TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC BẮT BUỘC CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

GS.TS. Lê Anh Vinh - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực Tóm tắt: Giáo dục bắt buộc được coi là một giải pháp đảm bảo việc hiện thực hóa quyền được học của trẻ em. Giáo dục bắt buộc đã được thực hiện từ rất lâu ở hầu hết các nước trên thế giới. Kinh nghiệm thực hiện giáo dục bắt buộc ở các nước cho thấy, giáo dục bắt buộc cần phải được “luật hóa” bằng văn bản bởi giáo dục bắt buộc không chỉ là trách nhiệm của học sinh “phải học” hay trách nhi

GS.TS. Lê Anh Vinh -

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực

Tóm tắt: Giáo dục bắt buộc được coi là một giải pháp đảm bảo việc hiện thực hóa quyền được học của trẻ em. Giáo dục bắt buộc đã được thực hiện từ rất lâu ở hầu hết các nước trên thế giới. Kinh nghiệm thực hiện giáo dục bắt buộc ở các nước cho thấy, giáo dục bắt buộc cần phải được “luật hóa” bằng văn bản bởi giáo dục bắt buộc không chỉ là trách nhiệm của học sinh “phải học” hay trách nhiệm của nhà trường “phải tổ chức các hoạt động học tập, giáo dục” mà còn là trách nhiệm của gia đình trong việc tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho việc học tập của trẻ và cũng là trách nhiệm của cộng đồng, của chính quyền các cấp trong việc tạo môi trường học tập phù hợp, an toàn cho trẻ.

Bài viết tổng hợp kinh nghiệm về giáo dục bắt buộc ở một số nước trên thế giới về các phương diện: (i) độ tuổi bắt đầu, kết thúc và số năm giáo dục bắt buộc; (ii) hình thức thực hiện giáo dục bắt buộc; (iii) chương trình giảng dạy; (iv) trách nhiệm của Nhà nước, chính quyền, gia đình, cộng đồng trong việc đảm bảo các điều kiện thực hiện giáo dục bắt buộc; (v) trách nhiệm của học sinh đối với việc học tập của bản thân; (vi) các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện giáo dục bắt buộc. Bài viết đưa ra một số nhận xét đúc rút từ kinh nghiệm của các quốc gia làm cơ sở cho những khuyến nghị về giáo dục bắt buộc ở Việt Nam.

Từ khóa: Giáo dục bắt buộc, chính sách giáo dục bắt buộc, kinh nghiệm quốc tế về chính sách giáo dục bắt buộc

1. Đặt vấn đề

Mỗi đứa trẻ sinh ra đều có quyền, bất kể dân tộc, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, khả năng hay bất kỳ tình trạng nào khác. Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của trẻ em năm 1989 đã khẳng định giáo dục cũng là một trong số những quyền mà trẻ em được hưởng,

“Mọi trẻ em có quyền được học hành. Giáo dục tiểu học miễn phí và khuyến khích phát triển các hình thức giáo dục trung học cho mọi trẻ em…” (Điều 28. Quyền được học hành)1. Ở Việt Nam, quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu được xếp thứ năm trong số 24 quyền của trẻ em được nêu trong Luật Trẻ em năm 2018: “1. Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. 2. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh” (Điều 16. Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu).2

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách cho trẻ và chuẩn bị cho xã hội một lực lượng lao động có đạo đức, tri thức và kỹ năng để đáp ứng những yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của đất nước. Để trẻ em được hưởng đầy đủ “quyền được giáo dục, được học tập” thì giáo dục phải được quan tâm, đầu tư phù hợp và phải được ghi nhận là trách nhiệm của toàn bộ xã hội, trong đó, vai trò của ngành Giáo dục có tính quyết định và hoạt động giáo dục được thực hiện dưới sự quản lý, điều hành của Nhà nước thông qua các chính sách và hệ thống văn bản pháp luật.

Giáo dục bắt buộc được coi là một giải pháp đảm bảo việc hiện thực hóa quyền được học của trẻ em. Giáo dục bắt buộc đã được thực hiện từ rất lâu ở hầu hết các nước trên thế giới với những quy định cụ thể khác nhau về độ tuổi bắt đầu đi học, thời gian học, chương trình, trách nhiệm của các liên đới… Kinh nghiệm thực hiện giáo dục bắt buộc ở các nước, nhất là các nước có nền giáo dục phát triển cho thấy, giáo dục bắt buộc cần phải được “luật hóa” bằng văn bản bởi giáo dục bắt buộc không chỉ là trách nhiệm của học sinh “phải học” hay trách nhiệm của nhà trường “phải tổ chức các hoạt động học tập, giáo dục” mà còn là trách nhiệm của gia đình trong việc tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho việc học tập của trẻ và cũng là trách nhiệm của cộng đồng, của chính quyền các cấp trong việc tạo môi trường học tập phù hợp, an toàn cho trẻ…

Bài viết này tập trung xem xét một cách tổng quan về chính sách giáo dục bắt buộc ở một số quốc gia trên thế giới để từ đó rút ra bài học trong việc xác định chính sách phù hợp và xây dựng các văn bản pháp quy nhằm đảm bảo việc thực hiện giáo dục bắt buộc ở Việt Nam.

2. Nội dung

2.1. Về hình thức quy định giáo dục bắt buộc

Hiểu được tầm quan trọng của việc học tập đối với trẻ em nên giáo dục bắt buộc đã được thực hiện từ rất lâu ở nhiều nước trên thế giới và được quy định trong văn bản có tính pháp quy cao nhất là Hiến pháp như: Hiến pháp (của Phần Lan, Hà Lan, CHLB Đức, Pakistan…). Phần lớn, các nước có quy định về giáo dục bắt buộc trong Luật Giáo dục (của Vương quốc Anh, Thái Lan, Hà Lan, CHLCB Đức, Malaysia…). Một số nước còn có Luật riêng dành cho giáo dục bắt buộc (của Trung Quốc, Singapore3, Mỹ, Ấn Độ4…).

2.2. Về độ tuổi bắt đầu, kết thúc và số năm giáo dục bắt buộc

UNESCO định nghĩa “Giáo dục bắt buộc là các chương trình giáo dục mà trẻ em và thanh thiếu niên có nghĩa vụ pháp lý phải tham gia, thường được xác định trong theo số năm học hoặc .độ tuổi nhất định, hoặc cả hai”. Theo định nghĩa này, tính “bắt buộc” được quy định bởi pháp luật đối với (1) việc trẻ em tham gia các chương trình giáo dục; (2) số năm tham gia; và/hoặc (3) độ tuổi tham gia.

Tùy vào mức độ phát triển của nền giáo dục và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước mà số năm và độ tuổi áp dụng chính sách giáo dục bắt buộc được quy định khác nhau ở từng nước (tham khảo Bảng 1).

Độ tuổi bắt đầu giáo dục bắt buộc là độ tuổi mà trẻ em bắt buộc phải được đi học. Hầu hết các nước đều áp dụng chính sách giáo dục bắt buộc khi trẻ bước vào tiểu học (trẻ 6 tuổi). Một số quốc gia quy định độ tuổi này sớm hơn như Pháp và Hungary (3 tuổi), Luxembourg (4 tuổi), trong khi một số nước khác lại quy định độ tuổi này muộn hơn như Croatia và Brazil (7 tuổi). 35/55 nước trong bài viết này bắt đầu giáo dục bắt buộc khi trẻ 6 tuổi và 15 nước áp dụng khi trẻ 5 tuổi.

Bảng 1. Độ tuổi bắt đầu, kết thúc và số năm giáo dục bắt buộc ở một số nước trên thế giới

TT

Nước

Độ tuổi GDBB

Số năm miễn học phí

Ghi chú

Bắt đầu

Kết thúc

Số năm

CHÂU ÂU

1

Pháp

3

18

15

Miễn học phí tất cả các cấp

2

Bỉ

5

18

13

Miễn học phí tất cả các cấp

3

Hungary

3

16

13

Miễn học phí tất cả các cấp

4

Rumani

4

18

14

Miễn học phí tất cả các cấp

5

Đức

6

18

12

Miễn học phí tất cả các cấp

  1. tuổi tại 11 bang,
  2. tuổi tại 5 bang

6

Phần Lan

6

18

12

Miễn học phí tất cả các cấp

7

Luxembourg

4

16

12

Miễn học phí tất cả các cấp

8

Bồ Đào Nha

6

18

12

Miễn học phí tất cả các cấp

9

THỔ NHĨ KỲ

5,5

17,5

12

Miễn học phí tất cả các cấp

5 tuổi tuổi 9 tháng

đến 17 tuổi 6 tháng

10

Bulgary

5

16

11

Miễn học phí tất cả các cấp

11

Latvia

5

18

13

Miễn học phí tất cả các cấp

12

Malta

5

16

11

Miễn học phí tất cả các cấp

13

Lan

5

16

11

Miễn học phí tất cả các cấp

14

Slovakia

5

16

11

Miễn học phí tất cả các cấp

15

Vương quốc Anh

5

16

11

Miễn học phí tất cả các cấp

16

Áo

5

15

10

Miễn học phí tất cả các cấp

17

Sec

5

15

10

Miễn học phí tất cả các cấp

18

Đan Mạch

6

16

10

Miễn học phí tất cả các cấp

19

Tây Ban Nha

6

16

10

Miễn học phí tất cả các cấp

20

Ireland

6

16

10

Miễn học phí tất cả các cấp

21

Iceland

6

16

10

Miễn học phí tất cả các cấp

22

Italy

6

16

10

Miễn học phí tất cả các cấp

23

Lithuania

6

16

10

Miễn học phí tất cả các cấp

24

Na Uy

6

16

10

Miễn học phí tất cả các cấp

25

Thụy Điển

6

16

10

Miễn học phí tất cả các cấp

26

Liechtenstein

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

27

Ba Lan

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

28

Nga

5,5

14,5

9

Miễn học phí tất cả các cấp

29

Slovenia

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

30

Croatia

7

15

8

Miễn học phí tất cả các cấp

CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG

31

Philippines

5

18

13

Miễn học phí tất cả các cấp

32

Australia

6

16

10

Miễn học phí tất cả các cấp

33

Nhật Bản

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

34

Trung Quốc

6

15

9

Miễn học phí TH, THCS

35

Singapore

6

15

9

Miễn học phí TH, học phí thấp ở THCS

36

Thái Lan

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

37

Indonesia

6

15

9

Miễn học phí TH, THCS

38

Hàn Quốc

6

15

9

Miễn học phí TH, THCS

39

Malaysia

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

40

Lào

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

41

Campuchia

6

15

9

Miễn học phí TH, THCS

42

Đài Loan

6

15

9

Miễn học phí TH, THCS

43

Ấn Độ

6

14

8

Miễn học phí tất cả các cấp

CHÂU MỸ

44

Mỹ

5

18

13

Miễn học phí tất cả các cấp

5 - 7 tuổi đến 16 - 18 tuổi

45

Canada

6

18

12

Miễn học phí tất cả các cấp

46

Argentina

5

14

9

Miễn học phí tất cả các cấp

47

Venezuela

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

48

Chile

6

13

7

Miễn học phí tất cả các cấp

49

Brazil

7

14

7

Miễn học phí tất cả các cấp

CHÂU PHI

50

Ai Cập

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

51

Nam Phi

6

15

9

Học phí thấp, gia đình nghèo được miễn phí

52

Ghana

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

TRUNG ĐÔNG

53

Rập Xê Út

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

54

Iran

6

15

9

Miễn học phí tất cả các cấp

55

Iraq

6

12

6

Miễn học phí tất cả các cấp

trừ vùng Kurdistan đến 15 tuổi

Quảng cáo

Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn

Độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc: Theo UNICEF, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc là độ tuổi tối thiểu cho sự kết thúc của giáo dục bắt buộc, nói cách khác là sự kết thúc của thời gian tối thiểu mà trẻ em bắt buộc phải đi học. Đó là độ tuổi mà thanh thiếu niên được coi là có được các kỹ năng, kiến thức và sự trưởng thành để đóng góp kinh tế cho xã hội và hành động như những công dân có trách nhiệm. Độ tuổi tối thiểu để kết thúc giáo dục bắt buộc sẽ không thấp hơn độ tuổi lao động tối thiểu, nghĩa là ít nhất 15 tuổi hoặc 14 tuổi trong trường hợp quốc gia chưa có đủ điều kiện về kinh tế và cơ sở giáo dục để áp dụng độ tuổi tối thiểu 155.

Theo Bảng 1, trong số 55 nước, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc sớm nhất là 12 tuổi (Iraq), muộn nhất là 19 tuổi (5 bang ở CHLB Đức). 22 nước kết thúc giáo dục bắt buộc ở độ tuổi 15; 16 nước áp dụng độ tuổi 16; 10 nước áp dụng ở độ tuổi 18; 4 nước áp dụng ở độ tuổi 14 và 3 nước kết thúc giáo dục bắt buộc ở độ tuổi 17, 13 và 12.

Số năm giáo dục bắt buộc là khoảng thời gian từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc giáo dục bắt buộc của một hệ thống giáo dục. Theo khuyến cáo của UNICEF, số năm giáo dục bắt buộc nên là 8 - 9 năm (tương đương độ tuổi bắt đầu là 6 tuổi) và kết thúc khi trẻ 15 (hoặc 14) tuổi. 21/55 nước áp dụng chính sách giáo dục bắt buộc trong 9 năm, 11 nước quy định giáo dục bắt buộc trong 10 năm, 6 nước quy định trong 12 năm, 5 nước quy định trong 13 năm. Pháp và Rumani là hai nước có số năm nhiều nhất là (15 và 14 năm). Iraq là nước có số năm ít nhất (6 năm).

Như vậy, có thể thấy, hầu hết các nước quy định giáo dục bắt buộc được bắt đầu khi trẻ bước vào lớp 1 (trẻ 6 tuổi), kéo dài trong 9 năm, kết thúc vào năm trẻ 15 tuổi như khuyến nghị của UNICEF. Ở một số quốc gia, độ tuổi bắt đầu và kết thúc giáo dục bắt buộc cũng như số năm áp dụng chính sách giáo dục bắt buộc được quy định khác nhau ở từng bang/địa phương như: Úc, Canada, Đức, Thụy Sỹ, Mỹ.

2.3. Về hình thức thực hiện giáo dục bắt buộc

Hầu hết các nước quy định giáo dục bắt buộc được thực hiện tại các cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, ở một số nước, giáo dục bắt buộc được thực hiện linh hoạt dưới nhiều hình thức như: học tại gia đình dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền về giáo dục hoặc chính quyền địa phương như tại Pháp, Australia (bang Queensland), học tại các cơ sở tôn giáo…

2.4. Về chương trình giáo dục bắt buộc

Vì giáo dục bắt buộc được quy định rõ ràng và được thực hiện trong nhiều năm, xuyên suốt độ tuổi học phổ thông (từ lớp 1 đến hết lớp 9) nên ở tất cả các nước, chương trình giáo dục bắt buộc chính là chương trình giáo dục cơ bản được xây dựng theo quy định của Bộ Giáo dục ở cấp quốc gia hoặc theo từng bang. Điểm khác biệt trong chương trình giáo dục cơ bản của mỗi nước là các môn học.

Chương trình giáo dục cơ bản được đặt tên theo các cách khác nhau ở mỗi nước như “Chương trình quốc gia” (ở Anh), Chương trình giáo dục cơ bản (ở Singapore, Thái Lan…), Chương trình cốt lõi quốc gia (Phần Lan), nhưng nhìn chung, các chương trình này đều bao gồm một số môn học bắt buộc xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 9, đó là các môn Toán, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, Tiếng mẹ đẻ, Ngoại ngữ (thường là Tiếng Anh, Pháp), Giáo dục thể chất/Thể dục, Nghệ thuật, Âm nhạc, Giáo dục công dân/Đạo đức, Lịch sử, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Sinh học. Ngoài ra, một số môn học được bổ sung vào chương trình giáo dục trong nhà trường hoặc được đưa vào chương trình học dưới hình thức môn học tự chọn ở các nước như: Tôn giáo và Văn hóa (Đan Mạch, Đức, Phần Lan, Thái Lan, Vương quốc Anh), Hướng nghiệp (ở Thái Lan, Hàn Quốc), Giáo dục về sức khỏe (ở Singapore), Thiết kế và Công nghệ, Lịch sử, Địa lý, thiết kế Mỹ thuật, Máy tính, Ngôn ngữ cổ đại và hiện đại, Giáo dục sức khỏe, xã hội và nhân cách (ở Vương quốc Anh), An toàn giao thông, Khoa học về thực phẩm (Đan Mạch), Phát triển bền vững, Giáo dục các giá trị (Đức), Nghiên cứu về môi trường (Phần Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản). Ở một số nước, nội dung có liên quan đến bản sắc văn hóa, đặc điểm vùng miền cũng được tích hợp vào một số môn học như ở Thái Lan (tỷ lệ chương trình giảng dạy cốt lõi và chương trình của trường với các nội dung liên quan đến địa phương phải xấp xỉ 70:30, được áp dụng linh hoạt), Nhật Bản…

Có thể thấy, chương trình giáo dục bắt buộc/giáo dục cơ bản vẫn nhằm cung cấp cho học sinh lớp 1 đến lớp 9 những kiến thức nền tảng để khi hoàn thành cấp trung học cơ sở (ở độ tuổi 15), các em có được kỹ năng, kiến thức cơ bản để lựa chọn học tiếp lên cấp trung học phổ thông hoặc chuyển sang học nghề. Ở độ tuổi này, các em cũng bắt đầu thể hiện sự trưởng thành ở một mức độ nhất định để có thể bắt đầu đóng góp kinh tế cho gia đình, xã hội và hành động như những công dân có trách nhiệm.

2.5. Về trách nhiệm của Nhà nước, chính quyền địa phương, nhà trường, cộng đồng và gia đình

Để đảm bảo tính bắt buộc của giáo dục, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan chính quyền, các bên liên đới và gia đình. Nhìn chung ở các nước, Nhà nước chịu trách nhiệm chung về việc đảm bảo các điều kiện về thể chế, chính sách, cung cấp ngân sách cho giáo dục bắt buộc. Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý, theo dõi, giám sát chung các hoạt động giáo dục ở cấp trung ương (cấp quốc gia), ban hành khung chương trình giáo dục cơ bản, phân bổ ngân sách dành cho giáo dục xuống các địa phương. Cơ quan quản lý giáo dục cấp địa phương chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý, theo dõi, giám sát chung các hoạt động giáo dục tại địa phương, phân bổ ngân sách cho các trường và tham gia xây dựng chương trình giáo dục. Chính quyền địa phương tham gia đảm bảo các điều kiện cho các hoạt động giáo dục tại địa phương và hỗ trợ kết nối với các cơ quan giáo dục bên ngoài địa phương do họ quản lý. Các nước có nhiều bang như: Đức, Mỹ, Canada, Australia… còn có Luật Giáo dục hoặc các văn bản pháp luật quy định về giáo dục riêng của từng bang.

Nhà trường chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý, theo dõi, giám sát chung các hoạt động giáo dục trong phạm vi trường học. Nhà trường cũng chịu trách nhiệm thiết lập và duy trì sự liên hệ thường xuyên với gia đình để kịp thời thông báo và nắm bắt thông tin về việc học tập của học sinh. Ở một số nước phát triển như: Vương quốc Anh, Mỹ, Canada, Australia, Pháp, nhà trường phải cung cấp dịch vụ tư vấn cho gia đình và học sinh về các vấn đề có liên quan đến việc học tập của học sinh. Thậm chí, nhà trường phải tổ chức các buổi hướng dẫn cho gia đình các phương pháp giáo dục trẻ tại gia đình. Mục đích của những việc này là giúp cho gia đình và nhà trường luôn nắm được tình hình học tập của trẻ, phòng ngừa việc trẻ trốn học, bỏ học và tìm cách xử lý phù hợp, kịp thời những tình huống tiêu cực.

Ở hầu hết các nước, trách nhiệm của gia đình trong việc cho trẻ đi học đều được quy định rõ trong các văn bản pháp luật. Theo đó, gia đình bắt buộc phải cho trẻ đi học ở trường khi đủ tuổi, tham gia giám sát việc học tập của con tại trường, hỗ trợ việc học của con khi ở nhà và thông báo cho nhà trường khi có các vấn đề liên quan đến việc học tập của trẻ. Ở các nước như: Vương quốc Anh, Hà Lan, Đức, Pháp, bố mẹ hoặc người giám hộ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu không cho con đi học hoặc nếu con bỏ học mà không thông báo cho nhà trường và chính quyền địa phương biết để tìm cách giải quyết. Thậm chí, bố mẹ có thể bị khởi kiện và chịu án phạt nếu không cho trẻ đến trường hoặc để trẻ bỏ học. Tuy nhiên, những quy định cụ thể về hình phạt đối với trường hợp trẻ không được đi học hoặc bỏ học không có lý do chính đáng… đều được ghi nhận ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển và hệ thống giáo dục tiên tiến. Phần lớn các nước chỉ quy nêu chung chung về trách nhiệm của gia đình mà chưa nêu cụ thể các hình thức xử phạt nếu gia đình không đảm bảo việc đi học của con em mình.

Cộng đồng, thông qua các hình thức tổ chức của mình, thực hiện tuyên truyền, vận động, giáo dục về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; xây dựng các quỹ phúc lợi xã hội cho trẻ em, hỗ trợ, hợp tác với nhà trường tạo cơ hội thuận lợi để trẻ em được quan tâm và phát triển toàn diện.

2.6. Trách nhiệm của người học

Trách nhiệm của trẻ em và thanh thiếu niên, với tư cách là người học, trước hết là đi học đầy đủ tại các cơ sở giáo dục theo quy định. Ngoài ra, một số nước nêu cụ thể trách nhiệm của học sinh như tham gia đầy đủ các buổi học ở trường, hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giáo viên giao (ở Australia, Singapore). Ở Ấn Độ, ngoài các nghĩa vụ về học tập, học sinh còn phải nỗ lực tự học và trang bị kiến thức cho bản thân, giúp đỡ các bạn trong học tập để hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Ở Canada, học sinh có trách nhiệm tham gia đầy đủ các giờ học ở trường, đi học đúng giờ, chuẩn bị bài trước khi đến trường, có ý thức bảo vệ tài sản của trường, có thời gian biểu, dành thời gian cho việc đọc sách và có thái độ tích cực với việc học tập.

2.7. Các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện giáo dục bắt buộc

Các điều kiện về tài chính

Miễn giảm học phí là một trong những giải pháp đảm bảo cho việc thực hiện giáo dục bắt buộc mà gần như tất cả các quốc gia đang lựa chọn áp dụng. Theo số liệu tổng hợp trong bài viết này, 48/55 nước có chính sách miễn học phí cho tất cả các cấp học (từ mầm non đến hết trung học phổ thông), trong đó 30/30 nước ở châu Âu, 6/6 nước ở châu Mỹ, 3/3 nước ở vùng Trung Đông, 2/3 nước ở châu Phi, 6/13 nước ở châu Á. Các nước Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, Campuchia, Đài Loan miễn học phí cho giai đoạn giáo dục bắt buộc (cấp tiểu học và trung học cơ sở). Ở Singapore, học phí được miễn ở cấp tiểu học và học phí thấp ở cấp trung học cơ sở. Nam Phi chỉ áp dụng chính sách miễn học phí cho gia đình nghèo.

Ngoài chính sách miễn giảm học phí, một số nước còn có các hình thức hỗ trợ khác dành cho học sinh như: miễn phí sách giáo khoa (ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Phần Lan), miễn phí bữa trưa, các tour du lịch, tham quan bảo tàng, vé xe buýt công cộng, tài liệu học tập, máy tính (Phần Lan), miễn phí tham gia các khóa học kỹ năng sống, kỹ năng sinh tồn (ở Canada)…

Về nhân lực

Giáo viên, cán bộ quản lý trường học là những người trực tiếp tham gia đảm bảo việc thực hiện giáo dục bắt buộc, giáo dục cơ bản. Bên cạnh đó, cán bộ quản lý giáo dục của cơ quan chính quyền gián tiếp tham gia vào quá trình giáo dục.

Ở tất cả các nước, giáo viên phải được đào tạo và đạt trình độ chuẩn để được dạy ở cấp học/ lớp học phù hợp. Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm được thực hiện thường xuyên và theo nhiều hình thức khác nhau (tập trung, trực tuyến, ngắn hạn, dài hạn…). Ở các nước phát triển như: CHLB Đức, Mỹ, Hà Lan…, giáo viên thường xuyên được khuyến khích tự học tập nâng cao trình độ thông qua các khóa học trực tuyến. Ngoài việc giảng dạy trên lớp, giáo viên là người duy trì sự liên lạc với gia đình học sinh để nắm được tình hình học tập của học sinh và kịp thời hỗ trợ phụ huynh và học sinh khi cần thiết.

Trường học ở nhiều nước (Vương quốc Anh, Mỹ, Australia, Singapore…) có dịch vụ tư vấn, hỗ trợ học đường để giúp giải quyết các vấn đề về tâm sinh lý lứa tuổi và cũng là cầu nối giữa gia đình và nhà trường. Đây cũng là một giải pháp giúp duy trì việc học tập của học sinh, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học do nhiều lý do khác nhau nhờ sự can thiệp kịp thời từ nhà trường.

Cán bộ quản lý giáo dục thuộc cơ quan chính quyền địa phương hoặc cộng đồng cũng có vai trò nhất định trong việc hỗ trợ nhà trường và gia đình đảm bảo việc học tập của trẻ. Ở một số nước (Mỹ, Hà Lan…), họ được giao quyền giám sát việc gia đình cho trẻ đi học đầy đủ, can thiệp hoặc đề xuất phương án giải quyết các trường hợp trẻ cá biệt không muốn đi học hoặc bỏ học.

Về cơ sở vật chất trường học, thiết bị học tập

Việc tạo những điều kiện tốt nhất cho việc học tập của trẻ ở trường là trách nhiệm của nhà trường và các cơ quan quản lý giáo dục thông qua việc phân bổ ngân sách nhà nước, kêu gọi đầu tư, hỗ trợ bằng nhiều cách và từ các nguồn khác nhau như: xã hội hóa giáo dục, các hoạt động cộng đồng vì giáo dục…

Hầu hết các quốc gia đều nỗ lực trang bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất và thiết bị học tập để học sinh có thể thực hành song song với học lý thuyết. Trường học ở những nước phát triển như: CHLB Đức, Phần Lan, Vương quốc Anh, Mỹ, Singapore, Nhật Bản… đều có cơ sở vật chất và trang thiết bị đầy đủ, hiện đại với phòng học, các phòng thí nghiệm, phòng bộ môn, các xưởng thực hành… Đây cũng là một yếu tố quan trọng giúp thu hút học sinh đến trường học và duy trì việc học tập thường xuyên ở trường.

3. Kết luận và khuyến nghị

Giáo dục bắt buộc là một trong những cách giúp cho trẻ em được học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Từ kinh nghiệm của các nước, có thể rút ra một số kết luận:

1) Giáo dục bắt buộc có vai trò quan trọng đối với mỗi con người bởi giáo dục bắt buộc được thực hiện trong giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách, trang bị kiến thức nền tảng cho mỗi người trước khi bước sang giai đoạn trưởng thành và tham gia sâu hơn vào các hoạt động xã hội.

2) Giáo dục bắt buộc nên được thực hiện từ sớm, khi trẻ không quá 6 tuổi và kết thúc sớm nhất ở độ tuổi 15 khi trẻ đã được trang bị một lượng kiến thức nền tảng và đủ trưởng thành để có thể bước vào cuộc sống lao động.

3) Giáo dục bắt buộc cần phải được “luật hóa” để đảm bảo tính “bắt buộc” đối với (i) độ tuổi bắt đầu và kết thúc giáo dục bắt buộc; (ii) trách nhiệm của nhà trường, gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc đảm bảo cho trẻ được đi học; (iii) trách nhiệm của trẻ đối với việc học tập của bản thân.

4) Để thực hiện được giáo dục bắt buộc, cần phải có các chính sách đảm bảo các điều kiện về các nguồn lực: tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất.

5) Miễn học phí là một chính sách hiệu quả để thực hiện giáo dục bắt buộc.

Hiện nay, ở Việt Nam, tầm quan trọng và sự cần thiết của giáo dục bắt buộc đã dần được nhận thức và Luật Giáo dục năm 2019 khẳng định: “Giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện”.6

Những đúc rút từ kinh nghiệm thực hiện giáo dục bắt buộc của một số nước trên thế giới nêu trên cũng là những khuyến nghị cho các cơ quan quản lý giáo dục và các viện nghiên cứu về giáo dục ở Việt Nam xem xét, xây dựng những chính sách phù hợp cho việc thực hiện giáo dục bắt buộc nhằm tăng cơ hội cho trẻ em được đi học ở trường và giảm số trẻ em không được đến trường hoặc bỏ học.

Tài liệu tham khảo

1. Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, năm 1989.

2. Bhalotra, Sonia, Harttgen, Kenneth, Klasen, Stephan, The Impact of school fees on educational attainment and the intergenerational transmission of education, UNESCO Digital Library, 2014/ED/EFA/MRT/PI/22.

3. Compusory education in Ẻuope 2022/2023, Eurydice - Facts and Figures.

4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Luật Giáo dục năm 2019, Luật số 43/2019/QH14, ban hành ngày14/6/2019.

5. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Luật Trẻ em năm 2019, Luật số 14/VBHN-VPQH ngày 29/6/2018.

6.https://www.ecs.org/50-state-comparison-free-and-compulsory-school-age-requirements/

7. https://www.make-it-in-germany.com/en/living-in-germany/family-life/school-system

8. https://www.us.emb-japan.go.jp/itpr_en/education-system-in-japan.html

9. https://wenr.wes.org/2021/10/education-in-poland

10. https://www.agencybasededucation.org/issues/ending-compulsory-education/

11. https://nces.ed.gov/programs/digest/d21/tables/dt21_234.10.asp

12. ttps://gpseducation.oecd.org/revieweducationpolicies/#!node=41694&filter=all

13. https://www.researchgate.net/figure/5-Starting-and-ending-age-of-compulsory-education_ tbl1_303370417

14. https://ourworldindata.org/global-education

15. https://expatchild.com/school-starting-ages-around-world/

16. https://wol.iza.org/articles/how-effective-is-compulsory-schooling-as-a-policy-instrument/long

17. https://okm.fi/en/education-system

18.https://www.moe.gov.sg/primary/compulsoryeducation/overview#:~:text=Your%20 child%20must%20attend%20a,and%20under%2015%20years%20old).

19.https://www.ilo.org/dyn/natlex/docs/ELECTRONIC/92653/108039/F1713308550/ CHN92653%20Eng.pdf

20. https://wenr.wes.org/2018/02/education-in-thailand-2

21. https://www.argentinaeducation.info/education-system

22. https://wenr.wes.org/2018/02/education-in-thailand-2

23. https://www.gov.uk/national-curriculum/key-stage-3-and-4

24. https://www.sciencedirect.com/topics/social-sciences/compulsory-education

25.https://www.unicef.org/lac/media/2766/file/PDF%20Minimum%20age%20for%20 compulsory%20education.pdf

26. https://wenr.wes.org/2016/02/education-in-the-u-k

27.https://www.advocatekhoj.com/library/bareacts/rightofchildrentofree/12.php?Title=Right%20of%20Children%20to%20Free%20and%20Compulsory%20Education%20Act,%202009&STitle=Extent%20of%20school%27s%20responsibility%20 for%20free%20and%20compulsory%20education

28.https://www.linkedin.com/pulse/state-responsibility-free-compulsory-education-primary-baig

29. http://www.0*-asianlii.org/cn/legis/cen/laws/cel263/

Chú dẫn

1 Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em được thông qua và mở để ký, phê chuẩn và gia nhập Nghị quyết Đại hội đồng 44/25 ngày 20 tháng 11 năm 1989.

2 Luật Trẻ em số 14/VBHN-VPQH ngày 29/6/2018.

3 Compulsory Education Act 2000 - CE Act 2000.

4 Right of Children to Free and Compulsory Education Act, 2009.

5https://www.unicef.org/lac/media/2766/file/PDF%20Minimum%20age%20for%20compulsory%20education.pdf

Cùng chuyên mục:

Xem thêm