bằng ven biển theo đường số 7. Ta truy kích địch rút chạy diễn ra trong tám ngày đêm, từ ngày 17/3/1975 đến ngày 24/3/1975 giành thắng lợi. Ngày 25/3/1975, Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng. Ngay từ khi mở màn Chiến dịch Tây Nguyên, các chiến trường Nam Bộ và các tỉnh Trung và Nam Trung Bộ đã đẩy mạnh tiến công địch. Trước đó, ngày 08/02/1975, Bộ Chính trị ra quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận Trị -Thiên. Quân khu Trị - Thiên và Quân khu V phối hợp với mặt trận Tây Nguyên. Kế hoạch Chiến dịch tiến công giải phóng Huế, Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng và các tỉnh Trung Bộ được quyết định và thực hiện. Ngày 21/3/1975 ta mở màn Chiến dịch giải phóng Huế và đến ngày 25/3/1975, thành phố Huế được giải phóng. Chiến dịch tiến công giải phóng Đà Nẵng bắt đầu ngày 28/3/1975 và đến ngày 29/3/1975, Đà Nẵng được giải phóng. Từ những chiến thắng đó, ta đẩy mạnh tiến công giải phóng các tỉnh ven biển miền Trung.

Bằng sự lựa chọn đúng đắn của Đảng về hướng tiến công chính là Nam Tây Nguyên, mục tiêu chính là đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột đã tạo ra sự đột biến về thế và lực của ta trên chiến trường, đưa tới thuận lợi lớn để ta giành thắng lợi trong Chiến dịch giải phóng Thừa Thiên - Huế và Chiến dịch Đà Nẵng, góp phần quan trọng để đi tới Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975.

Bốn là, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo huy động nhân lực, vật lực tạo nên sức mạnh vượt trội giành chiến thắng

Để kịp thời huy động nhân lực, vật lực tạo nên sức mạnh vượt trội giành chiến thắng, ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Hội đồng chi viện miền Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Ngày 01/4/1975, Bộ Chính trị gửi điện cho lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam về xúc tiến gấp kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định, lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận Sài Gòn. Bức điện nêu rõ: “Chúng ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 35% sinh lực địch, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu hai quân đoàn địch, tiêu diệt khoảng 40% các binh chủng kỹ thuật hiện đại, thu và phá hơn 40% cơ sở vật chất hậu cần, giải phóng 12 tỉnh, đưa tổng số dân vùng giải phóng lên gần 8 triệu” [3, tr.94-95]. Ta đã có sức mạnh áp đảo, địch đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu. Cách mạng nước ta đang phát triển với nhịp độ “một ngày bằng hai mươi năm”. Do vậy, Bộ Chính trị quyết định: “Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm. Phải hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ” [3, tr.95-96]. Như vậy, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam trước mùa mưa năm 1975.

Quảng cáo

Với quyết sách chiến lược của Bộ Chính trị, ngày 06/4/1975, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương, đã ra mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Ngày 09/4/1975, Bộ Chính trị điện gửi các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và các đồng chí lãnh đạo đang ở chiến trường về kế hoạch tiến công Sài Gòn với tinh thần chuẩn bị tốt nhất trên tất cả các hướng bảo đảm toàn thắng. Từ chiến thắng trên các chiến trường, Bộ Chính trị đã họp ngày 14/4/1975 để nghe Quân ủy Trung ương báo cáo về tình hình Mặt trận Sài Gòn và các phương hướng, chủ trương đề ra. Bộ Chính trị nhất trí với phương hướng, chủ trương ấy và “đồng ý Chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh” [3, tr.109].

Nhằm huy động toàn lực cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, Đảng, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng đã quyết định điều động bốn quân đoàn chủ lực (1,2,3,4) và Đoàn 232, phát động các lực lượng nổi dậy tạo sự áp đảo đối với quân đội và chính quyền Sài Gòn. Chính vì vậy, Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra nhanh chóng, bắt đầu ngày 26/4/1975 và giành thắng lợi hoàn toàn lúc 11 giờ 30 ngày 30/4/1975, thành phố Sài Gòn được giải phóng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 toàn thắng.

Nửa thế kỷ đã đi qua, nhưng những quyết sách của Đảng trong lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 vẫn vẹn nguyên giá trị, thể hiện tầm cao trí tuệ và trách nhiệm của Đảng đối với đất nước và dân tộc - nhân tố quyết định tạo nên Đại thắng mùa Xuân 1975. Đó cũng là sự phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, vừa kế thừa những di sản truyền thống của dân tộc, vừa phát triển độc đáo, sáng tạo với tinh thần tiến công liên tục, quyết thắng và chắc thắng. Sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất cao độ giữa quyết sách của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh với hành động trên các chiến trường, từng mặt trận và mỗi chiến dịch đã tạo nên sức mạnh to lớn quyết định thắng lợi. Sự sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ huy trên chiến trường thể hiện tài thao lược của các đồng chí lãnh đạo, tướng lĩnh, chỉ huy bảo đảm hiện thực hóa những quyết định chiến lược của Đảng. Tập trung, thống nhất, trách nhiệm, kỷ luật, thần tốc, táo bạo là nét nổi bật trong lãnh đạo của Đảng để làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 nhanh chóng và trọn vẹn.

Trong bối cảnh mới, Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - kỷ nguyên phát triển và văn minh, hiện đại với những thời cơ, thuận lợi và nguy cơ, thách thức đan xen đòi hỏi phải tiếp tục phát huy vai trò quyết định của Đảng trong Đại thắng mùa Xuân 1975. Theo đó, “đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” [4, tr.190] và “tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chính đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng” [5, tr.38], để lãnh đạo phát triển đất nước đạt mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao, thực hiện khát vọng xây dựng nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Tài liệu tham khảo

[1]. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, Những sự kiện quân sự, Nxb QĐND,HN,1980,tr.283.

[2]. Đảng CSVN, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, HN, tập 34, 2004, tr. 160.

[3]. Đảng CSVN, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, HN, tập 36, tr.94-95.

[4]. Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG ST,H, 2021, tập I, tr.190.

[5]. Đảng CSVN, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng (Tài liệu sử dụng tại đại hội chi bộ, đảng bộ cơ sở), Nxb CTQG ST,HN,2024,tr.38.

[6]. Những sự liện lịch sử Đảng, tập III (Về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975), Nxb Thông tin lý luận, HN, 1985, tr.742.

[7]. Võ Nguyên Giáp, Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Nxb CTQG, HN, 2000, tr.80.

[8]. Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb KHXH, HN, 1976, tr.132.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm