PGS.TS. Tô Bá Trượng -
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Email:[email protected]
Tóm tắt: Một trong những điểm nhấn quan trọng trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 là việc đưa nội dung giáo dục địa phương vào thành phần bắt buộc trong chương trình các cấp học phổ thông. Đây là một định hướng chiến lược nhằm tăng cường sự gắn kết giữa giáo dục và thực tiễn cuộc sống, giữa nhà trường và cộng đồng, đồng thời phát huy tính đặc thù văn hóa, lịch sử, kinh tế - xã hội của từng địa phương. Tuy nhiên, việc triển khai GDPT nói chung và GDĐP nói riêng ở các tỉnh miền núi phía Bắc còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Mặc dù đã có nhiều chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm hỗ trợ phát triển giáo dục ở vùng này, nhưng việc thực thi còn nhiều vấn đề đặt ra cả về lý luận, mô hình tổ chức, nội dung chương trình và hiệu quả thực tiễn. Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận cũng như các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về GDPT và GDĐP ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Thông qua đó nhằm có cái nhìn nhận khách quan hiệu quả của các chính sách giáo dục hiện hành, đồng thời chỉ ra những bất cập trong thực tiễn hiện nay.
Từ khóa: Chủ trương, Chính sách, Giáo dục phổ thông, Giáo dục địa phương, Miền núi phía Bắc
Nhận bài:15/9/2025; Biên tập: 19/9/2025; Duyệt đăng: 20/9/2025
1. Đặt vấn đề
Miền núi phía Bắc là khu vực có diện tích rộng lớn, địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, dân cư phân bố không đều, và đa số là người dân tộc thiểu số như: Mông, Dao, Tày, Nùng, Thái, Hà Nhì… Những yếu tố đặc thù này đã và đang tạo ra nhiều thách thức đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nói chung và giáo dục nói riêng. Việc triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách giáo dục phổ thông và giáo dục địa phương ở miền núi phía Bắc chịu tác động lớn từ điều kiện kinh tế – xã hội đặc thù của khu vực. Một số đặc điểm nổi bật có thể kể đến:
- Tỷ lệ hộ nghèo cao, thu nhập bình quân thấp, đây là vùng có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao nhất cả nước, đặc biệt là ở các huyện vùng sâu, vùng xa như Mường Nhé (Điện Biên), Mù Cang Chải (Yên Bái), Bắc Yên (Sơn La)...Thu nhập bình quân đầu người tại nhiều huyện miền núi chỉ bằng 40–60% mức trung bình toàn quốc, gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đầu tư cho học tập của các hộ gia đình, khiến học sinh có nguy cơ bỏ học sớm để lao động phụ giúp gia đình.
- Tình trạng mù chữ và tái mù chữ vẫn còn tồn tại, dù công cuộc xóa mù chữ đã đạt nhiều kết quả, nhưng tại các bản làng xa trung tâm, một bộ phận người dân, đặc biệt là phụ nữ lớn tuổi, vẫn chưa biết chữ hoặc đã tái mù chữ sau khi tham gia các lớp phổ cập, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường học tập tại nhà và việc hình thành ý thức học tập suốt đời trong cộng đồng.
- Hạ tầng giáo dục yếu, thiếu trường lớp: Nhiều điểm trường lẻ còn thiếu phòng học kiên cố, nhà vệ sinh, nước sạch, khu nội trú cho học sinh bán trú. Đặc biệt, bậc mầm non và THCS đang gặp khó khăn lớn trong đáp ứng nhu cầu học tập; Khoảng cách địa lý xa, đường sá đi lại khó khăn, giao thông bị chia cắt vào mùa mưa khiến học sinh mất nhiều thời gian, công sức để đến trường – là một trong những nguyên nhân gây bỏ học.
- Trình độ dân trí không đồng đều, rào cản về ngôn ngữ. Miền núi phía Bắc có hơn 30 dân tộc thiểu số sinh sống, sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau, trẻ em trong độ tuổi đến trường nhiều khi không sử dụng tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ, dẫn đến khó khăn trong tiếp thu kiến thức, nhất là ở lớp 1, lớp 2, một số phụ huynh chưa thực sự nhận thức rõ vai trò của giáo dục, vẫn còn tư tưởng coi việc học là không cần thiết, nhất là đối với trẻ em gái hoặc học sinh sau tiểu học.
Những đặc điểm này không chỉ là thách thức về mặt quản lý và tổ chức giáo dục, mà còn là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự chênh lệch chất lượng giáo dục giữa miền núi và đồng bằng. Do đó, khi đánh giá hiệu quả chính sách và đề xuất giải pháp, cần tiếp cận từ góc độ liên ngành, kết hợp giữa giáo dục, phát triển kinh tế, y tế, giao thông và văn hóa bản địa.
Những yếu tố trên đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển giáo dục phổ thông một cách toàn diện, đồng thời phải gắn chặt với văn hóa, điều kiện sống và nhu cầu thực tiễn của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương. Đây chính là nền tảng để Đảng và Nhà nước xây dựng các chính sách đặc thù cho khu vực miền núi phía Bắc.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Sự ra đời của các chủ trương lớn về giáo dục phổ thông và giáo dục địa phương
2.1.1. Tổng quan một số văn bản về giáo dục phổ thông và giáo dục địa phương
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013. Đây là văn kiện mang tính bước ngoặt, đánh dấu chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong đó, Đảng đã xác định rõ việc “đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống; gắn giáo dục với thực tiễn, giáo dục với lao động sản xuất; quan tâm đến giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo”.
- Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018. Một điểm mới nổi bật của chương trình này là đưa nội dung giáo dục địa phương trở thành một thành phần bắt buộc trong cơ cấu chương trình học ở tất cả các cấp học. GDĐP được xác định nhằm giúp học sinh hiểu biết về lịch sử, địa lý, văn hóa, kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt để phát huy truyền thống, bản sắc dân tộc, gắn kết học sinh với cộng đồng, bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm công dân tại địa phương.
- Vai trò của nội dung giáo dục địa phương đối với học sinh miền núi phía Bắc. Trong bối cảnh miền núi phía Bắc có đặc điểm văn hóa đa dạng, giàu bản sắc nhưng cũng đối mặt với nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế – xã hội, nội dung giáo dục địa phương không chỉ mang tính bổ trợ, mà còn là một cấu phần thiết yếu giúp học sinh hình thành tri thức gắn với thực tiễn cuộc sống. Cụ thể: 1).Giúp học sinh hiểu biết về lịch sử, địa lý, văn hóa, kinh tế – xã hội của địa phương. Thông qua việc học về lịch sử kháng chiến, truyền thống làng bản, địa danh, các sản phẩm nông – lâm nghiệp đặc trưng, học sinh hiểu sâu sắc hơn về quê hương, tìm hiểu tập quán sản xuất, môi trường sinh thái địa phương giúp các em có cái nhìn thực tiễn, tạo tiền đề cho định hướng nghề nghiệp sau này. 2). Phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Học sinh dân tộc thiểu số được học và biểu diễn lễ hội, điệu múa, làn điệu dân ca, ẩm thực, trang phục... của chính dân tộc mình, tạo nên sự tự hào và động lực học tập. Các nhà trường lồng ghép nội dung bảo tồn văn hóa qua hoạt động trải nghiệm, câu lạc bộ nghệ thuật dân gian, giúp khơi dậy tình yêu quê hương, ý thức gìn giữ giá trị truyền thống trong thế hệ trẻ. 3). Gắn kết học sinh với cộng đồng, bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm công dân. Giáo dục địa phương giúp học sinh hiểu rõ hơn về vấn đề phát triển của địa phương mình, từ đó hình thành ý thức trách nhiệm trong bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh bản làng, giúp đỡ người yếu thế… Qua các dự án học tập cộng đồng, học sinh có cơ hội giao lưu với người dân, thực hiện khảo sát, phỏng vấn, tổ chức hội chợ, làm video tuyên truyền… – từ đó phát triển năng lực sống, kỹ năng mềm và năng lực công dân.
Nội dung giáo dục địa phương, nếu được thiết kế phù hợp với đặc trưng vùng miền và năng lực học sinh, sẽ là cầu nối giữa nhà trường – học sinh – cộng đồng, giúp giáo dục trở thành một hoạt động “gần dân, sát đất” hơn bao giờ hết.
- Một số văn bản quy phạm pháp luật tiêu biểu về GDPT và nội dung GDĐP. Trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quan trọng quy định và hướng dẫn triển khai chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) và giáo dục địa phương (GDĐP). Ba văn bản sau đây có ý nghĩa nền tảng và thực tiễn sâu sắc:
1).Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018. Đây là văn bản chính thức ban hành Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, áp dụng từ năm học 2020–2021 đối với lớp 1 và triển khai theo lộ trình các năm sau. Tại Điều 3, Thông tư quy định chương trình GDPT mới gồm hai phần: Phần bắt buộc chung áp dụng trên toàn quốc; Phần nội dung giáo dục của địa phương (GDĐP): mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng riêng phù hợp với điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội.
Thời lượng dành cho nội dung GDĐP là: 105 tiết/năm học ở cấp tiểu học và trung học cơ sở (THCS); 70 tiết/năm học ở cấp trung học phổ thông (THPT).
2). Thông tư số 33/2020/TT-BGDĐT ngày 05/11/2020. Thông tư này hướng dẫn cụ thể việc xây dựng và tổ chức thực hiện nội dung GDĐP trong chương trình GDPT 2018; Giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở GD&ĐT phối hợp với các sở, ngành liên quan tổ chức biên soạn tài liệu GDĐP, trình Hội đồng thẩm định thông qua; Tạo cơ chế chủ động cho các địa phương lựa chọn nội dung như: Lịch sử – văn hóa dân tộc thiểu số; Môi trường, sinh thái địa phương; Hoạt động nghề truyền thống, sản vật địa phương; Bảo vệ an ninh, quốc phòng tại địa bàn dân cư...
3). Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 15/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Quyết định này phê duyệt chương trình phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2021–2030, với mục tiêu cụ thể: Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, xóa mù chữ bền vững; Tăng cường dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số; Phát triển đội ngũ giáo viên là người dân tộc; Ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất trường học, đặc biệt là trường bán trú, trường nội trú.
Văn bản này đóng vai trò hỗ trợ và định hướng cho việc tổ chức thực hiện GDPT và GDĐP tại các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng và vùng dân tộc thiểu số nói chung.
Các văn bản trên thể hiện rõ tầm nhìn của Nhà nước trong việc đảm bảo sự công bằng và chất lượng giáo dục ở vùng khó khăn, đồng thời khuyến khích sự linh hoạt, sáng tạo của địa phương trong giáo dục gắn với bản sắc văn hóa và nhu cầu phát triển bền vững.
2.1.2. Một số chính sách hỗ trợ thiết thực cho giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số và miền núi
- Nghị định số 116/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ. Quy định chính sách hỗ trợ học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm. Sinh viên sư phạm được: Miễn học phí toàn khóa, được hỗ trợ 3,63 triệu đồng/tháng để chi trả chi phí sinh hoạt. Đổi lại, sinh viên phải cam kết công tác tại các cơ sở giáo dục vùng khó khăn sau khi tốt nghiệp (thời gian phục vụ tối thiểu bằng thời gian được hỗ trợ). Đây là chính sách mang tính chiến lược nhằm: Giải quyết tình trạng thiếu giáo viên tại vùng sâu, vùng xa; Khuyến khích nguồn nhân lực trẻ gắn bó lâu dài với giáo dục miền núi; Cải thiện chất lượng dạy học, đặc biệt các môn như tiếng Việt, Toán, và giáo dục kỹ năng sống.
- Chương trình 135 (thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững). Là chương trình lớn của Chính phủ nhằm hỗ trợ các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nội dung liên quan đến giáo dục bao gồm: Đầu tư xây dựng, cải tạo trường lớp học, nhà công vụ giáo viên, cung cấp thiết bị dạy học, sách giáo khoa, học phẩm cho học sinh dân tộc thiểu số, hỗ trợ ăn, ở, đi lại cho học sinh vùng đặc biệt khó khăn, nhất là ở các điểm trường lẻ. Chương trình 135 đã góp phần nâng cao tỷ lệ chuyên cần, giảm bỏ học, tạo điều kiện học tập thuận lợi hơn cho học sinh miền núi.
- Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (giai đoạn 2021–2030). Chương trình này được phê duyệt tại Nghị quyết số 120/2020/QH14 và triển khai từ năm 2021. Mục tiêu tổng thể là giảm khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng khác trong cả nước. Về giáo dục, chương trình thực hiện: Hỗ trợ đầu tư xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia; Tăng cường dạy học song ngữ (tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt); Xây dựng mô hình nội trú dân nuôi, trường bán trú nhằm duy trì sĩ số ở bậc THCS, THPT.
- Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngày 31/10/2016. Chính phủ đã phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2016–2025, tập trung vào các dân tộc có dân số dưới 10.000 người, phần lớn sinh sống ở vùng sâu, vùng xa của miền núi phía Bắc. Về giáo dục, Quyết định nhấn mạnh: Tăng cường dạy học tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo và học sinh tiểu học; Cử giáo viên giỏi về hỗ trợ vùng khó; Xây dựng thư viện, phòng tin học, lớp học ghép… phù hợp với điều kiện dân cư phân tán.
Như vậy, các chính sách nêu trên thể hiện sự đồng bộ hóa giữa ngành giáo dục và các ngành, lĩnh vực khác trong việc phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Chúng không chỉ tập trung vào nâng cao chất lượng giảng dạy, mà còn hỗ trợ cải thiện đời sống người học, đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục công bằng cho mọi đối tượng.
2.1.3. Mục tiêu của các chính sách giáo dục ở miền núi phía Bắc
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục ở miền núi phía Bắc không chỉ là những biện pháp tình thế, mà là chiến lược lâu dài, mang tính phát triển bền vững, hướng tới nhiều mục tiêu quan trọng dưới đây:
- Thu hẹp khoảng cách phát triển giáo dục giữa các vùng miền. Tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền, đặc biệt giữa vùng đồng bằng và vùng miền núi phía Bắc, đã tồn tại nhiều năm. Mục tiêu quan trọng là: Giảm khoảng cách về chất lượng dạy và học (chương trình, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất...); Nâng cao tỷ lệ đi học đúng độ tuổi, nhất là ở bậc mầm non và THCS; Tăng tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, học lên THPT và đại học/cao đẳng. Việc đầu tư có trọng điểm vào trường học bán trú, nội trú dân tộc, đào tạo giáo viên địa phương chính là giải pháp then chốt để tiến tới công bằng giữa các vùng.
- Đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số. Học sinh dân tộc thiểu số thường gặp rào cản ngôn ngữ, điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, khoảng cách địa lý, khiến việc tiếp cận giáo dục bị hạn chế. Các chính sách giáo dục đã và đang được thực hiện như miễn, giảm học phí và hỗ trợ sinh hoạt phí cho học sinh nghèo, học sinh dân tộc; Phát triển tài liệu dạy học song ngữ, dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai; Xây dựng mô hình trường học thân thiện, phù hợp văn hóa bản địa. Mục tiêu cốt lõi là bất cứ trẻ em nào, dù ở đâu, dân tộc nào, cũng có cơ hội đến trường và học tập đầy đủ, bình đẳng.
- Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua giáo dục địa phương. Giáo dục địa phương (GDĐP) là kênh quan trọng để truyền tải giá trị văn hóa truyền thống, tiếng nói, phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng vào nội dung học tập. Các chính sách thúc đẩy GDĐP nhằm giúp học sinh hiểu rõ nguồn cội, lịch sử, địa lý và truyền thống địa phương, tự hào về dân tộc, có ý thức bảo vệ, giữ gìn văn hóa bản địa, tạo sự gắn kết giữa nhà trường-cộng đồng-học sinh trong một thể thống nhất. Đây là chiến lược gắn giáo dục với phát triển văn hóa và xã hội, tránh tình trạng đồng hóa, mai một bản sắc dân tộc.
- Phát triển năng lực, phẩm chất toàn diện cho học sinh gắn với bối cảnh địa phương. Một trong những tinh thần cốt lõi của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là giáo dục định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. Ở miền núi phía Bắc, mục tiêu này được cụ thể hóa bằng cách gắn nội dung dạy học với thực tế sản xuất, đời sống và văn hóa địa phương, phát triển năng lực ngôn ngữ song ngữ (tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt), giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng hợp tác cộng đồng, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo từ bối cảnh địa phương và rèn luyện phẩm chất cho học sinh như yêu quê hương, yêu thiên nhiên, biết trân trọng giá trị văn hóa bản địa, có ý thức vươn lên trong học tập, tự lực trong cuộc sống.
Tất cả các mục tiêu trên đều hướng đến sự phát triển công bằng, toàn diện và bền vững cho học sinh miền núi phía Bắc, qua đó thúc đẩy bình đẳng giáo dục giữa các vùng miền, góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cho địa phương và giữ gìn và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc như một phần quan trọng của phát triển đất nước.
2.2. Những tác động tích cực từ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục phổ thông và giáo dục địa phương ở các tỉnh miền núi phía Bắc
2.2.1. Góp phần nâng cao tỷ lệ tiếp cận và duy trì học sinh đến trường
- Chính sách tài chính hỗ trợ học sinh nghèo và dân tộc thiểu số. Một trong những rào cản lớn nhất khiến trẻ em miền núi không đến trường hoặc bỏ học giữa chừng là khó khăn về tài chính. Nhằm tháo gỡ khó khăn này, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ, như miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp cho học sinh nghèo, học sinh dân tộc thiểu số theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP, cấp học bổng, hỗ trợ chi phí học tập định kỳ (tiền ăn, đồ dùng học tập, đi lại), hỗ trợ xây dựng, duy trì các trường bán trú và nội trú dân tộc, giúp giảm gánh nặng di chuyển xa và điều kiện ăn ở cho học sinh.
- Hiệu quả trong việc huy động học sinh đến trường. Nhờ các chính sách trên, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường đầy đủ ở các tỉnh như Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Sơn La... đã tăng lên rõ rệt trong 10 năm qua. Đặc biệt, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số, học sinh nữ ở vùng sâu, vùng xa đi học đúng độ tuổi đã có những bước cải thiện đáng ghi nhận, tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng, học sinh lưu ban đã được giảm thiểu ở nhiều địa phương.
- Vai trò của trường bán trú và nội trú dân tộc. Việc phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú và nội trú là một trong những điểm sáng trong chính sách giáo dục miền núi. Những ngôi trường này giúp học sinh: Được ăn ở tập trung, đảm bảo điều kiện sinh hoạt cơ bản, tiếp cận với môi trường học tập ổn định và thân thiện, hạn chế rủi ro do địa hình cách trở và khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt vào mùa mưa lũ hay đông giá. Ngoài ra, đây cũng là nơi giáo viên có thể chăm sóc, kèm cặp, hỗ trợ học sinh ngoài giờ học, từ đó góp phần duy trì động lực học tập.
- Một số số liệu minh chứng (nếu cần). Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tỷ lệ huy động học sinh tiểu học vùng miền núi phía Bắc đạt trên 95%, tỷ lệ học sinh THCS đạt trên 85% trong những năm gần đây. Số lượng học sinh theo học tại các trường phổ thông dân tộc bán trú và nội trú cũng tăng đều, giúp đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn.
Như vậy, những chính sách hỗ trợ tài chính và phát triển mô hình trường học đặc thù không chỉ mang tính cứu trợ mà đã trở thành đòn bẩy căn cơ trong việc nâng cao cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em vùng cao, đặc biệt là những em thuộc nhóm dân tộc thiểu số. Từ đó, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giáo dục giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển bền vững ở khu vực miền núi phía Bắc.
2.2.2. Thu hẹp dần khoảng cách giáo dục giữa miền núi và đồng bằng
- Cải thiện hạ tầng giáo dục. Trong nhiều năm qua, các chính sách đầu tư trọng điểm cho vùng khó khăn đã tập trung vào việc: Kiên cố hóa trường lớp, xóa dần tình trạng phòng học tạm, học nhờ ở các bản làng xa xôi, xây dựng phòng học chức năng, thư viện, nhà ở bán trú, bếp ăn tập thể, trang bị thiết bị dạy học cơ bản, đáp ứng chuẩn chương trình mới. Nhờ đó, nhiều học sinh ở vùng sâu, vùng xa đã có môi trường học tập an toàn, ổn định, tiếp cận với công nghệ thông tin và phương pháp học tập hiện đại, từng bước tiệm cận với điều kiện học tập ở vùng đồng bằng.
- Tăng cường đội ngũ giáo viên. Đội ngũ nhà giáo ở miền núi được tăng cường nhờ các chính sách: Tuyển dụng ưu tiên đối với sinh viên sư phạm vùng khó khăn (Nghị định 116/2020/NĐ-CP), cử tuyển đào tạo học sinh dân tộc thiểu số làm giáo viên tại địa phương, chính sách đãi ngộ, phụ cấp ưu đãi theo vùng đặc biệt khó khăn để thu hút giáo viên gắn bó lâu dài. Ngoài ra, các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn được triển khai thường xuyên giúp giáo viên: Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, tiếp cận phương pháp dạy học mới, phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông 2018, phát triển kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, kể cả ở những nơi có điều kiện hạn chế.
- Áp dụng linh hoạt chương trình GDPT 2018 và GDĐP. Chương trình GDPT mới (ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT) là một bước chuyển mạnh mẽ từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Đặc biệt, việc quy định rõ nội dung giáo dục địa phương (GDĐP) với tỷ lệ thời lượng nhất định, và trao quyền chủ động cho địa phương xây dựng nội dung GDĐP (theo Thông tư 33/2020/TT-BGDĐT), đã tạo điều kiện để: Học sinh miền núi học theo một chương trình thống nhất trên cả nước, không bị "lép vế" so với học sinh vùng đồng bằng, tăng tính hấp dẫn và tính thực tiễn của chương trình học khi phản ánh được ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, địa lý và đời sống của chính cộng đồng học sinh.
- Tác động tổng thể. Những thay đổi trên đang góp phần: Rút ngắn khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa miền núi và đồng bằng, tạo điều kiện để học sinh miền núi được phát triển toàn diện, từ kiến thức phổ thông đến kỹ năng sống, phẩm chất công dân, giảm bất bình đẳng giáo dục, hướng tới một nền giáo dục bao trùm, công bằng và hiệu quả hơn.
2.2.3. Góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
- Giáo dục văn hóa bản địa thông qua nội dung GDĐP. Một trong những điểm nổi bật của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là đưa nội dung giáo dục địa phương vào chương trình chính khóa từ lớp 1 đến lớp 12. Nhờ đó, học sinh tại các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện: Tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của địa phương, khám phá đặc điểm địa lý, dân cư, tập quán sinh hoạt và truyền thống văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, tiếp cận tri thức truyền thống, các nghề thủ công, phong tục tập quán và di sản văn hóa phi vật thể của quê hương.
- Tăng cường lòng tự hào, ý thức bảo vệ văn hóa dân tộc. Việc học tập và thực hành các giá trị văn hóa trong chính cộng đồng mình giúp học sinh: Nâng cao lòng tự hào dân tộc và nhận thức về giá trị di sản văn hóa, tăng sự gắn bó với cội nguồn, khơi dậy tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bồi dưỡng tình yêu quê hương, phát triển nhân cách học sinh gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “biết ơn tổ tiên”.
- Các hình thức và nội dung GDĐP sáng tạo, đặc sắc. Nhiều địa phương đã triển khai sáng tạo và hiệu quả nội dung GDĐP dựa trên kho tàng văn hóa dân tộc phong phú: Tỉnh Sơn La: học sinh được tìm hiểu chữ Thái cổ, các bài hát dân ca Thái, lễ hội Xên bản, Xên mường, tỉnh Lào Cai: tổ chức dạy về kỹ năng làm ruộng bậc thang, kỹ thuật làm giấy dó, dệt thổ cẩm của người H’Mông, Dao, Tỉnh Hà Giang: đưa nội dung tìm hiểu lễ hội Khèn Mông, phong tục cưới hỏi, nghề rèn truyền thống vào các tiết học, tỉnh Điện Biên: triển khai các bài học về ẩm thực dân tộc, trang phục truyền thống, nghề làm khèn bè, múa xòe Thái...
- Kết hợp trải nghiệm với học tập văn hóa địa phương. Một số trường phổ thông tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với GDĐP: Học sinh tham gia làm đồ thủ công, trình diễn thời trang dân tộc, thi nấu ăn với món truyền thống, tham quan các di tích lịch sử, tham dự lễ hội truyền thống, gặp gỡ nghệ nhân dân gian, những hoạt động này giúp học sinh học mà chơi – chơi mà học, đồng thời nuôi dưỡng tình yêu văn hóa dân tộc một cách tự nhiên và bền vững.
2.2.4. Nâng cao năng lực và phẩm chất học sinh gắn với bối cảnh địa phương
- Gắn nội dung học tập với thực tiễn cuộc sống. Nhờ các nội dung giáo dục địa phương (GDĐP) và chính sách giáo dục vùng miền núi, học sinh được tiếp cận tri thức không chỉ mang tính hàn lâm mà còn gắn chặt với đời sống thực tế của cộng đồng dân cư nơi các em sinh sống. Ví dụ: Học kiến thức địa lý gắn với thực hành đo đạc địa hình bản làng, sông suối, ruộng bậc thang, Học kỹ năng sống thông qua việc trải nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, giữ gìn vệ sinh môi trường, chăm sóc sức khỏe cá nhân, học giáo dục công dân qua các hoạt động cộng đồng như bảo vệ rừng, giữ gìn bản sắc văn hóa, giúp đỡ người già, trẻ nhỏ...
- Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, trách nhiệm công dân địa phương. Giáo dục không chỉ chú trọng truyền thụ tri thức mà còn rèn luyện phẩm chất đạo đức như trung thực, chăm chỉ, trách nhiệm, yêu thương con người, giáo dục lòng yêu quê hương, tự hào dân tộc và ý thức xây dựng cộng đồng, trang bị cho học sinh tinh thần tự lực, vượt khó vươn lên, đặc biệt trong môi trường sống còn nhiều thiếu thốn, thử thách.
- Phát triển kỹ năng toàn diện cho học sinh vùng miền núi. Qua các hoạt động học tập gắn với địa phương, học sinh được rèn luyện các năng lực: Năng lực giao tiếp, hợp tác thông qua làm việc nhóm, giao lưu với cộng đồng, năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn địa phương (ví dụ: thiên tai, môi trường, giao thông khó khăn), năng lực sử dụng công nghệ thông tin trong điều kiện thiếu thốn, khai thác tri thức mở thông qua mạng, thư viện số, năng lực thẩm mỹ và sáng tạo từ kho tàng văn hóa dân tộc như âm nhạc, mỹ thuật, nghề thủ công...
- Khơi gợi ý thức học tập suốt đời và hướng nghiệp tại chỗ. Nhờ tiếp cận thực tế và bối cảnh địa phương, học sinh: Có định hướng nghề nghiệp sớm, gắn với nhu cầu phát triển nông nghiệp, du lịch cộng đồng, bảo tồn văn hóa dân tộc, hình thành thái độ học tập chủ động, ham học hỏi để cải thiện điều kiện sống, góp phần đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám” khỏi vùng cao.
2.2.5. Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với đặc điểm địa phương
- Trang bị năng lực gắn với điều kiện sống và đặc thù vùng miền. Các nội dung giáo dục địa phương đã giúp học sinh: Tiếp cận các kiến thức và kỹ năng thiết thực gắn liền với đời sống miền núi như: sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững (trồng dược liệu, lúa nương, chăn nuôi gắn với bảo vệ môi trường), quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn văn hóa dân tộc…học kỹ năng sống cần thiết để thích nghi với điều kiện địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt và hạn chế về hạ tầng.
- Góp phần đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ. Nhiều tỉnh đã tích cực lồng ghép định hướng nghề nghiệp vào nội dung giáo dục địa phương như: Tổ chức hoạt động hướng nghiệp ngay tại trường học thông qua trải nghiệm với các làng nghề truyền thống, mô hình nông nghiệp hữu cơ, du lịch cộng đồng...phối hợp với cơ sở dạy nghề hoặc trung tâm học tập cộng đồng để cung cấp các kỹ năng cơ bản (chăn nuôi, trồng trọt, làm dịch vụ du lịch, sửa chữa kỹ thuật, nghề thủ công…). Điều này giúp học sinh có định hướng rõ ràng trong việc học lên hoặc học nghề sau THCS, THPT, sẵn sàng quay trở lại cống hiến cho địa phương, thay vì đổ dồn về thành thị dẫn tới thất nghiệp hoặc làm trái ngành.
- Giảm tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, “chảy máu chất xám”. Việc định hướng sớm nghề nghiệp gắn với tiềm năng địa phương giúp học sinh hiểu rằng không nhất thiết phải học đại học mới thành công, có thể khởi nghiệp tại chỗ từ những ngành nghề truyền thống hoặc mới nổi (trồng cây đặc sản, phát triển du lịch sinh thái, làm sản phẩm OCOP…). Qua đó hạn chế tình trạng thiếu nhân lực lành nghề ở địa phương, giữ chân thanhniên tại quê hương, phát triển kinh tế bản làng gắn với tri thức bản địa.
2.2.6. Tăng cường tính chủ động, sáng tạo của các địa phương trong xây dựng chương trình giáo dục
Các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo điều kiện để các Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT cùng các trường phổ thông chủ động xây dựng chương trình GDĐP phù hợp với bối cảnh của địa phương. Việc trao quyền tự chủ này giúp phát huy tính sáng tạo trong công tác quản lý và tổ chức dạy học, tránh sự áp đặt cứng nhắc từ trung ương xuống cơ sở, đặc biệt trong một môi trường đa dạng về dân tộc và ngôn ngữ như miền núi phía Bắc.
2.3. Những vấn đề bất cập đặt ra trong các chủ trương, chính sách đã ban hành của Đảng, Nhà nước về giáo dục phổ thông và giáo dục địa phương ở các tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay
2.3.1. Hệ thống chính sách còn chồng chéo, thiếu đồng bộ và chưa sát với thực tiễn địa phương
- Chồng chéo giữa các chính sách hỗ trợ giáo dục. Nhiều chính sách giáo dục được ban hành bởi các bộ, ngành khác nhau như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, và các cơ quan khác. Tuy nhiên, các chính sách này thiếu sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất trong quá trình triển khai, dẫn đến tình trạng chồng chéo. Ví dụ, chính sách hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số có thể khác nhau giữa các bộ ngành về tiêu chí đối tượng, mức hỗ trợ, dẫn đến khó khăn trong việc triển khai đồng bộ tại các địa phương. Kinh phí hỗ trợ từ các chương trình khác nhau có thể không được phân bổ hợp lý, gây ra sự chậm trễ hoặc thiếu hụt trong việc triển khai thực tiễn.
- Chính sách áp đặt từ trên xuống, thiếu sự phù hợp với thực tế địa phương. Việc ban hành các chính sách giáo dục nhiều khi mang tính áp đặt từ trung ương xuống địa phương mà không có sự tham vấn đầy đủ từ các tổ chức địa phương hoặc cộng đồng dân tộc thiểu số. Điều này dẫn đến chính sách chưa thực sự sát với nhu cầu và đặc điểm của từng tỉnh, từng dân tộc, từng vùng miền, các chính sách về nội dung giáo dục địa phương đôi khi vẫn còn mang tính chung chung, chưa đủ linh hoạt để phản ánh những đặc thù văn hóa, kinh tế, xã hội của các cộng đồng dân tộc khác nhau. Ví dụ, các chương trình giáo dục địa phương có thể không phản ánh đúng những thực tiễn về nghề truyền thống, đất đai, nguồn tài nguyên thiên nhiên, hay các phương thức sản xuất đặc thù của từng vùng miền, dẫn đến việc học sinh khó tiếp cận với nội dung học thực tế.
- Cơ chế tài chính thiếu rõ ràng và không đồng đều. Cơ chế tài chính đi kèm với các chính sách giáo dục đôi khi chưa được thiết kế đầy đủ, dẫn đến nhiều địa phương gặp khó khăn trong việc bố trí ngân sách và triển khai chính sách. Các địa phương vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc, thường gặp khó khăn trong việc cung cấp đủ nguồn lực tài chính cho các chính sách giáo dục. Điều này dẫn đến tình trạng “có chính sách nhưng thiếu nguồn lực để thực hiện”. Việc phân bổ ngân sách hỗ trợ không đồng đều cũng làm tăng sự phân hóa giữa các vùng miền, khiến một số địa phương khó thực hiện đúng các cam kết về giáo dục mặc dù đã có chính sách ưu đãi, chính sách miễn học phí, hỗ trợ học bổng hay xây dựng cơ sở vật chất trường học cần có một hệ thống tài chính rõ ràng và khả thi, nhằm đảm bảo việc triển khai được đồng bộ và hiệu quả ở các cấp độ.
Như vậy, hệ thống chính sách giáo dục hiện nay ở các tỉnh miền núi phía Bắc còn tồn tại nhiều hạn chế về sự chồng chéo, thiếu đồng bộ và thiếu sự linh hoạt với đặc điểm thực tế địa phương. Việc thiếu sự phối hợp giữa các bộ ngành, sự áp đặt từ trên xuống và cơ chế tài chính chưa hợp lý gây ra những khó khăn lớn trong việc thực thi chính sách, đặc biệt tại những vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế, xã hội còn khó khăn.
2.3.2. Năng lực đội ngũ giáo viên còn hạn chế, nhất là trong triển khai giáo dục địa phương
- Thiếu tập huấn chuyên sâu về giáo dục địa phương. Một trong những thách thức lớn đối với đội ngũ giáo viên là chưa được tập huấn kỹ về việc xây dựng và thực hiện nội dung giáo dục địa phương theo Chương trình GDPT 2018. Mặc dù Chương trình này đã yêu cầu các trường xây dựng nội dung giáo dục địa phương phù hợp, nhưng nhiều giáo viên chưa nhận được sự hướng dẫn đầy đủ để thiết kế và giảng dạy những nội dung này một cách hiệu quả. Chương trình GDPT 2018 đưa ra yêu cầu về giáo dục địa phương, nhưng phương pháp giảng dạy này yêu cầu giáo viên có kiến thức sâu rộng về văn hóa, lịch sử, và thực tiễn địa phương, điều mà không phải giáo viên nào cũng được đào tạo bài bản. Giáo viên ở các vùng miền núi gặp khó khăn khi tiếp cận các chương trình tập huấn hoặc chưa có đủ nguồn tài liệu hỗ trợ giảng dạy về đặc thù văn hóa địa phương.
- Khó khăn trong hiểu biết về văn hóa và phong tục địa phương. Một bộ phận giáo viên, đặc biệt là giáo viên trẻ hoặc giáo viên từ ngoài địa phương, chưa hiểu sâu về văn hóa, phong tục, lịch sử và địa lý vùng miền nơi họ công tác. Điều này gây ra một số vấn đề trong việc giảng dạy nội dung giáo dục địa phương, vì họ không thể kết nối lý thuyết với thực tiễn sống động của cộng đồng dân tộc. Việc thiếu hiểu biết này dẫn đến sự thiếu linh hoạt trong phương pháp giảng dạy. Họ không thể thiết kế các bài giảng kết hợp với đặc điểm văn hóa, sinh hoạt của học sinh. Ví dụ, trong việc dạy về lịch sử địa phương, giáo viên có thể không thể giải thích đúng đắn các sự kiện lịch sử quan trọng của cộng đồng dân tộc thiểu số hoặc thiếu hiểu biết về các nghề thủ công truyền thống của địa phương. Chưa biết khai thác nguồn tài nguyên văn hóa địa phương. Giáo viên chưa được đào tạo cách thức khai thác các câu chuyện dân gian, lễ hội, âm nhạc dân tộc, hoặc các giá trị văn hóa khác vào trong bài giảng, khiến học sinh thiếu cơ hội kết nối với các giá trị cốt lõi của dân tộc mình.
- Thiếu giáo viên ở các môn đặc thù. Tình trạng thiếu giáo viên cục bộ, đặc biệt là ở các môn mỹ thuật, âm nhạc, ngoại ngữ và tin học, vẫn diễn ra phổ biến tại các vùng miền núi. Việc thiếu giáo viên giảng dạy các môn này có ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm và tích hợp liên môn trong giáo dục địa phương. Các môn học này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực sáng tạo và kỹ năng sống của học sinh, nhưng khi thiếu giáo viên, các hoạt động này không thể thực hiện đầy đủ, làm hạn chế cơ hội trải nghiệm thực tế cho học sinh. Giáo viên thiếu chuyên môn cũng khó có thể tạo ra các chương trình học phong phú và hấp dẫn cho học sinh, đặc biệt là khi giảng dạy các nội dung về văn hóa truyền thống, nghệ thuật dân gian, hay kỹ năng thủ công. Sự thiếu hụt giáo viên có ảnh hưởng đến chất lượng của giáo dục địa phương, khiến học sinh không thể tiếp cận đầy đủ các chương trình giáo dục phong phú, đa dạng mà các chính sách đã đề ra.
Tóm lại, mặc dù chính sách giáo dục địa phương đang được triển khai rộng rãi, nhưng năng lực đội ngũ giáo viên tại các tỉnh miền núi phía Bắc còn nhiều hạn chế. Việc thiếu đào tạo chuyên sâu về giáo dục địa phương, hiểu biết không đầy đủ về văn hóa và phong tục địa phương, và thiếu hụt giáo viên ở một số môn học đặc thù đang gây khó khăn lớn cho việc thực thi các chính sách giáo dục và mang lại những hiệu quả không như kỳ vọng.
2.3.3. Điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
- Thiếu thốn về phòng học và thiết bị dạy học cơ bản. Dù đã có sự đầu tư đáng kể vào cơ sở vật chất giáo dục tại các tỉnh miền núi, nhưng tình trạng thiếu thốn về phòng học, phòng chức năng và thiết bị dạy học cơ bản vẫn rất phổ biến, đặc biệt tại các trường ở vùng sâu, vùng xa. Nhiều trường học vẫn thiếu phòng học kiên cố, thiết bị dạy học tối thiểu như bảng tương tác, máy chiếu, sách giáo khoa bổ sung, hoặc các thiết bị thí nghiệm, khiến cho việc dạy và học không thể đạt hiệu quả cao, Các hoạt động trải nghiệm, một phần quan trọng trong Chương trình GDPT 2018 và các hoạt động giáo dục địa phương, không thể thực hiện đầy đủ hoặc gặp rất nhiều khó khăn. Việc lồng ghép nội dung giáo dục địa phương vào các môn học cũng bị hạn chế vì thiếu phòng chức năng như phòng âm nhạc, phòng mĩ thuật, hoặc phòng học đa chức năng. Những yếu tố này cản trở việc triển khai các phương pháp giáo dục tích cực, giúp học sinh khám phá và kết nối với các giá trị văn hóa địa phương.
- Thiếu trang thiết bị công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin, yếu tố quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học, vẫn chưa được trang bị đồng bộ và hiệu quả tại nhiều trường miền núi. Việc thiếu thốn máy tính, máy chiếu, thiết bị học tập trực tuyến làm cho việc triển khai các phương pháp dạy học hiện đại như dạy học số hóa, học trực tuyến, hay học tích hợp không thể đạt được như kỳ vọng. Nhiều trường học, đặc biệt ở các huyện, xã vùng sâu, vùng xa, không có internet ổn định hoặc máy tính, thiết bị học trực tuyến đều thiếu thốn. Điều này khiến cho học sinh và giáo viên không thể tận dụng tài nguyên học tập trực tuyến hoặc tham gia vào các hệ thống học tập điện tử. Khả năng ứng dụng công nghệ vào giảng dạy còn hạn chế, giáo viên không thể sử dụng các phần mềm học tập, tạo điều kiện cho việc học tập chủ động và sáng tạo của học sinh, điều này cũng làm giảm hiệu quả của các phương pháp dạy học tích hợp, khi mà không thể sử dụng các công cụ công nghệ để tích hợp các môn học, kết hợp lý thuyết với thực hành hoặc thực tế ảo.
- Tác động đến chất lượng giảng dạy. Sự thiếu thốn cơ sở vật chất và trang thiết bị không chỉ kìm hãm khả năng học tập của học sinh mà còn giới hạn sự sáng tạo và tính linh hoạt trong giảng dạy của giáo viên. Khi cơ sở vật chất không đáp ứng đủ nhu cầu, giáo viên phải sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống (giảng lý thuyết trên lớp, sử dụng bảng đen, phấn trắng) mà không thể tích hợp các phương pháp dạy học tiên tiến như học trực tuyến, học qua dự án, hay học theo nhóm, chất lượng giảng dạy vì thế bị ảnh hưởng, đặc biệt là đối với các môn học đòi hỏi thiết bị chuyên dụng, chẳng hạn như mỹ thuật, khoa học, và công nghệ.
Như vậy, điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị vẫn là một trong những thách thức lớn đối với việc thực hiện đổi mới giáo dục tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Các trường học thiếu thốn cơ sở vật chất, đặc biệt là về phòng học, phòng chức năng, thiết bị dạy học cơ bản, và công nghệ thông tin chưa được trang bị đầy đủ, làm cho việc triển khai phương pháp giảng dạy hiện đại gặp khó khăn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục và khả năng áp dụng giáo dục địa phương vào trong giảng dạy.
2.3.4. Nội dung giáo dục địa phương ở một số nơi còn sơ sài, chưa hấp dẫn
- Nội dung giáo dục địa phương thiếu chiều sâu và sự gắn kết với năng lực của học sinh. Việc xây dựng nội dung giáo dục địa phương (GDĐP) ở một số địa phương vẫn còn mang tính hình thức, chủ yếu là mô tả và liệt kê mà thiếu đi chiều sâu và sự gắn kết với năng lực của học sinh. Nội dung giáo dục địa phương chủ yếu dừng lại ở các yếu tố bên ngoài như lịch sử, địa lý, và văn hóa mà không khai thác sâu vào kỹ năng thực hành, hoạt động trải nghiệm, hay các giá trị nhân văn sâu sắc từ chính những truyền thống dân tộc. Việc thiếu sự gắn kết với năng lực học sinh cũng dẫn đến sự nhàm chán trong học tập, khi học sinh không thấy được sự ứng dụng thực tiễn của những kiến thức học được vào đời sống hàng ngày. Nội dung học tập có thể không phản ánh được thực tế phát triển địa phương, từ đó không khơi dậy được niềm đam mê học hỏi từ chính những điều học sinh sẽ phải đối mặt trong tương lai.
- Sao chép nội dung giữa các tỉnh, thiếu sự đặc trưng vùng miền. Một vấn đề khác là có tình trạng sao chép nội dung GDĐP giữa các tỉnh mà không có sự tùy chỉnh hợp lý để phù hợp với đặc điểm, phong tục, tập quán, và lịch sử riêng biệt của từng vùng miền, dân tộc. Nhiều địa phương áp dụng một công thức chung mà không chú ý đến đặc trưng văn hóa, khí hậu, nghề nghiệp truyền thống của các dân tộc thiểu số ở từng vùng miền. Ví dụ, nội dung giáo dục địa phương ở các tỉnh miền núi phía Bắc có thể không chú trọng đến các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, chế tác đồ thủ công, hay kỹ thuật canh tác nông nghiệp đặc trưng của mỗi dân tộc, mà thay vào đó chỉ đưa vào các kiến thức tổng quát và mang tính lý thuyết. Điều này dẫn đến sự mờ nhạt trong giáo dục địa phương và thiếu sự hấp dẫn đối với học sinh.
- Thiếu sự tham gia của các nhà nghiên cứu, nghệ nhân và người có uy tín trong cộng đồng. Nhiều địa phương chưa phát huy được thế mạnh của đội ngũ nhà nghiên cứu, nghệ nhân, và người có uy tín trong cộng đồng trong việc xây dựng nội dung giáo dục địa phương. Đây là một thiếu sót lớn, vì những người này là người am hiểu sâu sắc về văn hóa, lịch sử và truyền thống địa phương, có thể cung cấp những kiến thức quý giá và những hoạt động trải nghiệm sống động. Việc hợp tác với các nghệ nhân, người có uy tín có thể mang đến những giờ học thực tế, nơi học sinh có thể học nghề truyền thống hoặc trải nghiệm các nghi lễ văn hóa như lễ hội dân gian, tập quán truyền thống, từ đó nâng cao ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc và gắn kết học sinh với cộng đồng. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, sự thiếu kết nối giữa trường học và cộng đồng khiến các bài học trở nên khô khan và thiếu sinh động. Các nội dung giảng dạy vẫn thiếu sự sáng tạo, và không có sự thổi hồn từ chính những giá trị văn hóa bản địa.
Tóm lại, nội dung giáo dục địa phương tại nhiều nơi vẫn còn sơ sài, thiếu sự sáng tạo, phản ánh đặc trưng của vùng miền, và không có sự gắn kết sâu sắc với năng lực của học sinh. Việc sao chép nội dung giữa các địa phương và thiếu sự tham gia của những người am hiểu văn hóa địa phương đã làm cho nội dung này trở nên mờ nhạt và thiếu hấp dẫn. Việc tăng cường sự tham gia của các nhà nghiên cứu và nghệ nhân trong việc xây dựng nội dung giáo dục địa phương sẽ giúp nâng cao chất lượng và sự hấp dẫn của giáo dục địa phương, từ đó giúp học sinh hiểu và bảo tồn giá trị văn hóa bản địa.
2.3.5. Thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả thực thi chính sách và chất lượng giáo dục địa phương
- Thiếu bộ công cụ đánh giá thống nhất và toàn diện. Một trong những vấn đề quan trọng là thiếu một bộ công cụ đánh giá thống nhất để đo lường hiệu quả triển khai giáo dục địa phương trong Chương trình GDPT 2018. Hiện tại, mỗi địa phương có thể tự xây dựng hoặc áp dụng các phương pháp đánh giá khác nhau, dẫn đến thiếu sự đồng bộ và khó so sánh giữa các khu vực. Không có tiêu chuẩn rõ ràng về việc đánh giá chất lượng thực hiện giáo dục địa phương. Điều này làm cho việc xác định các yếu tố thành công hay hạn chế trong việc triển khai giáo dục địa phương trở nên khó khăn. Việc này gây cản trở cho việc cải thiện và điều chỉnh chính sách một cách kịp thời và phù hợp.
- Việc đánh giá dừng ở mức độ hành chính. Hệ thống đánh giá hiện tại chủ yếu dừng lại ở mức độ hành chính – như báo cáo số lượng học sinh tham gia, thời lượng triển khai chương trình, và các hoạt động cơ bản liên quan đến giáo dục địa phương. Các báo cáo hành chính này thiếu sự chuyên sâu trong việc đánh giá chất lượng nội dung giảng dạy, phương pháp dạy học, và đặc biệt là mức độ tiếp thu của học sinh. Điều này dẫn đến việc các nhà quản lý chỉ nắm bắt được các thông số đơn giản, mà không hiểu rõ được hiệu quả thực sự của các chương trình giáo dục địa phương đối với sự phát triển của học sinh. Chưa có hệ thống giám sát chất lượng học tập của học sinh về giá trị văn hóa địa phương, sự thích ứng với các phương pháp học tập mới, hay việc học sinh có thực sự áp dụng được kiến thức vào thực tiễn đời sống của cộng đồng hay không.
- Thiếu tiêu chí giám sát chính sách và phản hồi kịp thời. Các tiêu chí giám sát chính sách hiện nay chưa đầy đủ và thiếu các chỉ số cụ thể để đo lường hiệu quả của các chính sách giáo dục địa phương. Điều này dẫn đến việc theo dõi và đánh giá chính sách gặp nhiều khó khăn và thiếu chính xác. Việc theo dõi và phản hồi kết quả thực thi chính sách không được thực hiện kịp thời, gây ra chậm trễ trong việc điều chỉnh các chính sách không còn phù hợp với thực tế. Hệ quả là nhiều chính sách vẫn chưa phát huy được hiệu quả thực chất, hoặc thực hiện chưa đồng bộ trên diện rộng, khiến cho các địa phương gặp khó khăn trong việc áp dụng và triển khai hiệu quả các chính sách. Hơn nữa, việc thiếu cơ chế phản hồi kịp thời cũng làm giảm sự minh bạch và đáng tin cậy của các báo cáo về tình hình thực hiện chính sách.
Như vậy, việc thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả thực thi chính sách và chất lượng giáo dục địa phương khiến cho các nhà quản lý không thể nắm bắt được tình hình thực tế và khó khăn trong việc điều chỉnh các chính sách sao cho phù hợp. Việc xây dựng một hệ thống đánh giá toàn diện, bao gồm các chỉ số giám sát chính xác, phản hồi kịp thời, và tiêu chí đánh giá chất lượng rõ ràng, sẽ giúp nâng cao hiệu quả của Chương trình GDPT 2018 và cải thiện giáo dục địa phương trong các tỉnh miền núi.
2.3.6. Khoảng cách số và bất bình đẳng cơ hội giáo dục vẫn còn hiện hữu
- Khoảng cách chất lượng giáo dục giữa miền núi và đồng bằng. Dù có những chính sách hỗ trợ như cấp học bổng, miễn giảm học phí, xây dựng trường học bán trú, nhưng khoảng cách chất lượng giáo dục giữa miền núi và đồng bằng vẫn còn rõ rệt. Các trường học ở vùng sâu, vùng xa thường thiếu thốn về cơ sở vật chất, thiếu trang thiết bị học tập và đội ngũ giáo viên có trình độ cao. Điều này khiến cho học sinh miền núi không được tiếp cận với chất lượng giáo dục đồng đều so với học sinh ở các khu vực đô thị hoặc đồng bằng. Việc thiếu thốn cơ sở vật chất, tài liệu học tập, và đặc biệt là đội ngũ giáo viên chất lượng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển năng lực toàn diện của học sinh, từ kiến thức chuyên môn cho đến các kỹ năng sống quan trọng.
- Rào cản ngôn ngữ và sự thiếu hụt các kỹ năng mềm. Ngôn ngữ vẫn là một rào cản lớn trong việc tiếp cận tri thức đối với nhiều học sinh dân tộc thiểu số, đặc biệt là những em không nói tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ. Điều này gây khó khăn không chỉ trong việc học các môn học cơ bản như toán, văn học, mà còn trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp và kỹ năng học tập. Bên cạnh đó, kỹ năng mềm, tư duy phản biện, và khả năng sáng tạo vẫn chưa được phát triển đầy đủ ở nhiều học sinh miền núi, đặc biệt là trong các môi trường giáo dục thiếu sự đổi mới phương pháp dạy học. Những kỹ năng này rất quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, và sự thiếu hụt này góp phần làm giảm khả năng hội nhập của học sinh dân tộc thiểu số vào thị trường lao động và xã hội nói chung.
- Bất bình đẳng giới trong giáo dục. Mặc dù tình trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục ở vùng cao đã có sự cải thiện trong những năm gần đây, nhưng vấn đề này vẫn chưa hoàn toàn được giải quyết. Học sinh nữ ở các vùng miền núi thường gặp phải rào cản lớn trong việc tiếp cận giáo dục bậc trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT). Một số em có thể bị ép buộc kết hôn sớm hoặc tham gia vào các công việc gia đình thay vì tiếp tục học tập, dẫn đến tỷ lệ bỏ học cao ở các em gái. Bất bình đẳng giới cũng thể hiện trong cơ hội học tập, khi học sinh nữ thường ít được tham gia vào các môn học hoặc hoạt động có tính chất phát triển kỹ năng chuyên môn, đặc biệt là những lĩnh vực như khoa học kỹ thuật và công nghệ.
- Tác động của khoảng cách số trong giáo dục. Khoảng cách số (digital divide) giữa các khu vực miền núi và các địa phương phát triển cũng làm tăng sự bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận công nghệ học tập. Mặc dù học trực tuyến và học số hóa là xu hướng phát triển mạnh mẽ ở các thành phố lớn, nhưng nhiều vùng miền núi vẫn thiếu cơ hội tiếp cận với internet hoặc thiết bị công nghệ. Điều này khiến học sinh ở những vùng này bị lạc hậu so với các bạn học sinh ở khu vực thành thị, dẫn đến một khoảng cách lớn trong cơ hội học tập và phát triển nghề nghiệp trong tương lai.
Tóm lại, khoảng cách số và bất bình đẳng cơ hội giáo dục vẫn là một trong những thách thức lớn trong giáo dục miền núi phía Bắc. Dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng các vấn đề như rào cản ngôn ngữ, thiếu hụt kỹ năng mềm, và bất bình đẳng giới vẫn tồn tại, cần có sự chú trọng hơn nữa từ các cấp chính quyền và cộng đồng để thu hẹp những khoảng cách này, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi học sinh.
3. Kết luận và kiến nghị
3.1. Kết luận
Chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục phổ thông và giáo dục địa phương trong thời gian qua, đặc biệt tại các tỉnh miền núi phía Bắc, đã thể hiện rõ định hướng đúng đắn, mang tính nhân văn sâu sắc và phù hợp với đặc điểm đa dạng của đất nước. Những chính sách này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều bất cập liên quan đến thể chế, cơ chế tài chính, chất lượng đội ngũ, cơ sở vật chất và sự phối hợp trong tổ chức thực hiện. Những hạn chế này đòi hỏi phải có sự điều chỉnh, bổ sung kịp thời để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới, hướng tới mục tiêu công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập.
3.2. Kiến nghị
- Đối với Trung ương (Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ GD&ĐT)
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách giáo dục theo hướng nhất quán, ổn định, khả thi, có tính đặc thù vùng miền, dân tộc, đồng thời đảm bảo sự đồng bộ giữa chính sách giáo dục với chính sách dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi phía Bắc.
Bổ sung cơ chế tài chính phù hợp, ưu tiên bố trí nguồn lực cho các địa phương miền núi trong việc thực hiện các nhiệm vụ đổi mới giáo dục, đặc biệt là xây dựng và triển khai nội dung giáo dục địa phương, đầu tư hạ tầng CNTT, phát triển đội ngũ giáo viên.
Ban hành bộ công cụ đánh giá hiệu quả triển khai giáo dục địa phương trong Chương trình GDPT 2018, từ đó có cơ sở điều chỉnh chính sách kịp thời, sát thực tế.
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về xây dựng và thực hiện nội dung giáo dục địa phương, đặc biệt là giáo viên đang công tác tại các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
- Đối với các địa phương miền núi phía Bắc
Chủ động xây dựng nội dung GDĐP có chất lượng, sáng tạo, sát thực tiễn, huy động sự tham gia của đội ngũ trí thức địa phương, người có uy tín, nghệ nhân dân gian... để tăng tính hấp dẫn, phong phú và mang đậm bản sắc văn hóa.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý và tổ chức dạy học, khắc phục hạn chế về địa lý và điều kiện học tập cho học sinh vùng cao.
Thúc đẩy hợp tác giữa các tỉnh miền núi để chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực trong việc phát triển chương trình giáo dục địa phương và đào tạo giáo viên phù hợp với đặc thù khu vực.
- Đối với các cơ sở giáo dục phổ thông
Nâng cao năng lực nghiên cứu thực tiễn địa phương cho giáo viên, khuyến khích giáo viên sáng tạo trong thiết kế bài giảng và hoạt động trải nghiệm gắn với văn hóa dân tộc và đời sống cộng đồng.
Tăng cường hoạt động giáo dục ngoài giờ, giáo dục trải nghiệm, tích hợp nội dung giáo dục địa phương một cách linh hoạt, sinh động, phù hợp với điều kiện thực tiễn nhà trường.
Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh và cộng đồng để tạo môi trường giáo dục toàn diện, giúp học sinh phát triển cả về kiến thức, kỹ năng và nhân cách.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Hà Nội.
2. Bộ Chính trị. (2022). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/2/2022 về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hà Nội.
3. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. (2019). Luật Giáo dục số 43/2019/QH14. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT. Hà Nội.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Hướng dẫn xây dựng nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Hà Nội.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2022). Thông tư số 13/2022/TT-BGDĐT về quy định tiêu chí, quy trình xây dựng và tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông. Hà Nội.
7. Ủy ban Dân tộc. (2021). Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030. Hà Nội.
8. Nguyễn Thị Kim Dung (2021). Giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông 2018: Từ lý luận đến thực tiễn. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 167.
9. Nguyễn Hữu Hợp (2022). Một số vấn đề đặt ra trong triển khai giáo dục địa phương ở vùng dân tộc thiểu số. Tạp chí Giáo dục, số 526.
10. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2023). Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu giáo dục địa phương theo CT GDPT 2018 ở miền núi phía Bắc. Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về Giáo dục vùng DTTS và miền núi.