TỰ HÀO 80 NĂM NỀN GIÁO DỤC CÁCH MẠNG VIỆT NAM, VỮNG TIN BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

GS.TSKH.NGND. Nguyễn Mậu Bành - Nguyên Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Việt Nam 1.Đặt vấn đề Từ mùa thu năm 1945, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nền giáo dục cách mạng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định là quốc sách hàng đầu - một trong ba nhiệm vụ cấp bách để cứu dân tộc thoát khỏi nạn mù chữ, nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Suốt 80 năm qua, nền giáo dục Việt Nam không ngừng phát triển trong bối cảnh đất nước trải qua nhiều bước ngoặt lịch sử: khá
20:41 | 19/08/2025

GS.TSKH.NGND. Nguyễn Mậu Bành -

Nguyên Chủ tịch Hội Cựu giáo chức Việt Nam

1.Đặt vấn đề

Từ mùa thu năm 1945, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nền giáo dục cách mạng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định là quốc sách hàng đầu - một trong ba nhiệm vụ cấp bách để cứu dân tộc thoát khỏi nạn mù chữ, nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Suốt 80 năm qua, nền giáo dục Việt Nam không ngừng phát triển trong bối cảnh đất nước trải qua nhiều bước ngoặt lịch sử: kháng chiến, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đổi mới và hội nhập quốc tế. Dưới ánh sáng của Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối giáo dục của Đảng và chính sách của Nhà nước, giáo dục Việt Nam từng bước khẳng định vai trò động lực then chốt cho phát triển con người và quốc gia.

2. Nội dung

Kỷ niệm 80 năm nền giáo dục cách mạng, chúng ta cần mở lại từng trang lịch sử để nhớ đến người đã đi năm châu, bốn biển để trải nghiệm, quan sát các nước trên thế giới từ văn minh đến nghèo khổ. Từ đó tìm đường cứu nước xây dựng tư tưởng giáo dục, minh triết giáo dục để chỉ đạo nền giáo dục sau cách mạng, đưa giáo dục Việt Nam đạt được thành tựu như hiện nay và cùng suy nghĩ giáo dục cần làm gì trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc do Đảng ta, đứng là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đề ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 05/6/1911, trên con tàu Amiral Latouche-Tréville, rời bến cảng Nhà Rồng, Sài Gòn. Lúc đó, Người mang tên Nguyễn Tất Thành và hành trình này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Người đã đi đến Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á để rút ra bài học tại sao bị nô lệ, bị áp bức và nghèo khổ, từ đó rút ra nhận xét:

- Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.

- Chính sách ngu dân là chính sách được "ưa dùng" của các nước đế quốc xâm lược.

- Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau là điều rất quan trọng và cần thiết.

Sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, năm 1941 khi trở về nước lãnh đạo cách mạng, Người đã quan tâm đặc biệt đến giáo dục và đào tạo bằng những chủ trương cụ thể: Xóa mù chữ, phát triển bình dân học vụ, huấn luyện cán bộ cho cách mạng, để khi có thời cơ phát xít Đức - Nhật đầu hàng Đồng minh, Người đã phất cờ Tổng khởi nghĩa làm Cách mạng Tháng Tám, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ để bàn những nhiệm vụ cấp bách của cách mạng, Người đã đề xuất ba nhiệm vụ: Chống giặc đói, chống giặc dốt và chống giặc ngoại xâm. Chống giặc dốt còn trên cả chống giặc ngoại xâm.

Như vậy, chúng ta đã khởi đầu một nền giáo dục cách mạng từ tháng 9/1945.

Qua 80 năm sau Cách mạng Tháng Tám, ngành Giáo dục được sự chỉ đạo bởi Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh và bằng những chỉ dẫn cụ thể qua các bức thư Người gửi cho ngành Giáo dục, cũng như những phát biểu của Người tại các hội nghị, cuộc họp, toàn ngành đã đạt được các thành tựu to lớn:

- Đã hoàn thành xóa mù chữ cho trên 95% dân số.

- Đã chuyển một nền giáo dục thực dân phong kiến sang giáo dục dân tộc dân chủ.

- Đã xây dựng và ban hành khung hệ thống giáo dục Việt Nam, gồm: Mầm non, Phổ thông, Đại học.

- Đã tiến hành 3 lần cải cách giáo dục, đưa đến những thắng lợi của cách mạng: Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đánh đuổi đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước:

Cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1950 tại vùng tự do: Xác định mục tiêu giáo dục đào tạo con người, lấy hệ giá trị: "Nhân - Nghĩa -Trí - Dũng - Liêm" là giá trị cốt lõi của nhân cách, đưa đến chiến thắng Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Cải cách giáo dục lần thứ hai năm 1956: Thống nhất giáo dục vùng tự do và vùng mới giải phóng ở miền Bắc. Đất nước tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc đấu tranh chống xâm lược Mỹ, thống nhất đất nước năm 1975.

Cải cách giáo dục lần thứ ba năm 1979: Thống nhất giáo dục đào tạo cả nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.

Trên cơ sở 3 lần cải cách, giáo dục sau cách mạng đã đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, phục vụ cho kháng chiến kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, giáo dục cũng còn có những những khó khăn, bất cập, hạn chế trong đáp ứng những yêu cầu của đất nước.

Ngày 04/11/2013, Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI đã ban hành nghị quyết số 29 NQ/TW Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết thể hiện tính khoa học, tính cách mạng và những phát triển mới về thực tiễn giáo dục. Qua 10 năm thực hiện nghị quyết (2013-2023), nền giáo dục cách mạng đạt được những kết quả:

- Đã quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng về giáo dục, đổi mới tư duy về giáo dục và đào tạo, chuyển từ tư duy giáo dục theo tiếp cận nội dung sang tư duy giáo dục tiếp cận năng lực.

- Phát triển lý luận giáo dục theo hướng hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, cập nhật các thành tựu khoa học, công nghệ trong giáo dục - đào tạo theo hướng phát triển năng lực người học.

- Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, xây dựng và đánh giá giáo dục theo tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng đầu ra.

- Đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa ở phổ thông.

- Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả trong giáo dục đào tạo.

- Về quản lý đã ban hành Luật giáo dục và Luật giáo dục Đại học:

+ Đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh.

+ Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.

+ Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ trong các trường đại học, tạo bước đột phá trong quản trị đại học công lập.

+ Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục - đào tạo.

Theo thống kê đến năm 2024, tổng số học sinh của nước ta là 21.178.982 em, trong đó cấp mầm non có 4.269.582 trẻ em, cấp tiểu học có 8.117.930 học sinh, cấp THCS có 5.256.032 học sinh, cấp THPT có 2.279.350 học sinh. Tổng số nhà giáo cấp mầm non và phổ thông là 1.251.377 thầy, cô giáo, cán bộ quản lý là 99.412.

Quảng cáo

Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia trong cả nước năm 2024 với giáo dục mầm non là 56.3%, tiểu học 62.5%, THCS 68.0% và THPT 49.6%.

Khối đại học và chuyên nghiệp đã thực hiện quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, thực hiện tự chủ đại học, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Đến nay, cả nước có 174 cơ sở giáo dục đại học công lập và 60 cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập với số lượng nhà giáo là 91.297, trong đó có 743 Giáo sư, 5.620 Phó giáo sư, 23.776 Tiến sĩ và 53.412 Thạc sĩ.

Các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam tiếp tục được xếp hạng cao và tăng thứ bậc trên các bảng xếp hạng uy tín quốc tế. Theo kết quả xếp hạng của tổ chức Times Higher Education (THE) công bố ngày 01/5/2024, Việt Nam có 06 trường lọt vào bảng xếp hạng đại học Châu Á tốt nhất năm 2024.

Tất cả những thành tựu trên của giáo dục là nhân tố cho vị thế của Việt Nam trên bản đồ thế giới với chỉ số phát triển con người HDI (Human Developement Index) 0.704 đứng thứ ba khu vực Đông Nam Á (chỉ số này có 3 chỉ số thành phần: Kinh tế, giáo dục, tuổi thọ). Việt Nam trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1996, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD.

Đây là dấu mốc khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải góp phần là nhân tố quan trọng cho sự phát triển trong thời gian tới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu trên, chúng ta cũng đang đối mặt với những thách thức về chất lượng giáo dục, khả năng sáng tạo, năng suất lao động, khả năng thực hành và trình độ ngoại ngữ còn có khoảng cách so với các nước phát triển.

Để bước vào kỷ nguyên vươn mình, về mặt thể chế Đảng đã có những Nghị quyết chỉ đường, đó là:

+ Nghị quyết số 57-NQ/TƯ về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ban hành ngày 22/12/2024.

+ Nghị quyết số 59-NQ/TƯ về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, ban hành ngày 24/01/2025

+ Nghị quyết số 66-NQ/TƯ về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

+ Nghị quyết số 68-NQ/TƯ về phát triển kinh tế tư nhân.

Đến thời điểm hiện nay có thể khẳng định, 4 nghị quyết trên là "Bộ tứ trụ cột" để giúp chúng ta "cất cánh", như phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Chúng ta đều biết, nếu không có nội lực mạnh mẽ và tầm cao trí tuệ, chúng ta không thể tiếp nhận những tri thức đỉnh cao của nhân loại để vận dụng vào hoàn cảnh và đất nước không thể vươn mình. Do vậy, cùng với sự chủ động vào cuộc của cả hệ thống chính trị và mỗi người dân trong hội nhập quốc tế, rất cần một xã hội học tập mà tri thức công nghệ là điểm đến không ngừng, phổ cập tri thức số, chuyển đổi số, công nghệ trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh... cần được coi là nhiệm vụ cấp bách và phải triển khai đồng bộ, qua đó tạo mặt bằng tri thức mới, cùng với đó là tập trung đào tạo những đỉnh cao khoa học tiên phong lĩnh hội và chuyển hóa tri thức lan tỏa trong cộng đồng.

Giáo dục phải tiếp tục thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW trong kỷ nguyên vươn mình vừa tăng số lượng, chất lượng đào tạo các ngành nghề, lĩnh vực mới, đặc biệt công nghệ số, AI, thực hiện lời kêu gọi của Tổng Bí thư Tô Lâm thực hiện “Bình dân học vụ số”, làm cho dân tộc Việt Nam vốn đã thông minh sẽ trở thành một dân tộc thông thái như Bác Hồ mong muốn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người". Khát vọng vươn mình với các điểm mốc đến năm 2030 -100 năm thành lập Đảng, Việt Nam có mức thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 - 100 năm thành lập nước, Việt Nam có mức thu nhập cao, công bằng và hạnh phúc.

Thời gian không dài, Nhà nước cần thu hút nhiều trí thức trong nước và đang ở nước ngoài đóng góp vào sự phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng.

Với lớp trẻ mới sinh ra trong năm nay, 20 năm nữa sẽ là nguồn nhân lực chủ chốt của đất nước mà giáo dục là nền móng cho sự phát triển ngành Giáo dục, cần tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm phát triển trí tuệ và tri thức; hệ thống giáo dục phải được đổi mới sâu rộng, tập trung phát triển các kỹ năng sáng tạo, khoa học công nghệ, kỹ thuật, ngoại ngữ, kỹ năng số và công nghệ hiện đại. Giáo dục trí tuệ cần đi đôi với giáo dục văn hóa, đạo đức và thẩm mỹ, hình thành những cá nhân toàn diện, những công dân toàn cầu trong khi vẫn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Thanh niên không chỉ tiếp thu tinh hoa thế giới mà còn lan tỏa những giá trị văn hóa sâu sắc của Việt Nam ra quốc tế. Giáo dục và toàn xã hội cần phát hiện sớm các tài năng trí tuệ để ươm mầm nhân tài cho tương lai đất nước.

Cần có một chiến lược mục tiêu kinh tế - xã hội đúng đắn, sáng suốt với một chiến lược nhân tài cấp bách có hiệu quả; giải phóng được tiềm năng trí tuệ vô tận của nhân dân để có một đội ngũ nhân tài tạo nên động lực thực sự mạnh mẽ đưa đất nước tiến lên theo kịp thời đại.

Con người tài năng là động lực thúc đẩy mọi phát triển của xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp, khi chất xám trực tiếp góp phần vào việc tăng năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công tác.

Có một đội ngũ tài năng được giải phóng trí tuệ trong sáng tạo, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, đó là một trong những điều kiện tiên quyết để chúng ta tự vươn lên, vượt qua thử thách của lịch sử, xây dựng một đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn mười ngày nay.

Đó là điều kiện để đất nước bước vào kỷ nguyên vươn minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự tham gia của toàn xã hội, trong đó có trách nhiệm to lớn của ngành Giáo dục. Ngành Giáo dục phải xây dựng chiến lược phát triển giáo dục cho thời kỳ “vươn mình”, thay vì chỉ nhấn mạnh vào phát triển nhanh như trước đây bằng phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập bằng xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Giáo dục nước nhà cần hướng đến sự phát triển đột phá và nâng cao chất lượng, có cơ chế hỗ trợ xây dựng một số trường đại học lớn và đại học sư phạm trở thành những trung tâm đào tạo có uy tín trong khu vực và thế giới.

3. Kết luận

80 năm phát triển của nền giáo dục cách mạng Việt Nam là một hành trình lịch sử đầy nỗ lực, sáng tạo và cống hiến, gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu to lớn về phổ cập, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.

Tuy nhiên, để nền giáo dục Việt Nam có thể vươn tầm trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức gay gắt, cần phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về tư duy, thể chế, nội dung, phương pháp và quản lý giáo dục. Đặc biệt, cần phát triển giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, suốt đời và công bằng, gắn với đổi mới, sáng tạo và phát triển bền vững.

Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nền giáo dục cách mạng Việt Nam cần giữ vững sứ mệnh khai sáng, phát huy vai trò động lực và tiên phong, từ đó góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

-------------------

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.

2. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4-15, NXB Chính trị quốc gia.

3. Ban Tuyên giáo Trung ương (2020), 80 năm ngành Giáo dục Việt Nam - Thành tựu và bài học kinh nghiệm, Tài liệu lưu hành nội bộ.

4. Trần Bá Việt Dũng (Chủ biên) (2022, Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. UNESCO (2022), Reimagining our futures together: A new social contract for education, Paris: UNESCO Publishing.

6. Nguyễn Minh Thuyết (2023), Giáo dục Việt Nam: Cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên số, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 145.