TÁI CẤU TRÚC VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN PHẢI ĐƯỢC XEM LÀ HAI TRONG NHỮNG GIẢI PHÁP THEN CHỐT ĐỂ GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI - KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

TS Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam Tóm tắt : Ngay từ thời điểm chuẩn bi bước vào ngưỡng cửa của Thế kỷ 21 Đảng và Nhà nước Viêt Nam đã chủ trương ” tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại“. Và để đạt được mục tiêu đó “ Giáo dục và Đào tạo cùng với Khoa học và Công nghệ (phải được xem ) là quốc sách hàng đầu; phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo là phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp h
21:48 | 14/02/2026

TS Lê Viết Khuyến -

Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam

Tóm tắt : Ngay từ thời điểm chuẩn bi bước vào ngưỡng cửa của Thế kỷ 21 Đảng và Nhà nước Viêt Nam đã chủ trương ” tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại“. Và để đạt được mục tiêu đó “ Giáo dục và Đào tạo cùng với Khoa học và Công nghệ (phải được xem ) là quốc sách hàng đầu; phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo là phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước“.

Tuy nhiên thời mốc năm 2020 để đạt mục tiêu này cho tới nay đã được điều chỉnh lại tại Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày22/3/2018 về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Có nhiều nguyên nhân nhưng xét về phương diện chuẩn bị nguồn lực con người thì ngành giáo dục và đào tạo phải chịu trách nhiệm chính do cho tới nay chất lượng của nguồn nhân lực đào tạo ra nói chung còn chưa đạt chuẩn cũng như do cơ cấu đội ngũ nhân lực còn rất bất hợp lý, thiếu đồng bộ.Kết quả là làm cho năng suất lao động trung bình của lao động Việt Nam bị thua kém nhiều lần so với thế giới và khu vực.

Hai yếu điểm nghiêm trọng trên của lực lượng lao động Việt Nam hiện nay như đã nêu ở trên trước hết có liên quan chủ yếu tới những bất cập ở cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, được thể hiện tại các luật về giáo dục và nhiều văn bản dưới luật hiện hành. Cơ cấu hệ thống giáo dục này về cơ bản không đáp ứng những định hướng quan trọng trong Nghị quyết Trung ương 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Để đạt được mục tiêu “đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại” Việt Nam cần khẩn trương tái cấu trúc và đổi mới phương thức quản tri hệ thống giáo dục ngay khi đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Sau nhiều năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đất nước ta đã vượt qua giai đoạn thử thách gay go , đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và đang có những bước đi vững vàng. Bước sang thời kỳ mới các Văn kiện Đại hội Đảng nhiều khoá vừa qua cũng như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đều khẳng định phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) để từng bước thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

1. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là hướng đi tất yếu

Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) nêu rõ: ”... tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại…”,”... rút ngắn quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức,coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa,hiên đại hóa...”.

Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đòi hỏi phải có nguồn lực. Đối với Việt Nam, cả hai loại nguồn lực tài chính và tài nguyên thiên nhiên đều hạn chế nên, theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia đi trước, nguồn lực con người đương nhiên sẽ đóng vai trò quyết định.

So với các nước láng giềng Việt Nam có lợi thế đông dân, lại đang ở thời kỳ “dân số vàng“. Tuy nhiên, nếu không được qua đào tạo thì dân đông sẽ là gánh nặng về dân số, còn nếu qua đào tạo chu đáo thì sẽ trở thành nguồn nhân lực đồng bộ, lành nghề tác động trực tiếp lên tốc độ tăng trưởng kinh tế-xã hội của toàn quốc gia. Một đội ngũ nhân lực lành nghề và đồng bộ cũng tạo nên sức hấp dẫn to lớn để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Vì thế, Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã chỉ rõ: “...Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu; phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo là phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước...”. Điều 17 Luật Giáo dục sửa đổi 2019 cũng nêu ”...Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển...Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục…”

Từ những định hướng như trên, Nghị quyết 29-NQ/TW của Hội nghị TW8 Khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo: “…Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp…” và “…Hoàn thành mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia…”.

Tuy nhiên, thời mốc năm 2020 để đạt mục tiêu này cho tới nay đã được điều chỉnh lại tại Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045:“…Đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại…”. Phương hướng , nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021 - 2025 (tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, năm 2021) cũng nêu: “... đến năm 2025 là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp…”, “…đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sang tạo và công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư…” và “…Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng...”.

2. Vì sao chúng ta đã không thể hoàn thành mục tiêu “đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”.

Có nhiều nguyên nhân liên quan tới trách nhiệm của nhiều bộ, ngành khác nhau nhưng xét về phương diện chuẩn bị nguồn lực con người thì ngành giáo dục và đào tạo phải chịu trách nhiệm chính do cho tới nay chất lượng của nguồn nhân lực đào tạo ra nói chung còn chưa đạt chuẩn cũng như do cơ cấu đội ngũ nhân lực còn rất bất hợp lý, thiếu đồng bộ.Kết quả là làm cho năng suất lao động trung bình của lao động Việt Nam bị thua kém nhiều lần so với thế giới và khu vực. Có thể thấy nhận xét đó qua Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2022 của Tổng Cục Thống kê: trong tổng số lực lượng lao động đang làm việc (51,705 triệu) thì 73,6% không có trình độ CM-KT, 7,1 % qua dạy nghề, 3,7% trung cấp, 3,7% cao đẳng và 11,9 % đại học. Để biện minh cho cơ cấu nhân lực quá bất hợp lý như vậy có không ít nhà hoạch định chính sách vin vào lý do “thừa thầy thiếu thợ” để đề xuất kéo tụt tiếp chỉ tiêu tuyển sinh đại học hàng năm, chứ không chịu thừa nhận để đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH , với cơ cấu nhân lực như thế thì “thầy” vẫn rất thiếu, còn “thợ” lại càng thiếu.

Theo chúng tôi, những nguyên nhân sâu xa có thể là:

2.1. Quan điểm Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu chưa được các cấp quản lý, cả ở cấp vĩ mô cũng như ở cấp cơ sở, quán triệt sâu sắc và chính xác, dẫn tới tình trạng đầu tư dàn trải; cũng như vai trò đột phá của Giáo dục và Đào tạo trong phát triển đất nước còn chưa được xã hội thừa nhận.

Theo số liệu mà Bộ Tài chính đã cung cấp, hiện ngân sách dành cho giáo dục giai đoạn 2010-2020 chiếm từ 12-16% ngân sách nhà nước; trong đó ngân sách cho giáo dục đại học chỉ chiếm 0,27% GDP quốc dân. Đây là một con số rất khiêm tốn, không thể đảm bảo cho Việt Nam sớm trở thành một nước có thu nhập trung bình cao như mong đợi. Ở nhiều nước tỉ lệ này cao hơn gấp 2 đến 6 lần so với Việt Nam (Thái Lan 0,64; Trung Quốc 0,87; Hàn quốc 1,0; Singapore 1,0; Malaysia 1,13; Balan 1,22; Pháp 1,25; Anh 1,29; Australia 1,54; Newzealand 1,63; Phần lan 1,89).

Theo số liệu thống kê năm 2015 tỉ lệ ngân sách dành cho giáo dục sau trung học trong ngân sách giáo dục của Việt Nam là 6,07%, trong khi của Australia là 28,86%, Tháilan-15,8%, Nhật bản-18,84%, Malaysia-23,39%, Singapore- 35,28%, Ba lan- 25,28%.

2.2.Quản trị hệ thống giáo dục, đặc biệt hệ thống giáo dục đại học và hệ thống giáo dục nghề nghiệp, vẫn bám theo cách làm cũ của thời kỳ kế hoạch hóa tập trung có từ nhiều năm trước đây, với các nét đặc trưng:

- Chức năng quản lý nhà nước về giáo dục được chia sẻ cho nhiều bộ, cơ quan quản lý ngang bộ khác nhau.

- Tập trung quyền lực quản lý trực tiếp các cơ sở giáo dục đại học và nghề nghiệp về các đơn vị quản lý trung ương, hạn chế tối đa vai trò chủ động của chính quyền địa phương.

Phương thức quản trị như vậy làm cho toàn hệ thống giáo dục và đào tạo của nước ta trong nhiều năm qua bị phân cắt, chia mảnh,dẫn tới hoạt động kém hiệu quả, không phát huy được sức mạnh tổng hợp. Đây cũng là nguyên nhân chính của tệ nạn “xin cho“ đang rất phổ biến trong toàn ngành, mang đến nhiều hệ lụy tiêu cực khó lường.

2.3. Quy hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực - khâu quyết định sự thành bại của chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo ở cả tầm quốc gia lẫn tầm địa phương – được thiết kế giản đơn, duy ý chí, cứng nhắc, mang đậm dấu ấn cảm tính, thiếu kinh nghiệm, không chuyên nghiệp. Ở phần lớn các quy hoạch đó, cả ở tầm quốc gia cũng như ở tầm địa phương, các nhà hoạch định thường không hình dung được trong tiến trình CNH, HĐH đất nước khi nào sẽ cần có thêm những loại hình nhân lực mới, với cơ cấu trình độ, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu lãnh thổ,...giữa chúng sẽ ra sao, cũng như cần có những điều chỉnh cần thiết gì để tác động lên đội ngũ nhân lực đó cho phù hợp với các dịch chuyển kinh tế và những đổi mới về khoa học-công nghệ của đất nước cũng như của từng vùng miền. Mà một khi bài toán quy hoạch phát triển nhân lực đã không rõ ràng, cho nghiệm kiểu „bốc thuốc“ thì cũng sẽ không có được một chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo phù hợp . Nói tóm lại là sẽ rơi vào tình trạng “ mạnh ai nấy vẽ “, “ mạnh ai nấy chạy“.

3. Một số đề xuất trong Quy hoạch phát triển GD-ĐT ở Việt Nam

3.1.Tư duy chủ đạo cho phát triển GD-ĐT ở Việt Nam

Từ các nghị quyết của các Đại hội Đảng và hội nghị BCH TW có thể thấy rõ là cùng với Khoa học và Công nghệ ưu tiên phát triển Giáo dục và Đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu. Để thực hiện sứ mệnh đó học tập kinh nghiệm của các nước đi trước, của các chuyên gia là hết sức cần thiết.Tuy nhiên không thể tiếp thu máy móc bài học từ tất cả các quốc gia khác nhau trên thế giới cũng như ý kiến từ mọi chuyên gia (như không ít người vẫn khuyến cáo) mà việc làm đó phải tuân theo tư duy chủ đạo : một là, cần tìm thêm các nguồn lực; hai là, dựa trên kinh nghiệm của cả thế giới lẫn Việt Nam, trước đây cũng như hiện nay, cần sáng tạo ra những cách làm mới, phù hợp,ưu tiên phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống, để Giáo dục và Đào tạo Việt Nam sớm đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, trong bối cảnh nguồn lực đầu tư (của cả nhà nước và người dân) rất hạn hẹp và còn tiếp tục hạn hẹp.

3.2. Chiến lược giáo dục của Việt Nam cần được định ra qua một số bước theo nguyên tắc: Giáo dục đi trước một bước (mặc dù phải chấp nhận nguồn lực hạn hẹp) để tạo ra nguồn nhân lực đồng bộ, lành nghề, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển (kể cả tạo điều kiện thuận lợi để gọi vốn đầu tư công nghệ cao). Nhờ vậy ngân sách Nhà nước mới tăng kéo theo tăng ngân sách cho giáo dục ,giúp cho giáo dục-đào tạo vươn lên tầm cao hơn.

Với các bước đi như vậy nên không thể có một lời giải đúng đắn duy nhất mà chỉ có một loạt những phương án tối ưu cho từng thời gian khác nhau đối với bài toán quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo và quy hoạch phát triển nhân lực của Việt nam, trên quy mô toàn quốc gia cũng như theo từng vùng lãnh thổ.

3.3. Hiện nay cũng như trong thời gian tới, ngành giáo dục và đào tạo không nên tập trung mọi nỗ lực nhằm thoả mãn tối đa các mục tiêu dân trí. Do đó cần xem xét lại cơ chế phân bổ ngân sách giáo dục và nguồn lực huy động từ xã hội theo hướng ưu tiên đầu tư đồng thời vào 3 mục tiêu: Phổ cập giáo dục cơ bản (bao gồm giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở); Đào tạo nguồn nhân lực đồng bộ, lành nghề (bao gồm các trình độ đào tạo sau đại học, đại học, cao đẳng thực hành và trung học nghề/trung học kỹ thuật); Ưu tiên phát triển hợp lý đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong một số ngành công nghệ mũi nhọn. Phải triển khai phân luồng triệt để học sinh từ sau bậc trung học cơ sở và cần xem đây là giải pháp cơ bản để nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo lên, chứ không phải sử dụng giải pháp kêu gọi bóp nghẹt đầu vào đại học với lập luận “thừa thày thiếu thợ”, bởi vì tỷ lệ nhập học đại học ở nước ta vẫn còn thấp, không tương thích với mục tiêu CNH, HĐH.

3.4. Nguyên tắc chung là đất nước muốn phát triển theo hướng CNH, HĐH thì phải tạo ra được sự chuyển dịch nhanh của cơ cấu lao động, theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng ở các khu vực công nghiệp và dịch vụ; đồng thời với phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên chỉ sự dịch chuyển này thôi cũng chưa thể tạo ra được tăng trưởng nhanh nếu như trên cả nước cũng như ở từng vùng miền còn chưa có được cơ cấu nhân lực (về trình độ và nghề nghiệp) và chính sách đầu tư vào công nghệ phù hợp trong cả ba khu vực kinh tế nêu trên.Đây cũng là nguyên nhân chính gây ra cái gọi là tình trạng “thừa thày thiếu thợ” hiện đang được nhiều người phê phán.

3.5. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp Nhà nước cần có cơ chế chính sách rõ ràng để định hướng cho sự phát triển hài hòa và ổn định của toàn hệ thống giáo dục đại học và chuyên nghiệp, thông qua phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp và hiệu quả của toàn hệ thống, đặc biệt đối với khu vực trường trực thuộc Trung ương (nhận ngân sách giáo dục Nhà nước), trên cả 2 phương diện: mạng lưới trường và quy trình đào tạo. Thiết lập cơ chế mở, liên thông đào tạo, khuyến khích hình thành các cụm trường liên kết, kiên quyết xoá bỏ tình trạng khép kín, cát cứ, tư tưởng cục bộ ở từng trường hoặc từng ngành trong hệ thống như hiện nay. Để làm được điều đó quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo phải được tập trung về cùng một đầu mối như rất nhiều nước đã làm , theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 19.

3.6. Trong lĩnh vực quản lý giáo dục cần kiên quyết xóa bỏ ngay cơ chế “xin – cho”, thực hiện quyền tự chủ - trách nhiệm giải trình thực sự của các cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở thiết lập cơ chế hội đồng trường “đích thực”, tiến tới xóa bỏ cơ chế “bộ chủ quản”. Thời gian qua hưởng ứng chủ trương thí điểm tự chủ đại học một số trường đại học đã đạt được những bước phát triển kỳ diệu. Tuy nhiên hiện nay khuynh hướng này đang bị chững lại và nếu muốn nhân rộng ra cho toàn hệ thống (như tinh thần của Luật GDĐH 2018) thì Nhà nước cần phải sớm điều chỉnh hàng loạt luật và văn bản dưới luật hiện hành cho phù hợp với chủ trương này để không gây khó cho các trường muốn đổi mới thực sự. Ngoài ra cần có chính sách lôi cuốn các tổ chức xã hội - nghề nghiệp tham gia giám sát các cơ sở giáo dục đại họctrong việc thực hiện các chuẩn mực (trong đó có các chuẩn mực chất lượng ) được quy định tại Điều 68 Luật Giáo dục đại học 2018 .

3.7. Thực hiện triệt để chủ trương xã hội hóa giáo dục . Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, Nhà nước cần sớm làm rõ những vấn đề về sở hữu, tính chất vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận, trách nhiệm của các cơ sở GDĐH, cơ chế chính sách phù hợp... như đã nêu tại Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ. Đồng thời Nhà nước cần có chủ trương thực sự khuyến khích các cơ sở GDĐH không vì lợi nhuận, triển khai Luật đầu tư PPP trong giáo dục, hoàn thiện quy chế trường đại học tư hoạt động không vì lợi nhuận và các chế độ chính sách ưu đãi cụ thể cho các cơ sở GDĐH loại này. Tuyệt đối không vin cớ xã hội hóa để tăng học phí tùy tiện.

4. Khâu đột phá: Tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân

Quảng cáo

Hai yếu điểm nghiêm trọng của lực lượng lao động Việt Nam hiện nay như đã nêu ở Phần 2. trước hết có liên quan chủ yếu tới những bất cập ở cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, được thể hiện tại các luật về giáo dục và nhiều văn bản dưới luật hiện hành. Cơ cấu hệ thống giáo dục này về cơ bản không đáp ứng những định hướng quan trọng trong Nghị quyết Trung ương 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Những biểu hiện cụ thể là:

- Toàn hệ thống không có sự nhất quán do khối Giáo dục nghề nghiệp được tách riêng biệt. Do không phải là một bậc học nên không thể xem khối này nằm ở vị trí trên giáo dục trung học và dưới giáo dục đại học.

Ngay giữa các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng trong khối đó cũng không có sự liên thông thực sự. Luật Giáo dục Nghề nghiệp quy định muốn được dự tuyển vào cao đẳng thí sinh phải đồng thời vừa có bằng trung cấp vừa có bằng tốt nghiệp THPT (hoặc đã học và đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa THPT).

Từ cao đẳng chuyển lên đại học lại càng không dễ dàng chút nào vì có sự khác nhau về mục tiêu và cấu trúc chương trình đào tạo (do 2 cơ quan quản lý Nhà nước khác nhau quy định). Ở đây còn chưa nói đến xu hướng hạ chuẩn các trình độ trung cấp và cao đẳng, xóa bỏ chức danh kỹ thuật viên để thu hút nguồn tuyển, triển khai các chương trình đào tạo „siêu tốc“...

- Không có sự hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo. Theo Phân loại giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế của UNESCO (ISCED 2011 ), thì các trình độ sơ cấp và trung cấp ở Luật Giáo dục Nghề nghiệp không tương ứng với bất kỳ một cấp độ nào của ISCED 2011. Ngoài ra ISCED-2011 cũng quy định trình độ cao đẳng phải tương ứng với cấp độ 5 (thuộc về giáo dục đại học) trong khi theo Luật Giáo dục Nghề nghiệp thì cao đẳng chỉ được xem nằm ở cấp độ 4 (dưới giáo dục đại học).

- Không có sự phân luồng học sinh sau trung học cơ sở cũng như sau trung học phổ thông. Việc rẽ nhánh học sinh sau THCS để vào trung cấp nghề là lối đi vào “ngõ cụt” vì người học không có hướng học lên cho dù là cao đẳng, vì muốn học lên cao đẳng còn cần phải có cả bằng tốt nghiệp THPT. Do đó xu hướng chung, như từ trước đến nay, sau THCS người học đều cố đi vào THPT (78% năm học 2019-2020). Còn sau THPT người học thường có xu hướng đi vào đại học vì nếu đi vào cao đẳng thì sau này sẽ rất khó học tiếp lên đại học (do cấu trúc chương trình ở hai trình độ này lại được hai cơ quan quản lý nhà nước khác nhau quy định theo những định hướng khác nhau, rất khó liên thông với nhau). Đây mới là nguyên nhân chủ yếu của cái gọi là „tình trạng thừa thày thiếu thợ“.

Để khắc phục hạn chế trên những năm vừa qua Hiệp hội các trường ĐH&CĐ Việt Nam, Hội Khuyến học Việt Nam và Hiệp hội Vì giáo dục cho mọi người đã trình lên Chính Phủ bản kiến nghị tái cấu trúc hệ thống giáo dục cho các thập niên đầu thế kỷ 21. Sơ đồ tái cấu trúc chủ yếu chỉ động chạm tới các phân hệ đào tạo nguồn nhân lực, với giả định giữ nguyên phân hệ giáo dục phổ thông (theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW). Các căn cứ để thiết kế sơ đồ này là :

- Những định hướng cơ bản của Nghị quyết Trung ương 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế : hình thành một hệ thống giáo dục mở, thực hiện liên thông giữa các bậc học và trình độ, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, phân luồng mạnh học sinh sau trung học cơ sở, ...

- Những định hướng cơ bản của Nghị quyết Chính Phủ 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt nam giai đoạn 2006-2020.

- Các nguyên tắc cơ bản của Phân loại giáo dục theo các tiêu chuẩn quốc tế đã được UNESCO ban hành (ISCED 2011) và Khung tham vấn các trình độ ASEAN.

Nét cơ bản của sơ đồ là việc thực hiện triệt để phân luồng học sinh sau THCS theo hai hướng: 50% theo hướng THPT (General Secondary) và ít nhất 30% theo hướng trung học nghề nghiệp, bao gồm trung học nghề/trung học kỹ thuật (Vocational/ Technical Secondary). Có chính sách ưu đãi khuyến khích học sinh đi vào hướng trung học nghề/trung học kỹ thuật. Khi vào khu vực giáo dục đại học, hai hướng phân luồng tiếp theo và liên thông với hai hướng trên là: hướng học thuật (Academic) và hướng ứng dụng-thực hành (Professsional), bảo đảm tỷ lệ sinh viên giữa hai hướng này là 20-30:80-70.

Để cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân cho đồng bộ với thực trạng phát triển của chính mình và phù hợp với xu hướng quốc tế, thì trước hết phải triển khai một loạt các giải pháp cấp bách như: Thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục như đã chỉ đạo tại Nghị quyết 18-NQ/TW năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương: một công việc chỉ giao cho một đầu mối, tổ chức hoặc cá nhân đảm nhiệm, nhằm tránh những hệ lụy tiêu cực, rào cản không cần thiết. Không để tình trạng phân tán, cắt khúc và chồng chéo như hiện nay, làm cho hệ thống không còn tính hệ thống. Như vậy mới có thể giải quyết tốt vấn đề liên thông, phân luồng và phân tầng trong hệ thống mở, tránh mâu thuẫn về thể chế quản lý giữa các Bộ; Nhà nước chỉ đạo tập trung ở tầm vĩ mô, kết hợp với phân cấp hợp lý cho các địa phương, như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh quan điểm: “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các địa phương, các cơ sở giáo dục-đào tạo để có không gian sáng tạo; nâng cao tính tự chủ của các địa phương với tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; Điều tra, xác định lại thành phần, cơ cấu và trình độ lực lượng lao động đất nước à Lập Quy hoạch nhân lực tổng thể cho nửa đầu của thế kỷ 21àXây dựng chiến lược phát triển Giáo dục-Đào tạo cho thời kỳ đầu của kỷ nguyên mới; Trả trình độ cao đẳng về cho giáo dục đại học, phục hồi loại hình trường cao đẳng chuyên nghiệp đào tạo kỹ thuật viên; Xóa bỏ ngay việc thí điểm triển khai các chương trình cao đẳng “ siêu tốc“ 9+; Bổ sung các môn học nghề từ chương trình trung cấp nghề (do Tổng cục giáo dục nghề nghiệp ban hành) vào các nội dung tự chọn của Chương trình phổ thông 2018 để mở ra cơ hội cho các trường trung học phổ thông chủ động xây dựng các “tổ hợp môn học” mang “định hướng nghề nghiệp” sâu hơn, đa dạng hơn; Tổ chức xây dựng hệ thống trường trung học nghề/trung học kỹ thuật bảo đảm học sinh tốt nghiệp vừa có trình độ học vấn vừa có nghề thành thạo (thông qua các giải pháp: đổi tên và chức năng trường trung cấp nghề thành trường trung học nghề, chuyển đổi các trường trung cấp chuyên nghiệp thành trường cao đẳng thực hành hoặc trường trung học nghề/trung học kỹ thuật, hợp nhất một bộ phận trường THPT với các trung tâm dạy nghề địa phương thành trường trung học nghề/trung học kỹ thuật...); Củng cố lại hệ thống trường đại học-cao đẳng địa phương trong đó có các trường CĐSP theo hướng mở trên cơ sở thực hiện chuyển đổi số; Quy hoạch lại các trường đại học theo hai hướng: hướng nghiên cứu và hướng nghề nghiệp-ứng dụng-thực hành; Ban hành các chuẩn quốc gia về giáo dục (trong đó có khung trình độ quốc gia, các chuẩn chương trình); Xây dựng mạng lưới các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục độc lập; ...

Về lâu dài, phải từng bước sáp nhập một số viện nghiên cứu khoa học vào các trường đại học trọng điểm để hình thành các đại học nghiên cứu; xây dựng một số học viện công nghệ tiên tiến dựa trên việc hợp nhất và tổ chức lại các cơ sở giáo dục và các viện nghiên cứu chuyên ngành theo hướng công nghệ mũi nhọn; tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại từng địa phương để hình thành các cao đẳng/đại học cộng đồng đào tạo đa ngành, đa cấp, đa hệ; tạo cơ chế thông thoáng cho hệ thống các trường ngoài công lập, trong đó đặc biệt ưu tiên các trường ngoài công lập hoạt động không vì lợi nhuận; củng cố và nâng cao năng lực cho hai trường đại học mở,chủ yếu triển khai phương thức đào tạo từ xa;từng bước xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, tập trung chức năng quản trị cho hội đồng trường, trao quyền tự chủ thực sự cho cơ sở giáo dục đại học gắn kết với trách nhiệm giải trình; chuyển một bộ phận cơ sở GDĐH công lập qua cơ chế tự chủ, tự hạch toán tài chính. Ngoài ra, rất cần thường xuyên điều chỉnh cơ cấu phân luồng người học dựa theo dịch chuyển cơ cấu kinh tế cả ở tầm quốc gia lẫn tầm địa phương.

Tài liệu tham khảo

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. 2021.

2. Nghị quyết 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế;2013.

3. Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006-2020.

4 Luật Giáo dục 2005 và 2019.

5 Luật Giáo dục đại học 2012 và 2018.

6. Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014.

7. Tổng cục Thống kê. Báo cáo Điều tra lao động việc làm các năm 2017, 2018, 2019, 2020, 2021 và 2022.

8. Lê Viết Khuyến: Về định hướng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam . Tạp chí giáo dục số 11 ( 8/2001 ).

9. Phạm Phụ: Một hệ thống “ giáo dục sau trung học phổ thông“.- Về khuôn mặt mới của Giáo dục đại học Việt Nam. T.2. Nhà xuất bản ĐHQG tp. HCM.2010.

10. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam; 2005.

11. UNESCO- International Standard Classification of Education ISCED 1997,2011.

12. The ASEAN Qualifications Referennce Framework (Final Text). March 2014.

13. SEAMEO RIHED & UNESCO PROAP - Handbook on Diplomas, Degrees and other Certificates in Higher Education in Asia and the Pacific; 1998.

14. Lê Viết Khuyến.Nghĩ về lối đi của Giáo dục đại học Việt Nam - Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông; 2023.

15. Ủy ban Cải cách giáo dục trực thuộc Tổng thống Hàn Quốc, Cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI bảo đảm để dẫn đầu trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa, Nxb. Giáo dục, 2016.

16. Lê Viết Khuyến - Các hình thức sở hữu, chủ sở hữu, đại diện chủ sở hữu, cơ cấu hội đồng trường và lộ trình chuyển qua tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam - Tài liệu Hội thảo Giáo dục Việt Nam 2020: Tự chủ trong giáo dục đại học - từ chính sách đến thực tiễn - Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội.

TÁI CẤU TRÚC VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN PHẢI ĐƯỢC XEM LÀ HAI TRONG NHỮNG GIẢI PHÁP THEN CHỐT ĐỂ GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI - KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

.

TÁI CẤU TRÚC VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN PHẢI ĐƯỢC XEM LÀ HAI TRONG NHỮNG GIẢI PHÁP THEN CHỐT ĐỂ GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI - KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

Trích: Đề án phát triển hệ thống trường Đại học Cộng đồng ở Việt Nam