PGS. TS. NGƯT Trần Đình Tuấn -
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Tóm tắt: Ngày 2 tháng 9 năm 1969, một trái tim lớn đã ngừng đập, nhưng chủ nghĩa nhân văn cao cả Hồ Chí Minh vẫn tỏa sáng từ đó đến nay và mãi mãi về sau. Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho dân tộc ta bản Di chúc thấm đượm chủ nghĩa nhân văn cách mạng và tình thương yêu con người vô hạn. Tiếp tục nghiên cứu, học tập và làm theo tấm gương đạo đức nhân văn Hồ Chí Minh là một nội dung thiết thực trong dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và 56 năm thực hiện Di chúc của Người.
Từ khóa: Học tập và làm theo, Đạo đức nhân văn, Di chúc Hồ Chí Minh
Nhận bài:30/8/2025; Biên tập: 2/9/2025; Duyệt đăng: 3/9/2025
1. Đặt vấn đề
Tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9 tháng 9 năm 1969, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đọc Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, trong đó có đoạn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Những ngày này, người dân trong cả nước đang náo nức kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây cũng là dịp kỷ niệm 56 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong giờ phút trọng đại này, mọi người dân Việt Nam không ai không nhớ đến Bác Hồ kính yêu. Điều đầu tiên chúng ta nhớ đến Bác đó là đạo đức của một con người suốt đời vì nước vi dân, đó là tình thương yêu con người vô hạn và ý chí quyết tâm giải phóng hoàn toàn con người. Theo Hồ Chí Minh, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Giành được độc lập dân tộc mới chỉ là giải phóng con người khỏi giặc ngoại xâm, phải tiếp tục giải phóng con người khỏi “giặc đói”, “giặc dốt”, phải làm cho mọi người dân ai cũng có cơn ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó là những giá trị tư tưởng đạo đức nhân văn cách mạng Hồ Chí Minh được thể hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng và được khái quát trong bản Di chúc của Người.
Tiếp tục học tập, làm theo tấm gương đạo đức nhân văn Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay là một nội dung thiết thực trong dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và 56 năm thực hiện Di chúc của Người.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Chủ nghĩa nhân văn cách mạng – một giá trị tư tưởng đạo đức xuyên suốt trong Di chúc Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa nhân văn cách mạng của Hồ Chí Minh không phải là một thứ chủ nghĩa được viết ra bằng sách vở mà nó được toát ra từ toàn bộ cuộc đời liên tục tranh đấu không biết mỏi, không lúc nghỉ ngơi, đã gặt hái nhiều thành quả và còn gửi gắm lại nhiều kỳ vọng ở đời sau. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đặc biệt trong sáng và cao cả vì người cưu mang nó là một người vì nghĩa quên mình, suốt đời tận tụy mà không hề nghĩ đến bản thân danh lợi. Chủ nghĩa nhân văn cách mạng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị văn hóa của con người Việt Nam và các giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại, được hình thành, phát triển trên cơ sở cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Chủ nghĩa nhăn văn cách mạng Hồ Chí Minh không chỉ là sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam mà cũng là sản phẩm chung của nhân loại, đã và đang được lan tỏa trên toàn thế giới. Montaron, nhà báo người Pháp trong báo "Témoignages chrétiens" đã viết: "Cụ Hồ Chí Minh là một chiến sĩ đầu tiên của thế giới thứ ba, của các dân tộc nghèo đói thèm khát một cuộc sống cho ra người. Cụ đã dạy họ rằng muốn được giải phóng thì phải dựa vào sức mình là chính và một dân tộc chỉ có thể sống còn khi mà dân tộc ấy không chịu sống nô lệ. Nhất là Cụ dạy rằng cuộc chiến đấu vì nhân phẩm và tự do phải được đặt lên trên mọi cuộc chiến đấu khác. Cụ đã đem hết sức mình để mang lại cơm ăn nước uống cho những ai đói khát. Cụ đã bênh vực những người yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ. Bởi vậy, xin chúc Người yên nghỉ và mong rằng những người yêu chuộng công lý phải tiếp tục trên cương vị mình cuộc chiến đấu của Cụ vì nhân phẩm và tự do của các dân tộc bị chà đạp" [3, tr.237]. Nhà triết học B.Roussell khẳng định Cụ Hồ Chí Minh trước hết là một người nhân văn chủ nghĩa. Đúng như ý của Montaron, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn giải thoát của những tầng lớp yếu hèn lao khổ, của các dân tộc bị chà đạp, giải thoát chính bằng ý thức lực lượng của mình; nó lớn, rất lớn là vì vậy.
2.2. Tấm lòng thương dân vô hạn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một di sản vô cùng quý giá mà trước lúc đi xa Người đã để lại cho dân tộc ta, đất nước ta. Di chúc vừa là những lời căn dặn của một lãnh tụ vĩ đại trước lúc đi xa, vừa là một bản văn kiện chỉ ra phương hướng cho cách mạng Việt Nam và phong trào cộng sản quốc tế. Điều đặc biệt trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh trong đó những tư tưởng nhân văn tất cả vì con người. Sinh thời, Người chỉ có một ước mơ cháy bỏng là: Nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Suốt cuộc đời Người đã chiến đấu, hy sinh nhằm thực hiện các mục tiêu bình dị và cao thượng đó. Cho đến lúc phải từ biệt thế giới này, Người vẫn lo cho nước, cho dân, cho những người ở lại. Toàn bộ bản Di chúc cùng với cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã toát lên một tư tưởng nhân văn cao cả: vì nước, vì dân, thương yêu, quý trọng con người, quan tâm đến con người, tất cả vì con người.
Mở đầu bản Di chúc, Người nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Đó là nhiệm vụ cách mạng trung tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc. Nhưng đó cũng là sự trăn trở, nỗi khổ tâm của Hồ Chí Minh đối với những mất mát hy sinh của người dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Người nói lên ý định của mình và cũng là căn dặn những người lãnh đạo đất nước sau ngày chiến thắng phải đi khắp hai miền đất nước để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý. Tình thương yêu con người được thể hiện ở sự cảm thông, chia sẻ về những mất mát, hy sinh của người dân trong chiến tranh và ở hành động sẽ đi thăm hỏi, chúc mừng các tầng lớp nhân dân sau khi chiến thắng.
Trong bản Di chúc, Người đặt vấn đề “Trước hết nói về Đảng”. Cách đặt vấn đề như vậy đã toát lên một tư tưởng chiến lược cách mạng, vừa nói lên vai trò, sứ mệnh của Đảng, vừa khẳng định sự cần thiết phải xây dựng Đảng. Người chỉ ra các biện pháp xây dựng Đảng thật trong sạch vững mạnh, làm cho Đảng luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, trung thành với nhân dân, để mỗi đảng viên phải toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Trong lời căn dăn cuối cùng về Đảng, Hồ Chí Minh nói: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”
Như vậy, sự quan tâm của Người về Đảng, thực chất là quan tâm tới dân. Bởi vì, theo Người, Đảng là một tổ chức cầm quyền phục vụ giai cấp, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mặc dù Đảng là một tổ chức lãnh đạo nhưng cuối cùng vẫn chỉ là người đày tớ của nhân dân.
Đối với đoàn viên, thanh niên, Người căn dặn Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo, bồi dưỡng họ thành những người vừa “hồng” vừa “chuyên”. Lời căn dặn đó đã nói lên tình cảm thương yêu, sự quan tâm săn sóc của Người đối với thế hệ trẻ. Đó cũng là sự thể hiện nhất quán trong tư tưởng “trồng người” của Hồ Chí Minh.
Đối với nhân dân lao động, Người xót xa chia sẻ những khó khăn, gian khổ, những hy sinh, mất mát của đồng bào cả nước, Người chỉ ra tình cảm thuỷ chung, ân tình, ân nghĩa của dân giành cho Đảng. Người căn dặn “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Thể hiện lòng thương dân, sự quan tâm đến dân.
Lòng thương yêu con người vô hạn, yêu thương đồng bào đồng chí, không phân biệt nguồn gốc, già trẻ gái trai, tôn giáo, hễ là người Việt Nam đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Trong lời bổ sung bản thảo di chúc tháng 5 năm 1968, Người chỉ ra những công việc tiếp theo mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải chủ động tiến hành ngay sau khi kết thúc chiến tranh. Người đặt vấn đề “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Người quan tâm đến từng đối tượng người cụ thể.
Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình cho cuộc kháng chiến, Người căn dặn: “Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp để họ có dần dần tự lực cánh sinh”.
Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương phải xây dựng vườn hoa, bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của họ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.
Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ), chính quyền phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.
Người căn dặn phải hết sức quan tâm đến những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong, phải bồi dưỡng họ thành lực lược chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội; phải có kế hoạch giúp đỡ đối với phụ nữ để họ vươn lên bình đẳng; phải có chính sách giáo dục, cải tạo đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, giúp họ trở thành người lao động lương thiện.
Đối với nông dân, Người đề nghị Chính phủ “miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.
Mấy điểm viết thêm này đã toát lên một tấm lòng thương dân, một niềm tin và thái độ trách nhiệm của lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với con người. Tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở lòng tin khoa học vào phẩm giá của con người, tin vào khả năng chân thiện mĩ, tin vào bản tính tốt đẹp của con người, tin vào khả năng giáo dục, cải tạo con người. Đó chính là lòng tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Tính nhân văn trong di chúc còn được thể hiện ở lòng khoan dung rộng lớn của Hồ Chí Minh trước tính đa dạng của con người.
Kết thúc bản di chúc, Người viết: “Cuối cùng tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”. Như vậy, mở đầu và kết thúc của bản di chúc đã phản ánh tư tưởng nhân văn xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã được bắt đầu xuất phát từ tình thương yêu con người và kết thúc cuối cùng là để lại muôn vàn tình thương yêu cho con người.
2.3. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức nhân văn cách mạng Hồ Chí Minh
Một là, học tập và làm theo tư tưởng lấy con người làm trung tâm
Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đã được bạn bè quốc tế đánh giá: “Tầm cỡ của một hiền triết chưa chắc ở chỗ giải đáp mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ xác định thế giới là thực tại hay ảo ảnh, khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều quen thuộc hay sáng tạo mới lạ, mà chung quy là ở mức quan tâm đến con người, con người thật đang sống trên quả đất này và chắc còn sống lâu dài đến vô tận thời gian, lấy đó làm trung tâm của mọi suy tư và chủ đích của mọi hành động. Cụ Hồ thuộc loại hiền triết đó [2, tr.83].
Cảm nhận đầu tiên mỗi khi nói đến Cụ Hồ đó là tính nhân văn cao cả. Bởi vì Hồ Chí Minh luôn lấy con người làm trung tâm và mục đích cuối cùng của mọi hành động. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một phạm trù triết học mà con người là chủ thể của hoạt động, là đối tượng được hưởng kết quả của hoạt động.
Thực hiện tư tưởng lấy con người làm trung tâm, trong kháng chiến chúng ta đã chiến thắng được những đội quân có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại. Ngày nay trong hoà bình, xây dựng, với tư tưởng lấy con người làm trung tâm chúng ta đã và đang phát huy được nội lực của dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách vươn lên để tự khẳng định mình. Tuy nhiên, trước sự vận động, phát triển của thời đại, tư tưởng lấy con người làm trung tâm đang đặt ra những yêu cầu mới cho con người. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải làm thế nào để con người có đủ phẩm chất, năng lực và điều kiện tự mình trở thành trung tâm.
Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải biết xây dựng những chủ trương, biện pháp hợp lòng dân, phải tạo điều kiện để người dân thực sự trở thành người làm chủ xã hội, phải phát huy được vai trò chủ thể của người dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ. Mỗi chủ trương, chính sách, mỗi quyết định đưa ra và mỗi hành động của các cấp lãnh đạo phải xuất phát từ nhu cầu của người dân, phải tính toán đến lợi ích của dân, đặt lợi ích của dân lên trên hết và cuối cùng phải làm cho đời sống của người dân được cải thiện tốt hơn.
Hai là, học tập và làm theo tư tưởng thương yêu con người, quan tâm đến con người.
Triết lý nhân sinh, lấy con người làm trung tâm là cơ sở cho sự hình thành chủ nghĩa nhân văn cách mạng Hồ Chí Minh. Cội nguồn của chủ nghĩa nhân văn ấy là truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn ấy là lòng thương yêu, quý trọng con người gắn với lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn. Hành động biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn ấy là sự quan tâm đến con người, tạo điều kiện cho con người được phát triển hoàn toàn.
Vấn đề con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được thể hiện trong Di chúc là tình yêu thương đối với tất cả mọi tầng lớp người dân trong xã hội. Thương yêu con người, quan tâm đến con người là con đường, biện pháp tốt nhất để thu phục nhân tâm, cải tạo và giáo dục con người. Mọi hoạt động giáo dục chỉ có thể đạt được hiệu quả khi mà hoạt động đó thật sự xuất phát từ tình thương yêu con người, vì con người.
Ngày nay, một trong những nguyên nhân làm cho mối quan hệ giữa dân với Đảng không còn gắn bó máu thịt như trong thời kỳ kháng chiến là vì một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, không những không ăn cùng dân, không ở cùng dân mà còn ăn ở xa hoa theo kiểu “đế vương”, không hoà đồng cùng dân, không quan tâm đến dân. Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tình thương yêu con người, quan tâm đến con người là phải quay lại với nguyên tắc Hồ Chí Minh rằng, dân chưa có cơm ăn, cán bộ không được kêu mình đói; dân chưa có áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét; cán bộ phải lo trước cái lo của dân, vui sau cái vui của dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự trở thành “đầy tớ” của dân, thương dân, gần gủi dân, quan tâm đến dân, tất cả vì dân.
Ba là, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức nhân văn cách mạng Hồ Chí Minh về lòng khoan dung đối với con người, mở đường cho con người tiến bộ.
Hồ Chí Minh quan niệm rằng, đã là con người thì ai cũng có ưu điểm, nhược điểm. Trong bàn tay có ngón dài, ngón ngắn, trong hàng ngìn người cũng có người thế này, người thế kia. Nhưng các ngón tay đều ở trên một bàn tay, người này hay người khác đều là nòi giống Lạc Hồng.
Từ quan điểm đó, Hồ Chí Minh rất rộng lòng khoan dung đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Theo Hồ Chí Minh, những người có sai lầm khuyết điểm cần phải thẳng thắn chỉ cho họ thấy để họ sửa chữa. Không nên có thái độ xa lánh hay trì triết, moi móc theo kiểu “Dậu đổ bìm leo”.
Đối với cán bộ Đảng viên có khuyết điểm, Hồ Chí Minh ân cần chỉ bảo và nâng niu trân trọng khuyến khích mặt tốt của họ.
Đối với kẽ thù, họ cũng là con người, khi họ đã đầu hàng thì phải có chính sách tù hàng binh, không được đối xử ngược đãi họ. Hồ Chí Minh đã viết: Trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người…Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau. Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh không được vô cơ sát hại kiều dân. Người quan tâm đến cả những nạn nhân của chế độ cũ. Người đề nghị phải giáo dục, cải tạo và giúp họ trở nên những người lao động lương thiện.
Bài học cho các nhà sư phạm, các nhà lãnh đạo là phải biết giáo dục, cảm hoá con người bằng tấm lòng khoan dung độ lượng. Đó là phương pháp giáo dục Hồ Chí Minh và cũng là một giá trị đạo đức truyền thống của con người Việt Nam, một phẩm chất đạo đức cao đẹp của người cách mạng.
Bốn là, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức nhân văn Hồ Chí Minh về tinh thần quyết tâm giải phóng con người.
Tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh là tình yêu thương của một người chiến sĩ cộng sản. Tình thương yêu đó không dừng lại sự đồng cảm, thương xót mà phải tìm cách giải phóng con người, đem lại tự do hạnh phúc cho con người. Hồ Chí Minh khẳng định, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng. Mục tiêu của cách mạng là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Thực chất giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp cuối cùng cũng là giải phóng con người, đem lại tự do hạnh phúc cho con người. Giải phóng con người bao gồm giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột của kẽ thù ngoại bang và của giai cấp; giải phóng con người khỏi những lễ nghi hà khắc của chế độ đẳng cấp Phong kiến và giải phóng con người khỏi sự lạc hậu, ngu dốt.
Sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người là do chính bản thân con người thực hiện. Con người vừa là mục tiêu giải phóng vừa là động lực của cách mạng. Xét đến cùng, hạt nhân của chiến lược cách mạng cũng là chiến lược con người, vì con người. Chiến lược phát triển con người lại trở thành động lực chủ yếu cho chiến lược phát triển xã hội. Vì vậy, đồng thời với cách mạng xã hội phải tiến hành giải phóng con người.
Với tinh thần đó, giải phóng con người trong bối cảnh hiện nay là phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để có thể phát triển hoàn toàn con người. Nghĩa là, phải giải phóng mọi tiềm năng vốn có của con người, làm cho con người thật sự trở thành động lực chủ yếu của cách mạng. Giải phóng con người vừa là mục tiêu của xã hội vừa là sứ mệnh của hệ thống giáo dục, của đội ngũ giảng viên các cấp.
Năm là, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lời nói với việc làm.
Đọc Di chúc Hồ Chí Minh chúng ta thấy vừa toát lên một tư tưởng về tình yêu thương con người, vừa hiện lên những tình cảm thân thiết của Người đối với các tầng lớp nhân dân. Tình thương yêu, quý trọng con người thể hiện trong Di chúc không phải chỉ ở những lời nói lý luận mà còn được thể hiện ở sự chỉ dẫn các hành động đối xử với con người. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn hành động. Bản thân Hồ Chí Minh luôn luôn thực hiện nguyên tắc nói đi đôi với làm, đôi khi Người quan tâm đến làm nhiều hơn nói.
Ngày nay, một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức hiện nay bị giảm sút là vì thiếu sự thống nhất giữa lời nói với việc làm, giữa lý luận về đạo đức với thực hành đạo đức. Vì vậy, học tập đạo đức Hồ Chí Minh là học tập tinh thần thống nhất giữa lời nói với việc làm. Phải xây dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá hành vi đạo đức của từng loại đối tượng cán bộ. Học tập và làm theo Di chúc Hồ Chí Minh về đạo đức nhân văn trong điều kiện hiện nay là phải thực hành rèn luyện hành vi đạo đức cách mạng. Đi đôi với việc rèn luyện hành vi đạo đức theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phải tích cực tham gia đấu tranh chống lại các biểu hiện của đạo đức giả tạo, chống lại sự tách rời giữa lời nói hay về đạo đức với những việc làm phi đạo đức của một số cán bộ, đảng viên.
3. Kết luận
Sau 56 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi hết sức to lớn. Ngày nay, tình hình thời cuộc đang có những biến động phức tạp, khó lường nhưng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vẫn quyết tâm thực hiện thắng lợi Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cho Tổ quốc ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đầy khó khăn, gian khổ, chủ nghĩa nhân văn cách mạng và những giá trị tư tưởng đạo đức cao cả của Hồ Chí Minh trong Di chúc vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng những bước đường của nhân dân ta trong kỷ nguyên mới, đi đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tài liệu tham khảo
[1]. Phạm Minh Hạc, Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Thứ Tư, 7/10/2015 14:56'(GMT+7). https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/chu-nghia-nhan-van-ho-chi-minh-2525
[2]. Trần Văn Giàu, Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh - đặc điểm và cội nguồn, Nxb. Khoa học xã hội, H., 1990.
[3]. Trần Văn Giàu, Hồ Chí Minh vĩ đại một con người, Nxb CTQG – ST, Hà Nội, 2014, tr 83 – 91
[4]. UNESCO và Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, H., 1990, tr. 237.