ThS. Trần Mộng Nghi - ThS. Võ Phú Hữu -
Đại học Cần Thơ
Email: [email protected]; [email protected]
Tóm tắt: Bài báo tập trung phân tích trách nhiệm của công dân số trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay, từ đó làm rõ các yêu cầu và định hướng nâng cao trách nhiệm ấy nhằm góp phần kiến tạo môi trường số an toàn, lành mạnh và bền vững. Trên cơ sở tiếp cận lý luận theo hướng kết hợp quan điểm công dân số như năng lực tham gia đời sống xã hội trực tuyến, công dân số như một phạm trù giáo dục chuẩn mực hành vi, và công dân số như thực hành chính trị được kiến tạo trong đời sống số, bài báo triển khai phân tích cấu phần trách nhiệm theo các bình diện nhận thức, đạo đức, pháp lý và chính trị – xã hội. Đồng thời, bài báo đặt vấn đề trách nhiệm công dân số trong mối quan hệ với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an ninh mạng và nâng cao chất lượng tham gia công dân trong không gian mạng. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung khung luận giải cho nghiên cứu công dân số ở Việt Nam theo hướng vừa phát huy quyền năng tham gia, vừa tăng cường tự chịu trách nhiệm, qua đó hỗ trợ hoạch định chính sách, giáo dục và quản trị xã hội số.
Từ khóa: công dân số; trách nhiệm số; đạo đức thông tin; an ninh mạng; chuyển đổi số
1. Đặt vấn đề
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, nền tảng số và kết nối vạn vật đã làm thay đổi căn bản hình thức tổ chức đời sống xã hội, từ cách thức sản xuất, tiêu dùng đến phương thức giao tiếp, tham gia chính trị – xã hội. Trong môi trường ấy, cá nhân không chỉ là người sử dụng công nghệ, mà trở thành một tác nhân tạo lập, lan truyền và biến đổi các dòng chảy thông tin, đồng thời để lại dấu vết dữ liệu có khả năng tác động đến chính mình và cộng đồng. Tính chất lan truyền nhanh, lưu trữ dài và khó đảo ngược của thông tin số khiến các hành vi tưởng như cá nhân có thể kéo theo hệ quả xã hội rộng lớn, bao gồm khuếch đại sai lệch thông tin, tổn hại danh dự, xâm phạm quyền riêng tư, suy giảm niềm tin xã hội và gia tăng rủi ro an toàn, an ninh mạng. Vì vậy, nghiên cứu trách nhiệm của công dân số trở thành một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi số nhằm phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số theo định hướng đến năm 2030.
Về mặt lý luận, khái niệm công dân số đã được phát triển theo nhiều hướng tiếp cận. Cách tiếp cận nhấn mạnh năng lực tham gia đời sống xã hội trực tuyến cho rằng công dân số không chỉ gắn với quyền truy cập internet, mà còn gắn với tần suất sử dụng và năng lực kỹ năng để tham gia vào đời sống xã hội, kinh tế và chính trị thông qua môi trường số, qua đó tái định nghĩa khoảng cách số như một vấn đề bao gồm cả khả năng thực hành tham gia chứ không dừng ở hạ tầng. Cách tiếp cận này được khái quát rõ trong nghiên cứu của Mossberger, Tolbert và McNeal, nơi công dân số được đặt trong quan hệ giữa truy cập, kỹ năng và sự tham gia xã hội. Cách tiếp cận thứ hai đặt trọng tâm vào việc kiến tạo các chuẩn mực hành vi có trách nhiệm trong sử dụng công nghệ, coi công dân số là một khuôn khổ giáo dục nhằm hướng tới người dùng công nghệ vừa hiệu quả, vừa an toàn, vừa có trách nhiệm với người khác và cộng đồng. Ribble phát triển cách tiếp cận này theo hướng hệ thống hóa các yếu tố cấu thành hành vi công dân số trong môi trường học đường và các không gian xã hội liên quan. Cách tiếp cận thứ ba nhấn mạnh công dân số như một thực hành chính trị – xã hội được kiến tạo trong đời sống số, trong đó “làm công dân” được hình thành qua các hành động, yêu sách, biểu đạt và quan hệ quyền lực trung gian bởi nền tảng, dữ liệu và hạ tầng số. Isin và Ruppert đã luận giải sâu cách thức công dân được định hình trong điều kiện số hóa với những thay đổi về quyền, nghĩa vụ và chủ thể tính.
Tuy nhiên, khi đặt vào bối cảnh Việt Nam, một khoảng trống nghiên cứu nổi bật là xu hướng tách rời giữa hai cực. Một cực nhấn mạnh kỹ năng số và năng lực công nghệ như hợp phần phát triển nguồn nhân lực, cực còn lại nhấn mạnh quản lý nhà nước và an ninh mạng như một lĩnh vực pháp lý – kỹ thuật. Trong khi đó, mối quan hệ hữu cơ giữa quyền năng tham gia của công dân số và cấu trúc trách nhiệm theo các bình diện nhận thức, đạo đức, pháp lý và chính trị – xã hội vẫn cần được luận giải thống nhất, đặc biệt trong điều kiện chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu phát triển môi trường số an toàn và nhân văn. Bài báo hướng tới thu hẹp khoảng trống ấy bằng việc xây dựng một khung phân tích trách nhiệm công dân số và làm rõ những yêu cầu nâng cao trách nhiệm này trong bối cảnh mới ở Việt Nam.
Về phương pháp tiếp cận, bài báo sử dụng phân tích lý luận theo hướng chuẩn tắc kết hợp phân tích chính sách và bối cảnh xã hội. Phân tích chuẩn tắc được dùng để xác lập các bình diện trách nhiệm và tiêu chí đánh giá hành vi công dân số, trong khi phân tích chính sách – bối cảnh giúp đặt trách nhiệm công dân số vào quan hệ với tiến trình chuyển đổi số, yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an ninh mạng và ổn định xã hội. Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu là dữ liệu thứ cấp từ các văn kiện chính thống về chuyển đổi số và an toàn, an ninh mạng, cùng với các đóng góp lý luận quốc tế về đạo đức thông tin và công dân số.
2. Trách nhiệm của công dân số trong không gian mạng hiện nay
Trách nhiệm của công dân số, xét về bản chất, không thể giản lược thành yêu cầu tuân thủ kỹ thuật hoặc những khuyến cáo ứng xử mang tính đạo đức chung chung. Trong xã hội dữ liệu hóa, công dân số là chủ thể vừa có quyền năng tham gia, vừa có khả năng gây hệ quả thông tin, xã hội và pháp lý thông qua hành vi số. Từ góc nhìn lý luận chính trị và khoa học xã hội, trách nhiệm cần được hiểu như một cấu trúc đa bình diện, trong đó các bình diện liên kết với nhau và tạo nên chất lượng chủ thể công dân trong xã hội số.
Trên bình diện nhận thức, trách nhiệm bắt đầu từ năng lực hiểu môi trường số như một không gian có cấu trúc, vận hành theo cơ chế nền tảng hóa và thuật toán hóa. Khi việc phân phối thông tin chịu ảnh hưởng mạnh từ cơ chế tối ưu hóa tương tác, cảm xúc và định kiến có thể được khuếch đại, làm tăng nguy cơ sai lệch nhận thức tập thể. Trách nhiệm nhận thức vì vậy đòi hỏi công dân số phải có năng lực thẩm định thông tin, hiểu về độ tin cậy của nguồn, nhận diện các dấu hiệu thao túng và chủ động kiểm chứng trước khi chia sẻ. Ở cấp độ sâu hơn, trách nhiệm nhận thức còn bao hàm hiểu biết về dấu vết số và rủi ro dữ liệu, bởi hành vi tương tác, tìm kiếm, mua sắm, giải trí đều có thể được dữ liệu hóa, phục vụ phân loại và dự đoán hành vi. Việc thiếu năng lực nhận thức ở bình diện này không chỉ làm tăng nguy cơ nạn nhân hóa cá nhân trước lừa đảo và xâm hại dữ liệu, mà còn làm suy giảm năng lực tự quản của cộng đồng khi tin giả và nội dung độc hại lan truyền.
Trên bình diện đạo đức, trách nhiệm công dân số gắn với phẩm chất và chuẩn mực trong tương tác trực tuyến. Không gian mạng thường làm giảm các rào cản xã hội trực diện, từ đó bạo lực ngôn từ, hạ nhục, bêu riếu và cực đoan hóa có thể phát triển mạnh, nhất là khi chúng được “thưởng” bằng tương tác. Trách nhiệm đạo đức đòi hỏi công dân số tự điều chỉnh hành vi phát ngôn trên nền tảng tôn trọng nhân phẩm, tôn trọng sự thật và tôn trọng quyền riêng tư. Trong bối cảnh công nghệ tạo sinh nội dung phát triển, đạo đức số còn bao hàm trung thực tri thức và tôn trọng lao động trí tuệ, hạn chế sao chép, cắt ghép sai ngữ cảnh, phát tán nội dung giả mạo hoặc chiếm dụng. Lý luận đạo đức thông tin nhấn mạnh rằng các thực hành truyền thông và xử lý thông tin luôn mang hệ quả đạo đức đối với người khác và đối với môi trường thông tin chung, do đó trách nhiệm không chỉ là thiện chí cá nhân mà là năng lực lường trước hệ quả và lựa chọn hành động phù hợp.
Trên bình diện pháp lý, trách nhiệm công dân số được đặt trong quan hệ quyền và nghĩa vụ theo luật định. Việt Nam đã có Luật An ninh mạng năm 2018, trong đó xác lập các nguyên tắc bảo vệ không gian mạng quốc gia và phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Đồng thời, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, qua đó làm rõ hơn các chuẩn mực pháp lý gắn với quyền của chủ thể dữ liệu và trách nhiệm xử lý dữ liệu. Từ góc nhìn công dân, trách nhiệm pháp lý thể hiện ở việc nhận thức ranh giới giữa tự do biểu đạt và hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, giữa chia sẻ và phát tán nội dung vi phạm, giữa tranh luận và xúc phạm. Tuy nhiên, trách nhiệm pháp lý trong xã hội số không nên bị hiểu như sự né tránh chế tài, mà cần được nội tâm hóa như một thành tố của văn hóa pháp quyền, nơi công dân chủ động tuân thủ để bảo vệ chính mình và người khác, đồng thời góp phần giảm chi phí xã hội do vi phạm gây ra.
Trên bình diện chính trị – xã hội, trách nhiệm công dân số gắn với chất lượng tham gia đời sống công cộng trong môi trường mạng. Không gian số mở rộng cơ hội góp ý chính sách, phản biện xã hội, giám sát và tương trợ cộng đồng, nhưng cũng làm tăng nguy cơ phân mảnh xã hội, thao túng dư luận và khuếch đại xung đột. Trách nhiệm chính trị – xã hội vì vậy thể hiện ở ý thức lợi ích công, trong đó công dân số tham gia thảo luận công khai dựa trên lý lẽ, tôn trọng khác biệt và tôn trọng sự thật, đồng thời tránh biến không gian mạng thành nơi kích động thù ghét hoặc hợp thức hóa bạo lực biểu tượng. Trách nhiệm này cũng bao hàm nghĩa vụ công dân đối với việc góp phần tạo lập môi trường số an toàn, thông qua các thực hành như không tiếp tay lan truyền nội dung độc hại, chủ động báo cáo hành vi vi phạm, hỗ trợ nạn nhân của bạo lực mạng và lan tỏa các giá trị tích cực. Khi công dân số thực hiện trách nhiệm chính trị – xã hội một cách trưởng thành, không gian mạng có khả năng trở thành một phần của đời sống công cộng giàu tính đối thoại và đồng thuận, thay vì trở thành môi trường đứt gãy niềm tin.
Nhìn tổng thể, trách nhiệm công dân số trong không gian mạng là một cấu trúc thống nhất. Nhận thức đúng tạo nền cho lựa chọn đạo đức, lựa chọn đạo đức củng cố thói quen tuân thủ pháp luật, và toàn bộ quá trình được định hướng bởi ý thức lợi ích công trong đời sống chính trị – xã hội. Khi thiếu một mắt xích, trách nhiệm trở nên lệch pha. Kỹ năng cao nhưng thiếu đạo đức và pháp quyền có thể biến công dân số thành tác nhân gây rủi ro. Ngược lại, đạo đức và pháp quyền nếu không đi kèm năng lực nhận thức sẽ khó thực hành, dễ rơi vào hình thức. Vì vậy, phân tích trách nhiệm công dân số cần giữ được tính liên thông giữa các bình diện, đồng thời đặt trọng tâm vào việc hình thành năng lực tự chịu trách nhiệm trong điều kiện hành vi số có hệ quả khó đảo ngược.
3. Yêu cầu và định hướng nâng cao trách nhiệm công dân số ở việt nam trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh Việt Nam, yêu cầu nâng cao trách nhiệm công dân số xuất hiện như một điều kiện phát triển quốc gia trong chuyển đổi số, đồng thời là một yêu cầu bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong môi trường mạng. Về định hướng chiến lược, Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định chủ trương chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhấn mạnh yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trên bình diện chương trình hành động, Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu vừa đổi mới hoạt động quản lý, sản xuất, đời sống người dân, vừa phát triển môi trường số an toàn và nhân văn. Những định hướng này cho thấy trách nhiệm công dân số không phải một yêu cầu phụ trợ, mà là nền tảng xã hội để chuyển đổi số vận hành bền vững, bởi công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi hành vi công dân tương thích với chuẩn mực an toàn, đạo đức và pháp quyền.
Yêu cầu thứ nhất đặt ra là gắn nâng cao trách nhiệm công dân số với nâng cao năng lực nhận thức và kiểm chứng thông tin như một năng lực công dân trong xã hội số. Trong môi trường truyền thông nền tảng, thông tin sai lệch không chỉ là vấn đề nhận thức cá nhân mà có thể trở thành rủi ro quản trị xã hội khi nó khuếch đại hoang mang, cực đoan hóa hoặc tạo ra các hành vi đám đông. Vì vậy, nâng cao trách nhiệm cần đi theo hướng phát triển năng lực đọc hiểu thông tin số, năng lực xác minh, và năng lực nhận diện thao túng. Ở đây, phương pháp tác động hiệu quả thường không nằm ở các khẩu hiệu tuyên truyền ngắn hạn, mà nằm ở cơ chế giáo dục và truyền thông theo hướng hình thành thói quen tư duy phản biện, biết dựa trên bằng chứng và biết trì hoãn phản ứng cảm xúc trước khi chia sẻ. Khi năng lực này được phổ cập, xã hội có khả năng tăng cường “miễn dịch thông tin” và giảm chi phí xử lý hậu quả do tin giả gây ra.
Yêu cầu thứ hai là nội tâm hóa đạo đức số song hành với củng cố văn hóa pháp quyền trong không gian mạng, coi đó là trục kép định hướng hành vi. Ở cấp độ đạo đức, xã hội số đặt ra những tình huống mà hậu quả của hành vi khó nhận biết ngay lập tức, chẳng hạn một lời bình luận mang tính hạ nhục có thể dẫn đến bạo lực mạng kéo dài, hoặc một hành vi chia sẻ dữ liệu có thể gây tổn hại quyền riêng tư lâu dài. Vì vậy, đạo đức số cần được phát triển như một năng lực lường trước hệ quả, tôn trọng nhân phẩm và tôn trọng sự thật. Ở cấp độ pháp quyền, sự hoàn thiện khung pháp lý về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân tạo cơ sở cho các chuẩn mực tối thiểu của hành vi số, đồng thời khẳng định quyền của cá nhân trong môi trường dữ liệu hóa. Vấn đề then chốt là làm sao để pháp luật không chỉ tồn tại như một cơ chế xử phạt, mà trở thành nền tảng của thói quen tuân thủ và tự bảo vệ. Khi đạo đức và pháp quyền được kết nối, trách nhiệm công dân số có cơ sở để chuyển từ trạng thái đối phó sang trạng thái tự giác, qua đó giảm phụ thuộc vào biện pháp cưỡng chế và giảm gánh nặng quản trị nhà nước.
Yêu cầu thứ ba là kiến tạo cơ chế đồng kiến tạo môi trường số an toàn giữa nhà nước, doanh nghiệp nền tảng và cộng đồng công dân, qua đó nâng cao chất lượng tham gia chính trị – xã hội trong không gian mạng. Trong đời sống số, hành vi công dân chịu ảnh hưởng bởi thiết kế nền tảng, cơ chế đề xuất nội dung và chính sách kiểm duyệt, xử lý báo cáo. Vì vậy, nếu chỉ đặt trách nhiệm lên cá nhân người dùng mà không tính đến cấu trúc nền tảng, hiệu quả nâng cao trách nhiệm sẽ bị hạn chế. Trục đồng kiến tạo đòi hỏi sự kết hợp giữa năng lực quản trị của nhà nước, trách nhiệm giải trình và minh bạch của nền tảng, cùng năng lực tự quản cộng đồng dựa trên chuẩn mực xã hội. Khi nền tảng có cơ chế giảm khuếch đại nội dung độc hại, có quy trình xử lý vi phạm minh bạch, và khi cộng đồng có văn hóa đối thoại dựa trên lý lẽ, không gian mạng sẽ ít bị chi phối bởi cực đoan hóa và thao túng. Đồng thời, sự tham gia công dân sẽ chuyển theo hướng xây dựng, phản biện có trách nhiệm, tạo điều kiện củng cố đồng thuận xã hội, hỗ trợ nhiệm vụ bảo đảm an ninh, an toàn và bảo vệ lợi ích công trong môi trường mạng.
Từ ba yêu cầu trên, định hướng nâng cao trách nhiệm công dân số ở Việt Nam cần được triển khai như một chương trình phát triển con người trong xã hội số, thay vì chỉ là một gói giải pháp hành chính. Về phương pháp, trọng tâm nằm ở tích hợp giáo dục trách nhiệm số vào giáo dục công dân và giáo dục truyền thông theo hướng hình thành năng lực ra quyết định có trách nhiệm. Sự tích hợp này cần nối liền tri thức pháp luật với chuẩn mực đạo đức thông tin và kỹ năng phản biện, để công dân không chỉ biết điều cấm mà còn hiểu logic bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Trên bình diện chính sách, việc hiện thực hóa mục tiêu xây dựng môi trường số an toàn và nhân văn theo Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đòi hỏi các thiết chế truyền thông, giáo dục, cơ quan quản lý và nền tảng số cùng tham gia kiến tạo chuẩn mực, trong đó cơ chế phối hợp, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quyết định.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế số, trách nhiệm công dân số còn gắn với việc nâng cao vốn xã hội số, thể hiện qua mức độ tin cậy của giao dịch trực tuyến, chuẩn mực tôn trọng quyền riêng tư và ý thức tuân thủ quy tắc. Nếu vốn xã hội số thấp, chi phí kiểm soát rủi ro tăng cao, thị trường số kém hấp dẫn và niềm tin xã hội suy giảm. Vì vậy, nâng cao trách nhiệm công dân số cũng là nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số, bởi niềm tin và chuẩn mực hành vi là điều kiện để công nghệ được sử dụng theo hướng tạo giá trị thay vì tạo rủi ro.
4. Kết luận
Bài báo đã phân tích trách nhiệm của công dân số như một cấu trúc đa bình diện trong không gian mạng, bao gồm nhận thức, đạo đức, pháp lý và chính trị – xã hội, nhấn mạnh tính liên đới và tính hệ quả của hành vi số trong xã hội dữ liệu hóa. Trên cơ sở đó, bài báo làm rõ các yêu cầu và định hướng nâng cao trách nhiệm công dân số ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, hoàn thiện thể chế an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, đồng thời đặt trọng tâm vào cơ chế đồng kiến tạo môi trường số an toàn và nhân văn. Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu nằm ở việc kết nối các tiếp cận công dân số thành một khung luận giải thống nhất về trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu nghiên cứu lý luận chính trị và khoa học xã hội. Giá trị thực tiễn thể hiện ở việc gợi mở định hướng phát triển năng lực công dân trong xã hội số theo hướng vừa phát huy quyền năng tham gia, vừa tăng cường tự chịu trách nhiệm và tuân thủ chuẩn mực, qua đó góp phần xây dựng môi trường số bền vững ở Việt Nam hiện nay.
Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ Chính trị. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
[2]. Chính phủ. (2023). Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
[3]. Floridi, L. (2013). The ethics of information. Oxford University Press.
[4]. Isin, E. F., & Ruppert, E. (2015). Being digital citizens. Bloomsbury Academic.
[5]. Mossberger, K., Tolbert, C. J., & McNeal, R. S. (2008). Digital citizenship: The Internet, society, and participation. MIT Press.
[6]. Quốc hội. (2018). Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14.
[7]. Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
[8]. Ribble, M. (2015). Digital citizenship in schools: Nine elements all students should know (3rd ed.). International Society for Technology in Education.
|
|
