TS Nguyễn Hữu Tuấn
Khoa Triết học Mác - Lênin, Trường Sĩ quan Chính trị
Email: [email protected]
Tóm tắt: Trên cơ sở xác định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm cơ bản về vấn đề này. Đây là những định hướng quan trọng cho bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay. Đối với giảng viên KHXH&NV các nhà trường Quân đội, là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh lại càng trở nên cấp thiết hơn. Bài viết, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, từ đó vận dụng đưa ra các định hướng phát huy trách nhiệm của giảng viên KHXH&NV các nhà trường Quân đội hiện nay.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; giảng viên KHXH&NV.
1. Đặt vấn đề
Sinh thời, Hồ Chí Minh xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng. Từ thực tiễn, Người đã đề ra những quan điểm sâu sắc, có giá trị to lớn đối với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hiện nay, trong bối cảnh đất nước đang “vươn mình” bước vào giai đoạn phát triển mới, tác động mạnh mẽ của Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo (AI), sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột quân sự và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đứng trước nhiều vấn đề mới, phức tạp. Vì vậy, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có ý nghĩa quan trọng, không chỉ đối với sự nghiệp cách mạng mà còn đối với phát huy trách nhiệm của giảng viên KHXH&NV các nhà trường Quân đội.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Một là, khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trên cơ sở thấm nhuần bản chất khoa học, cách mạng, thấy rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của lý luận đối với cách mạng, Hồ Chí Minh đã xác định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề tiên quyết, cốt lõi của công tác xây dựng Đảng.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, tư sản và tiểu tư sản lần lượt thất bại, đặt ra yêu cầu phải có một hệ tư tưởng đúng đắn soi đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sau quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Song, cách mạng phải có đảng cách mạng và đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm “cốt”. Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [3, tr.289].
Trong tác phẩm “Thường thức chính trị” (1965), Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin” [6, tr.275]. Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường cách mạng, dẫn dắt nhân dân ta đi tới thắng lợi cuối cùng, tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Người nhấn mạnh rằng, cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn là do tổng hòa nhiều nhân tố; song trước hết và quan trọng nhất chính là nhờ có “vũ khí” lý luận sắc bén, không gì có thể thay thế được - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin.
Theo Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng cần phải thực hiện cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó, xây dựng Đảng về tư tưởng, lãnh đạo về tư tưởng là mặt quan trọng nhất bảo đảm cho mọi cán bộ, đảng viên luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, không bị lúng túng, dao động, suy thoái, chuyển hóa. Người nhấn mạnh “nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin”… “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng. Đảng phải tăng cường tư tưởng của giai cấp công nhân và gột rửa những tư tưởng trái với nó” [6, tr.279].. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân” [6, tr.533]. Người yêu cầu: “Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận, mở rộng tự phê bình và phê bình, đấu tranh vào những tư tưởng “phi vô sản” [3, tr.322].
Hai là, kiên quyết đấu tranh phê phán khuynh hướng tư tưởng lệch lạc, sai trái, phi mácxít
Cùng với khẳng định vai trò, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Người cũng phê phán gay gắt tư tưởng lệch lạc, sai trái, phi mácxít. Trong thời gian hoạt động cách mạng ở Pháp, Người đã nhận thức rõ thực chất của chủ nghĩa cơ hội tiểu tư sản trong Quốc tế II, khi ủng hộ chính sách thuộc địa của chủ nghĩa tư bản và đưa ra chính sách phân biệt chủng tộc. Người viết: “Trong chính sách thuộc địa của Quốc tế thứ hai, bất cứ ở đâu cũng lộ rõ bộ mặt thật của tổ chức tiểu tư sản này. Bởi vậy, cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là một thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng, một thứ thủ đoạn mới để lừa dối và bóc lột người bản xứ” [3, tr.233]. Người không chỉ tranh luận trong chi bộ, mà còn đi đến các chi bộ khác để đặt câu hỏi: “Nếu các đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu các đồng chí không đoàn kết với các dân tộc thuộc địa, thì các đồng chí làm thứ cách mạng gì?” [11, tr.585].
Từ kinh nghiệm thực tiễn, tư duy chính trị sắc bén, Người đã sớm nhận ra bản chất, mưu đồ của các phần tử tờrốtxkít. Chúng đã phá hoại phong trào cách mạng ở nhiều nước và ngay cả trong Quốc tế cộng sản. Người chỉ ra: “Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất” [4, tr.154]. Đối với cách mạng Đông Dương, khi đang hoạt động ở nước ngoài, Người đã đề nghị các đồng chí trong Đảng cần phải cảnh giác với bọn này: “Đối với bọn tờrốtkít, không thể có thỏa hiệp nào, một nượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị” [4, tr.167].
Tại Hội nghị Đại biểu các Đảng Cộng sản và Công nhân các nước xã hội chủ nghĩa (tháng 11/1957), Người đã phê phán chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong phát biểu của mình, Người đã khẳng định: “Chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại” [8, tr.189].
Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta luôn đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích giai cấp vô sản và của nhân dân, biết vận dụng lý luận Mác - Lênin vào tình hình thực tế và đề ra đường lối, chính sách đúng đắn. Đảng ta không ngừng đấu tranh chống những khuynh hướng cải lương của giai cấp tư sản và những khuynh hướng manh động của tầng lớp tiểu tư sản trong phong trào dân tộc; chống luận điệu “tả” của bọn tơrốtxkít trong phong trào công nhân; chống khuynh hướng “hữu” và “tả” trong Đảng khi quy định và chấp hành chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng ở mỗi thời kỳ” [9, tr.416]. Theo Người, mọi tư tưởng cơ hội, cải lương, phản cách mạng, phi mácxít hay giả danh mácxít đều nguy hại cho cách mạng. Vì vậy, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin cũng là bảo vệ đường lối chính trị của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng. Đó là yêu cầu khách quan trong đấu tranh tư tưởng, lý luận ở mọi giai đoạn cách mạng.
Ba là, phê phán những sai lầm trong học tập, nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin
Hồ Chí Minh là người vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào cách mạng nước ta. Người luôn thấm nhuần nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong học tập, nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo Người căn bệnh dễ mắc phải là trong học tập, nghiên cứu, vận dụng và chỉ đạo hoạt động thực tiễn là “tả” khuynh hoặc “hữu” khuynh. “Tả” khuynh thì sẽ bị cô lập, sẽ xa rời nhân dân ta và nhân dân thế giới và sẽ thất bại. Hữu khuynh thì bi quan tiêu cực, nhân nhượng vô nguyên tắc. Không tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, làm nhụt tinh thần phấn đấu của nhân dân. Quên tác phong gian khổ; chỉ mong muốn một đời sống yên ổn dễ dàng” [6, tr.553]. Người kết luận, cả hai khuynh hướng này đều sai lầm. “Khuynh hướng “tả” cũng như hữu đều là sai lầm, đều sẽ bị địch lợi dụng, đều có hại cho ta mà lợi cho địch” [6, tr.554].
Trong giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp ở Việt Nam, Người đã thẳng thắn phê phán các quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn, máy móc. Người chỉ rõ: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” [5, tr.312]. Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc, Hồ Chí Minh chỉ rõ “ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác” [7, tr.391]. Người đặc biệt nhấn mạnh việc vận dụng lý luận vào thực tiễn Việt Nam phải nắm vững điều kiện đặc thù của nước ta là một xã hội vừa mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu. Theo Người, nguyên nhân của các bệnh này là vừa không nắm vững lý luận, vừa xa rời thực tiễn, thiếu tính sáng tạo trong quá trình vận dụng. Người yêu cầu: “Chúng ta phải khắc phục bệnh giáo điều đồng thời phải đề phòng chủ nghĩa xét lại” [8, tr.98]. Để làm được điều đó, phải vừa coi trọng việc học tập, nghiên cứu lý luận, vừa gắn lý luận với thực tiễn.
Bốn là, xác định trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong học tập, nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trên cơ sở thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm thực tiễn phong phú, Hồ Chí Minh luôn đề cao trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phê phán với quan điểm sai trái, thù địch, phản động, phi mácxít. Chính vì vậy, ngay trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập dân tộc, cùng với đấu tranh không khoan nhượng, chống tư tưởng bè phái, Đảng “phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao trình độ văn hóa và chính trị cho các đảng viên” [8, tr.98].
Mục đích của việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, theo Người để làm giàu tư duy khoa học, kiên định về chính trị, đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, “học để làm”, để vận dụng vào công việc, phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam, để đưa cách mạng đến thắng lợi. Do đó, Người yêu cầu không phải là học câu chữ máy móc mà cần phải nắm được bản chất, nắm được tinh thần “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn” [8, tr.611]. Người phê phán gay gắt trước những biểu hiện nhận thức, hành động lệch lạc trong học tập lý luận. Đó là “học sách vở Mác - Lênin, nhưng không học tinh thần Mác - Lênin. Học để trang sức, chứ không để vận dụng vào công việc cách mạng. Đó cũng là chủ nghĩa cá nhân” [8, tr.611].
Hồ Chí Minh rất coi trọng việc học tập lý luận, coi đó là việc thường xuyên, hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị lần thức ba Ban Chấp hành Trung ưởng Đảng khóa II, trên cơ sở khẳng định ý nghĩa của việc học tập lý luận là “nâng cao trình độ tư tưởng và chính trị của cán bộ và đảng viên, tẩy bỏ tư tưởng phi vô sản và tiểu tư sản, thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, đoàn kết toàn Đảng để Đảng làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang của mình” [8, tr.98]. Người yêu cầu, “Mỗi đảng viên, mỗi chi bộ, mỗi cấp ủy đảng phải luôn luôn tăng cường công tác tư tưởng của Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng, bảo đảm chặt chẽ kỷ luật và tổ chức của Đảng” [10, tr.363]. Bên cạnh đó, Người nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng. Đảng phải tăng cường tư tưởng của giai cấp công nhân và gột rửa những tư tưởng trái với nó. Người yêu cầu: “Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận, mở rộng tự phê bình và phê bình, đấu tranh vào những tư tưởng “phi vô sản”[6, tr.280]
2.2. Trách nhiệm của giảng viên KHXH&NV các nhà trường Quân đội hiện nay
Một là, nhận thức sâu sắc, đề cao trách nhiệm của giảng viên KHXH&NV các nhà trường Quân đội đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới.
Xuất phát từ mong muốn cứu nước, cứu dân, giành độc lập dân tộc, từ nhận thức sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã xác định đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bối cảnh mới, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, đã xác định: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân”. Trên cơ sở đó, Nghị quyết cũng nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn, nội dung, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, xác định nhiệm vụ, giải pháp, trách nhiệm, nội dung, phương thức lãnh đạo đấu tranh tư tưởng. Để tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiệu quả, đòi hỏi phải các nhà trường Quân đội phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi giảng viên KHXH&NV. Đặc biệt, phải tổ chức nghiên cứu, quán triệt, học tập nghiêm túc Nghị quyết 35 và các nghị quyết liên quan đến đấu tranh tư tưởng, lý luận như: Nghị quyết trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII); Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng…Đây là cơ sở để mỗi giảng viên KHXH&NV xác định đúng động cơ, trách nhiệm, nội dung, hình thức, phương thức cụ thể trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Đối với mỗi giảng viên KHXH&NV các nhà trường Quân đội phải thấy rõ vị trí, vai trò tiên phong, nòng cốt trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường Quân đội tập trung giảng dạy các môn KHXH&NV, qua đó, xây dựng, bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, niềm tin cộng sản, phát triển tư duy lý luận, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, kỷ luật, năng lực toàn diện, phương pháp, tác phong công tác cho người học. Đồng thời với nhiệm vụ giảng dạy là nghiên cứu KHXH&NV phục vụ sự nghiệp giáo dục đào tạo, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh mới họ là lực lượng tiên phong, nòng cốt, chủ yếu có vai trò trực tiếp quyết định đấu tranh tư tưởng, lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc nhận thức rõ vị trí, vai trò của bản thân là cơ sở quan trọng để họ xác định động cơ đúng đắn, quyết tâm, trách nhiệm cao trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Từ đó, cụ thể hóa nghị quyết, kế hoạch các cấp thành kế hoạch cá nhân và luôn nêu cao trách nhiệm thực hiện với chất lượng, hiệu quả cao.
Hai là, ra sức học tập, nghiên cứu nắm vững hệ tư tưởng của Đảng, vận dụng sáng tạo trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đấu tranh tư tưởng, lý luận góp phần bổ sung, phát triển lý luận.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra tầm quan trọng của việc học tập nắm vững lý luận, vận dụng sáng tạo trong thực tiễn. Đối với giảng viên KHX&NV các nhà trường Quân đội việc chủ động, tích cực học tập, nghiên cứu toàn diện, nắm chắc những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng có vai trò quan trọng hàng đầu để không những nâng cao tư tưởng chính trị mà còn phục vụ cho nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đặc biệt là nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận. Hiện nay, cần cập nhật nắm vững những điểm mới trong hệ thống lý luận đường lối đổi mới của Đảng mà Đại hội XIV đã xác định. Quá trình đó luôn coi trọng nắm thực chất lý luận, tuyệt đối tránh học tập hình thức, chống đối, chiếu lệ, giáo điều. Coi trọng học đi đôi với hành, lý luận luôn liên hệ với thực tiễn tình hình thế giới, trong nước, quân đội, đơn vị cơ sở nhằm chống bệnh giáo điều, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa.
Trong giảng dạy chú trọng truyền thụ bản chất tri thức Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những điểm mới trong phát triển lý luận của Đảng. Mặt khác, phải thường xuyên quán triệt thực hiện tốt nghị quyết của tổ chức đảng các cấp trong các nhà trường Quân đội. Quá trình đó cũng cần phải kiên quyết đấu tranh phê phán với quan điểm sai trái, thù địch phản động, quan điểm phi mácxít. Qua đó, làm cho người học lĩnh hội sâu sắc kiến thức, hình thành, phát triển thế giới quan, phương pháp luận khoa học, phát triển tư duy lý luận, hình thành, phát triển kỹ năng nghề nghiệp, phương pháp, tác phong công tác, hoàn thiện nhân cách, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Tích cực nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu với giảng dạy với đấu tranh tư tưởng, lý luận. Qua đó, phát hiện, bổ sung những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn, góp phần bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng trong bối cảnh mới.
Ba là, tích cực tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận, phê phán, bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch, phản động bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận hệ tư tưởng của Đảng.
Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, lệch lạc, phi mácxít. Người luôn yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm không những trong học tập, nghiên cứu, vận dụng mà còn trong đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng một cách trực diện, toàn diện, liên tục. Điều đó, đòi hỏi giảng viên KHXH&NV các nhà trường Quân đội cần phải nâng cao trình độ lý luận, năng lực tư duy phản biện, kỹ năng nhận diện, phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, “phi mácxít”. Mặt khác, họ phải luôn bám sát tình hình thực tiễn, đề cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, nhất là trên không gian mạng làm cơ sở để xác định những hình thức, biện pháp đấu tranh hiệu quả.
Với vai trò là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong đấu tranh tư tưởng, lý luận của các nhà trường Quân đội, mỗi giảng viên KHXH&NV cần phải đề cao trách nhiệm, tích cực tham gia Lực lượng 47 của các nhà trường, của các khoa giáo viên. Tích cực viết bài đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, phản động trong các trang chính thống của các nhà trường, của Quân đội cũng như trên không gian mạng. Trực tiếp tham gia các hội thảo, tọa đàm về bảo vệ nền tảng của Đảng, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, phản động. Đi đầu và đạt hiệu quả cao trong tham gia Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tài liệu tham khảo
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.
[2]. Ban Tuyên giáo và dân vận trung ương, Tài liệu hỏi - đáp nội dung cơ bản của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2026.
[3] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H.2011.
[4]. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H.2011.
[5]. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2011.
[6]. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2011.
[7]. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H.2011.
[8]. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H.2011.
[9]. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H.2011.
[10]. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 14, Nxb CTQG, H.2011.
[11]. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, H.2011.