THÁCH THỨC CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ SỐ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU NGHỊ QUYẾT 57 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

GS.TS. Nguyễn Ngọc Phú - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Khoa học Tâm Lý-Giáo dục Việt Nam I. CÁC NHÓM MỤC TIÊU CẦN ĐẠT DO NGHỊ QUYẾT 57 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ ĐỀ RA Ngày 22 -12 - 2024 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết đã nêu rõ: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt
16:08 | 20/08/2025

GS.TS. Nguyễn Ngọc Phú -

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký

Hội Khoa học Tâm Lý-Giáo dục Việt Nam

I. CÁC NHÓM MỤC TIÊU CẦN ĐẠT DO NGHỊ QUYẾT 57 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ ĐỀ RA

Ngày 22 -12 - 2024 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết đã nêu rõ: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc”. Nghị quyết đã đề ra các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045, trong đó có nêu rõ về nguồn nhân lực của đất nước và các đòi hỏi về phát triển con người, nguồn nhân lực con người Việt Nam vào năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết chỉ rõ các nhóm mục tiêu cần đạt vào năm 2030 :

1. Trình độ khoa học công nghệ

Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao;

Trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới;

Một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế.

Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á,

Việt Nam thuộc nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử;

Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế.

Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.

2. Đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước

Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%;

Tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%.

Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP.

Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%;

Giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%.

Tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hoá, xã hội, con người Việt Nam, đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.

3. Đầu tư cho phát triển khoa hoc công nghệ

Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%;

Bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển.

Hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được sắp xếp lại bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - ứng dụng - đào tạo.

Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân;

Có từ 40 - 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới;

Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm;

Số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18%/năm,

Tỉ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%.

4. Đầu tư cơ sở hạ tầng cho phát triển khoa học và công nghệ.

Hạ tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng ngang tầm các nước tiên tiến;

Từng bước làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ số như: Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh và một số công nghệ mới nổi.

Phủ sóng 5G toàn quốc.

Hoàn thành xây dựng đô thị thông minh đối với các thành phố trực thuộc Trung ương và một số tỉnh, thành phố có đủ điều kiện.

Thu hút thêm ít nhất 3 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.

5. Quản lý, sử dụng có hiệu quả công nghệ số

Quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị.

Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành;

Khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số, hình thành sàn giao dịch dữ liệu.

Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hoá số đạt mức cao của thế giới.

Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu.

Về tầm nhìn đến năm 2045, nghị quyết 57 chỉ rõ:

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới;

Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.

Thu hút thêm ít nhất 5 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.

Có thể nhận thấy muốn thực hiện tất cả các mục tiêu này tất yếu phải tính kỹ đến các biện pháp quyết liệt nhằm phát triển nguồn lực con người Việt Nam kể từ ngay ngày hôm nay, định hướng cho các thầy /cô giáo các nhà trường các cấp, thực sự chăm sóc trẻ từ lúc mới lọt lòng, chăm lo tốt cho học sinh phổ thông các cấp và đại học, nếu không chúng ta sẽ không thể hoàn thành các mục tiêu mà nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã đề ra.

Quảng cáo

II. MỘT CÁCH NHÌN NHẬN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY CHO ĐẾN NĂM 2030 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045

Về nhân lực hiện đang làm việc và tất yếu, họ sẽ nghỉ hưu. Quy định mới về tuổi nghỉ hưu chỉ rõ: “Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ” [2]. Để nhìn cho rõ hơn về nguồn nhân lực cho đến năm 2030 và xa hơn, đến năm 2045, xin nhìn vào 2 bảng thống kê sau:

Bảng 01: Thống kê đối chiếu nhóm lứa tuổi người đang làm việc và trẻ em hiện đang đi học theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi của NQ 57 vào năm 2030

STT

Năm

Nguồn nhân lực công dân hiện đang làm việc và sẽ được nghỉ hưu vào năm 2030 (theo giới)

Nguồn nhân lực trẻ tuổi (học sinh,sinh viên) hiện đang theo học và sẽ ra trường phục vụ xã hội vào năm 2030

Nam (tuổi)

Nữ (tuổi)

Tuổi

Lớp, bậc học tương ứng vào các năm

2025

57

55

16

11

2026

58

56

17

12

2027

59

57

18

Đại học, Cao đẳng, học nghề năm I

2028

60

58

19

Đại học, Cao đẳng, học nghề năm II

2029

61

59

20

Đại học, Cao đẳng, học nghề năm III

2030

62

60

21

Đại học, Cao đẳng, học nghề năm IV

Bảng 02: Thống kê đối chiếu nhóm lứa tuổi người đang làm việc và trẻ em hiện đang đi học theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi của NQ 57 vào năm 2045

STT

Năm

Nguồn nhân lực công dân hiện đang làm việc và sẽ được nghỉ hưu vào năm 2045 (theo giới)

Nguồn nhân lực trẻ tuổi (học sinh,sinh viên) hiện đang theo học và sẽ ra trường phục vụ

xã hội vào năm 2045

Nam(tuổi)

Nữ (tuổi)

Tuổi

Lớp, bậc học tương ứng vào các năm

2025

42

40

1

Nhà trẻ

2026

43

41

2

Trẻ theo học các lớp mầm non (theo độ tuổi)

2027

44

42

3

2028

45

43

4

2029

46

44

5

2030

47

45

6

1

2030

48

46

7

2

2031

49

47

8

3

2032

50

48

9

4

2033

51

49

10

5

2034

52

50

11

6

2035

53

51

12

7

2036

54

52

13

8

2038

55

53

14

9

2039

56

54

15

10

2040

57

55

16

11

2041

58

56

17

12

2042

59

57

18

Đại học, Cao đẳng, học nghề năm I

2043

60

58

19

Đại học, Cao đẳng, học nghề năm II

2044

61

59

20

Đại học, Cao đẳng, học nghề nămIII

2045

62

60

21

Đại học, Cao đẳng, học nghề năm IV

Bảng 01 và bảng 02 đã cho thấy, để thực hiện tốt các mục tiêu mà Nghị quyết 57 đã đề ra theo mốc 2030, về lứa tuổi học sinh, tại thời điểm này, phải đặc biệt chú ý đến học sinh hiện đang học lớp 11, ở lứa tuổi 16. Với các nhân lực hiện đang làm việc, phải chú ý đến các lứa tuổi cho đến 57 (với nam) và các lứa tuổi cho đến 55 (với nữ).

Nếu theo mục tiêu mốc 2045, tại thời điểm này, về lứa tuổi phải chú ý đến trẻ ngay ngày hôm nay đang là 1 tuổi, là tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Với các nhân lực hiện đang làm việc, phải chú ý đến các lứa tuổi cho đến 42 (với nam) và lứa tuổi cho đến 40 (với nữ).

III. THÁCH THỨC CỦA NỀN GIÁO DỤC ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGƯỜI VIỆT NAM VÀO NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN 2045 NHẰM THỰC HIỆN TỐT NHẤT CÁC MỤC TIÊU NGHỊ QUYẾT 57 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ ĐÃ ĐỀ RA

Thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực đất nước đáp ứng đòi hỏi của Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đang đặt ra nhiều thách thức cho nền giáo dục nước nhà. Các vấn đề này rất cần phải được xem xét một cách nghiêm túc và cần tính đến các giải pháp phù hợp:

1.Thách thức về chỉ số phát triển người (HDI) của nước ta hiện nay còn thấp, mới chỉ đứng ở hàng thứ 6 của Đông Nam Á.

Chỉ số phát triển con người là thước đo phản ánh sự phát triển của con người dựa trên 3 phương diện:

- Sức khỏe: Được thể hiện qua tuổi thọ trung bình

- Tri thức: Được thể hiện qua chỉ số giáo dục

- Thu nhập: Được thể hiện qua tổng thu nhập quốc gia bình quân đầu người.

Căn cứ Quyết định 05/2023/QĐ-TTg, bảng xếp hạng phát triển con người của các quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc các vùng, miền, địa phương, bộ phận dân cư trên địa bàn của một quốc gia, vùng lãnh thổ được phân thành 4 nhóm: Nhóm 1: Đạt mức rất cao với HDI ≥ 0,800; Nhóm 2: Đạt mức cao với 0,700 ≤ HDI < 0,800; Nhóm 3: Đạt mức trung bình với 0,550 ≤ HDI < 0,700 và Nhóm 4: Đạt mức thấp với HDI < 0,550

Theo báo cáo phát triển con người giai đoạn 2021 - 2022 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), chỉ số phát triển con người đã giảm trên toàn cầu 2 năm liên tiếp, nguyên nhân chủ yếu là do dịch Covid-19.

Xét trong khu vực Đông Nam Á, Singapore là quốc gia có chỉ số phát triển con người cao nhất trong khu vực, với HDI đạt 0,939 vào năm 2021. Các vị trí tiếp theo lần lượt là:

- Brunei với HDI đạt 0,829 vào năm 2021, xếp vị trí thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á

- Malaysia với HDI đạt 0,803 >> Xếp vị trí thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á

- Thái Lan với HDI đạt 0,8 >> Xếp vị trí thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á

- Indonesia với HDI đạt 0,705 >> Xếp vị trí thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á

- Việt Nam với HDI đạt 0,703 >> Xếp vị trí thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á

2. Thách thức về thể chất người Việt Nam: Người Việt Nam hiện nay vẫn thuộc loại người thấp bé, nhẹ cân. Đảng và Chính phủ cần có ngay một quyết sách chiến lược nhằm phát triển thể chất con người Việt Nam.

Theo một nghiên cứu năm 2022, chỉ số về sức bền của người Việt Nam liên quan đến hoạt động của hệ tim - mạch ở nam và ở nữ đều xếp vào loại kém so với chuẩn quốc tế. Qua các khảo sát cho thấy, sức bền chung và chuẩn công năng của thanh thiếu niên nông thôn tốt hơn thanh thiếu niên thành thị, Tuy nhiên, ngay cả thanh thiếu niên nông thôn nước ta so với một số nước châu Á và so với chuẩn quốc tế, chỉ số công năng tim và sức bền chung của người Việt Nam chỉ được xếp vào loại trung bình hoặc kém. Chỉ số về sức mạnh của thanh thiếu niên nước ta so với một số nước châu Á cũng chỉ ở loại trung bình.

Như vậy có thể khẳng định, tố chất thể lực của thanh thiếu niên nước ta còn hạn chế. Xã hội văn minh hơn, mức sống tốt hơn trước đây, nhưng do thiếu chế độ dinh dưỡng và chế độ tập luyện hợp lý ngay tại các trường học có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này [3].

3.Trẻ em chúng ta, từ trẻ 1 tuổi ngày hôm nay, theo bảng 02 đã dẫn ra ở trên, chính là nguồn nhân lực cho đất nước vào năm 2045, nhưng hiện chưa được chăm sóc chu đáo. Nạn bạo hành trẻ em vẫn đang xẩy ra tại các nhà trẻ, các trường mầm non gây bất an cho các bậc cha mẹ - những người đang cống hiến hết mình cho sự phát triển xã hội.

Bài báo “Bạo hành trẻ mầm non bị vạch trần: Lời kêu gọi khẩn thiết từ phụ huynh” ngày 14-4-2025 gần đây của một báo đã làm các phụ huynh có con gửi các nhà trẻ phải giật mình. Một giáo viên mầm non (Quảng Nam) đã có hành vi túm chân xách ngược bé 20 tháng tuổi và dùng vật giống cây gỗ đánh liên tiếp vào chân khiến bé khóc thét, thậm chí nhẫn tâm nhét vật cứng vào miệng khi cháu đang khóc, gây ra những tổn thương nghiêm trọng cả về thể chất lẫn tinh thần. Rồi một bảo mẫu thẳng tay tát mạnh vào mặt bé gái chỉ vì bé không chịu ăn. Rồi hành vi của cô giáo mầm non đánh vào đầu, gáy, tát vào mặt, véo tai, ấn vào miệng trẻ trong giờ ăn hoặc giờ sinh hoạt v.v…[4]. Còn nhiều vụ việc nghiêm trọng đau lòng hơn như chúng ta đã thấy khá nhiều trên mạng xã hội. Nhiều vụ xảy ra rất thương tâm làm chúng ta phải giật mình. Theo bảng đã dẫn ở trên, chính là các trẻ này đây, chứ không phải ai khác, trẻ vừa mới sinh ngày hôm nay rất cần phải được cả xã hội quan tâm chăm lo chu đáo hơn ai hết, vì đấy chính là nguồn nhân lực đất nước theo tầm nhìn 2045, nhưng hiện nay hình như chúng ta chưa ý thức rõ điều này.

4. Số trẻ em bị rối loạn phát triển (developmental disorder) tại Việt Nam dường như ngày càng tăng theo quy luật phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật thời đại công nghệ số. Nhà nước không đủ sức giải quyết. Các Hội nghề nghiệp, như Hội Khoa học Tâm lý-Giáo dục Việt Nam hoạt động cũng đã hết sức cố gắng nhưng hiện cũng đang gặp rất nhiều khó khăn về nhân lực trị liệu thực sự có tay nghề.

Một nghiên cứu toàn diện trên 17.277 trẻ từ 18 đến 30 tháng tuổi tại Việt Nam đã cho thấy tỷ lệ phát hiện trẻ có rối loạn phổ tự kỷ là 0,752%. Ở các nước khác, con số này còn cao hơn [5]. Tỷ lệ trẻ có các rối loạn phát triển khác bao gồm chậm nói, chậm hiểu, học kém, tăng động giảm chú ý, trầm cảm…tỷ lệ khá cao. Cho đến nay, nhà nước ta chưa đủ sức, chưa đủ điều kiện giải quyết, chăm lo hỗ trợ cho đối tượng trẻ này. Giải quyết hiện trạng này ở tầm quốc gia sẽ như thế nào? Hội Khoa học Tâm lý- Giáo dục Việt Nam (Hội KHTL-GDVN) hiện có nhiều Trung tâm trực thuộc đang làm nhiệm vụ can thiệp cho trẻ thuộc đối tượng này, nhưng trên thực tế cũng không đủ sức giải quyết vì đội ngũ chuyên gia trị liệu thực sự có tay nghề còn mỏng.

5. Chất lượng các nhà trường phổ thông đang là câu hỏi nhức nhối cho nhiều nhà hoạch định các chính sách phát triển. Chúng ta đang thực hiện cải cách giáo dục theo “Chương trình và sách giáo khoa mới (2018)”. Năm 2025 là năm thực hiện xong vòng 1 cho cả 3 cấp học phổ thông. Chất lượng giáo dục-đào tạo của cả nước tiến bộ, thay đổi như thế nào thì còn cần nhìn nhận lại một cách nghiêm túc. Nhưng đã bắt đầu bộc lộ những bất cập, khiếm khuyết, những băn khoăn từ chính những nhà giáo đang bắt tay thực hiện chương trình cải cách này.

Chất lượng các nhà trường phổ thông đang là câu hỏi nhức nhối cho nhiều nhà hoạch định các chính sách phát triển. Trường công thiếu. Sĩ số của các lớp học lại quá đông, giáo viên không đủ sức chăm lo kỹ cho các học sinh và đương nhiên chất lượng giáo dục không thể đạt theo như mong muốn.

Công văn Bộ gửi các Sở Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục tiểu học năm học 2024-2025 quy định mỗi lớp tiểu học chỉ được bố trí 35 học sinh. Nhưng hiện tại, nhiều nơi lớp cấp Tiểu học, sĩ số lên đến 50 hoặc thậm chí hơn 50 học sinh, rất khó cho giáo viên quan tâm đầy đủ đến tất cả các em và thực hiện đầy đủ các phương pháp theo sách giáo khoa mới. Việc này cũng đồng nghiã với chất lượng giáo dục đương nhiên bị hạ thấp là điều khó tránh khỏi.

Về thực hiện “Chương trình và sách giáo khoa mới (2018)” thông qua khảo sát bước đầu cùng các ý kiến của các chuyên gia tại buổi “Tọa đàm khoa học về chương trình giáo dục phổ thông 2018” do Hội Khoa học Tâm lý-giáo dục Việt Nam tổ chức ngày 13-6-2025 tại Hà Nội [6], ngoài những kết quả khả quan của vòng 1 không thể phủ nhận được đã bắt đầu nảy sinh những vấn đề rất cần phải nghiêm túc nhìn nhận lại:

- Đã thấy có không ít giáo viên phổ thông không mặn mà lắm với chương trình và các sách giáo khoa (SGK) hiện đang sử dụng;

- Có giáo viên đã bộc lộ, cả nước nếu cứ thống nhất 1 bộ sách giáo khoa, dễ dạy hơn;

- Những tâm tư phản hồi từ chính người dạy đã cho thấy việc thực hiện "Chương trình và sách giáo khoa 2018" đã gặp phải một số khó khăn chính sau đây: i) Chậm thích nghi với đổi mới. Một số cơ sở giáo dục và giáo viên gặp khó khăn trong việc thích nghi với các nội dung và phương pháp giảng dạy mới theo chương trình mới, đặc biệt là giáo viên cần thời gian để làm quen và cập nhật kỹ năng; ii) Chất lượng sách giáo khoa chưa đồng đều. Một số sách giáo khoa mới còn tồn tại những hạn chế về nội dung, phương pháp tiếp cận chưa phù hợp hoặc còn thiếu các hoạt động thực hành, trải nghiệm sáng tạo phù hợp với mục tiêu đổi mới giáo dục. Nội dung sách giáo khoa mới còn quá nặng về lý thuyết, thiếu thực tiễn, chưa phù hợp với phương pháp giảng dạy hiện đại, chưa chú trọng phát triển kỹ năng, tư duy của học sinh. Nội dung, phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp, chưa đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong toàn quốc. Nội dung của sách giáo khoa mới còn thiếu tính phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến địa phương, vùng miền hoặc các kỹ năng thực hành cần thiết cho học sinh. Một số giáo viên và phụ huynh lo ngại rằng việc thay đổi sách giáo khoa đã quá đột ngột, gây khó khăn trong quá trình thích nghi, dẫn đến giảm hiệu quả dạy và học, đặc biệt là ở các địa phương còn hạn chế về nguồn lực.; iii) Nhà trường còn thiếu trang thiết bị và tài liệu hỗ trợ. Các cơ sở giáo dục, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu các thiết bị dạy học không chỉ các thiết bị hiện đại, mà ngay cả các thiết bị thông thường; iv) Nguồn lực tài chính hạn chế. Việc cập nhật sách giáo khoa mới và đào tạo đội ngũ giáo viên đòi hỏi kinh phí lớn, trong khi nguồn lực ngân sách còn hạn chế, gây khó khăn trong quá trình triển khai. Việc đổi mới sách giáo khoa đòi hỏi phải mua mới sách, gây ra gánh nặng tài chính cho phụ huynh, đặc biệt ở các khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn; v) Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên chưa đồng bộ. Một số giáo viên chưa được đào tạo đầy đủ về nội dung mới, phương pháp giảng dạy theo chương trình mới, dẫn đến việc giảng dạy chưa thực sự phù hợp hoặc còn gặp lúng túng; vi). Một bộ phận giáo viên, phụ huynh và học sinh còn chưa thực sự hiểu rõ mục tiêu của chương trình mới, dẫn đến tâm lý chưa sẵn sàng, gây ra những trở ngại trong quá trình triển khai. Đã có giáo viên băn khoăn: Dạy để phát triển năng lực thì còn được, nhưng dậy để phát triển phẩm chất cho học sinh thì làm thế nào trong mấy chục phút giảng bài, bừa bộn biết bao nhiêu kiến thức, đặc biệt các kiến thức về khoa học tự nhiên, lại làm được việc này; vii) Đã xuất hiện những thách thức trong việc đánh giá, kiểm tra kết quả do hệ thống đánh giá, kiểm tra chưa được điều chỉnh đầy đủ phù hợp với yêu cầu của chương trình mới v.v…

- Phụ huynh do đòi hỏi của công việc phải chuyển chỗ ở, nhưng con mình mà chuyển trường thì lại không được, vì các trường thực hiện theo các sách khác nhau, rất khó cho các em khi phải chuyển trường;

- Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định không cho giáo viên dạy thêm. Phụ huynh thì băn khoăn, con mình nếu không cho đi học thêm thì không thi đỗ được;

- Về đào tạo đại học, kết quả của một đợt chấm thi Đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên mà tác giả bài viết này có tham dự đã cho thấy các em sinh viên của chúng ta viết kém quá, có thể nói là phần đông các em sinh viên đã không biết viết một đề tài NCKH. Câu chữ, cách dùng từ, cách viết, cách diễn đạt lủng củng, chấm, phẩy lung tung. Xin nói thêm, chúng tôi đã chứng kiến, cả các em đã tốt nghiệp đại học, có bằng cử nhân, hiện đang đi làm tại các cơ quan công quyền của Nhà nước cũng vậy. Cứ như thế này thì nguồn nhân lực của đất nước làm sao có thể đáp ứng nổi những đòi hỏi của Nghị quyết 57 vào năm 2030, và tầm nhìn đến 2045.

Xin dẫn ra một số thách thức liên quan đến trọng trách của các Thầy, Cô giáo các cấp nhằm cùng nhau tìm phương án giải quyết, thực hiện tốt nhất các mục tiêu mà Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã đề ra./.

-----------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22-12-2024

2- https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/tu-van-phap-luat/53972/quy-dinh-tuoi-nghi-huu-cua-nld-moi-nhat-tu-nam-2024

3-https://susta.vn/da-chieu/thuc-trang-the-chat-nguoi-viet-nam-22078

4-https://suckhoedoisong.vn/bao-hanh-tre-mam-non-bi-bi-vach-tran-loi-keu-goi-khan-thiet-tu-phu-huynh-169250413224857454.htm

5-Sách “Can thiệp rối loạn phát triển dựa trên bằng chứng”, Hội Khoa học Tâm lý-Giáo dục Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2021, tr. 31.

6-https://hoitamlygiaoduc.org/toa-dam-khoa-hoc-ve-chuong-trinh-giao-duc-pho-thong-2018/