TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀ VAI TRÒ TRONG NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM

TS. NGND Đặng Huỳnh Mai - Nguyên Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Đặt vấn đề Cách mạng tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, đập tan ách thống trị, áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến, trở thành một nước độc lập, tự do. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình.
20:57 | 18/08/2025

TS. NGND Đặng Huỳnh Mai -

Nguyên Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo

Đặt vấn đề

Cách mạng tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, đập tan ách thống trị, áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến, trở thành một nước độc lập, tự do. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình. Đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Nhân kỷ niệm 80 năm thành lập nước, Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã ghi nhận: Thành công của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của truyền thống yêu nước nồng nàn, bản lĩnh, trí tuệ và ý chí quật cường của dân tộc ta được kế thừa, phát huy lên tầm cao mới trong cuộc đấu tranh do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo; là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt, tầm nhìn chiến lược, sự nhạy bén và chớp thời cơ ngàn năm có một, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. 80 năm qua, thực hiện lời thề thiêng liêng tại Lễ Tuyên ngôn Độc lập, nhân dân ta đã đổ biết bao công sức, trí tuệ, hy sinh biết bao xương máu để giữ vững thành quả và thực hiện các mục tiêu “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" [3].

Mục tiêu “ai cũng được học hành” đã được Hồ Chí Minh đặt ra thành một nhiệm vụ như quốc sách hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Theo Người, giáo dục vừa là mục đích, vừa là động lực của cách mạng. Trong khi tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc phải đồng thời tiến hành giáo dục giải phóng con người khỏi “giặc dốt”. Bởi vì, giáo dục là con đường tạo nguồn nhân lực cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Mặt khác, mục tiêu “ai cũng được học hành” được Hồ Chí Minh xếp sau các mục tiêu khác còn có ý rằng, giải phóng dân tộc rồi, giành được độc lập, tự do rồi vẫn phải tiếp tục phát triển giáo dục để giải phóng hoàn toàn con người. Theo Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn con người mới là mục tiêu cuối cùng của cách mạng.

Như vậy, có thể nói, thành tựu của 80 cách mạng Việt Nam cũng chính là thành tựu của 80 năm giáo dục giải phóng hoàn toàn con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

Khi nghiên cứu di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người làm công tác giáo dục đều nhận thấy vấn đề Bác Hồ đặc biệt quan tâm là đào tạo con người Việt Nam thông qua hoạt động giáo dục và gắn chặt với mục tiêu xây dựng đất nước. Từ những năm 1960, trong thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hoá, Bác nhắc nhở: "Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống nhân dân" [7].

Cùng với việc thiết lập nền dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc giải quyết nạn dốt là một trong những nhiệm vụ vừa cơ bản vừa cấp bách. Theo Người “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “dốt thì dại, dại thì hèn”. Vì vậy, Người kêu gọi: Phải làm cho nhân dân biết đọc, biết viết, xóa nạn mù chữ, từng bước nâng cao dân trí. Bác cho rằng kháng chiến, kiến quốc, đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và phải đem tài sức của dân để làm lợi cho dân. Muốn làm được điều đó, cần phải có giáo dục và giáo dục cho nhân dân, làm cho mọi người hiểu biết nhiệm vụ và quyền lợi của mình được hưởng, có trình độ học vấn, nắm bắt được tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới và từng bước làm chủ trình độ khoa học - kỹ thuật của Việt Nam.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính giáo dục sẽ tạo ra tính liên tục của cách mạng. Với việc nâng cao dân trí, nhân dân sẽ biết quyền lợi, bổn phận, có kiến thức mới để tham gia vào công việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác cho rằng, thiện, ác không phải là tính sẵn của con người mà chính vai trò của giáo dục mới góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho họ, “Học để sửa chữa tư tưởng”; “Học để tu công đạo đức cách mạng”; “Học để tin tưởng”... Bác luôn nhắc nhở nội dung dạy học cần phải bao gồm cả văn hóa, chuyên môn nghề nghiệp, các ngành nghề liên quan trực tiếp tới công nghiệp, nông nghiệp, nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; các lĩnh vực an ninh, quốc phòng liên quan tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nhận thức đúng đắn các nội dung giáo dục có mối quan hệ mật thiết, khăng khít với nhau. Nếu không có trình độ học vấn thì không học tập được kỹ thuật, tức cũng không theo kịp được thời đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ đang phát triển mạnh mẽ và như vậy ngày càng tụt hậu xa hơn so với các nước, đồng thời phải đặc biệt chú trọng học tập chính trị, đạo đức. Bởi vì nếu chỉ học văn hóa, kỹ thuật, chuyên môn mà không có chính trị, đạo đức thì như người nhắm mắt mà đi. Giáo dục chính trị, đạo đức là nền tảng nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn. Chính trị nói ở đây là chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối quan điểm của Đảng. Học chính trị không phải cốt để thuộc sách Mác - Lênin làu làu, không phải học một cách giáo điều, mà là “học cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình”; học lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Bác Hồ luôn nhắc nhở nội dung giáo dục phải gắn với thực tiễn Việt Nam, học đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế, học tập phải kết hợp với lao động sản xuất. Giáo dục phải kết hợp cả ba khâu: Gia đình, nhà trường và xã hội. Xem nhẹ bất kỳ khâu nào cũng đều hạn chế đến kết quả của giáo dục, hơn nữa có thể đưa lại những hậu quả khó lường. Người rất quan tâm tới việc học bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp, đặc biệt là học nhân dân. Bởi vì “không học nhân dân thì không lãnh đạo được dân” và có “biết làm học trò dân thì mới làm được thầy học của dân”. Tự học, tự đào tạo là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phương pháp quan trọng mà tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục luôn nhắc đến, đó là phải giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết gắn bó, giúp đỡ nhau trong học tập. Người cho rằng ta đang sống trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nếu tự mình dù có tài giỏi đến mấy cũng không thể am hiểu được mọi lĩnh vực. Khẩu hiệu đoàn kết không chỉ có giá trị bền vững trong chính trị, mà còn có ý nghĩa to lớn trong giáo dục.

Một vấn đề lớn thuộc phương châm giáo dục là giáo dục phải phù hợp với lứa tuổi và điều kiện thực tế. Đây thực sự là một vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học. Bác nói: Giáo dục thiếu nhi mà gò ép vào khuôn khổ của người lớn, làm cho chúng hóa ra những “người già sớm” là phản khoa học. Giáo dục phải phù hợp với lứa tuổi cả về nội dung lẫn phương pháp. Bác đặc biệt nhấn mạnh: “Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành... Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực... Tiểu học thì cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công...”. [5].

Chủ tịch Hồ Chí đã giao trách nhiệm cho các nhà giáo dục, cán bộ quản lý, các nhà giáo về yêu cầu sản phẩm của quá trình giáo dục và đào tạo với các tiêu chí cụ thể về con người Việt Nam mới là:

- Có ý thức và tinh thần làm chủ tập thể, có tư tưởng "Mình vì mọi người và mọi người vì mình", có tinh thần dám nghĩ dám làm và vươn lên hàng đầu.

- Có đạo đức và lối sống trung với nước, hiếu với dân, yêu thương con người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, có tinh thần quốc tế trong sáng, có lối sống lành mạnh và trong sạch.

- Là con người lao động có kế hoạch, có biện pháp, có quyết tâm; lao động có tổ chức, có kỷ luật; có năng suất chất lượng và hiệu quả, lao động quên mình không sợ khó, sợ khổ; vì lợi ích của xã hội, của tập thể và của bản thân mình.

- Có năng lực để làm chủ bản thân, gia đình và công việc mà mình đảm nhận để với tư cách là công dân tham gia làm chủ nhà nước và xã hội; phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ.

2. Vai trò của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với giáo dục Việt Nam trong 80 năm qua

2.1. Giai đoạn 1945 - 1954. Đây là thời kỳ sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta đã trở thành một nước độc lập. Chính quyền cách mạng non trẻ ra đời trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”, vừa “thù trong, giặc ngoài” vừa nạn đói hoành hành, ngân khố cạn kiệt. Với cương vị là người đứng đầu Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào thi đua chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Lời kêu gọi của Bác về nhiệm vụ chống giặc dốt đã được nhanh chóng triển khai sâu rộng trong nhân dân, đánh thức lòng tự tôn dân tộc. Từ đó, phong trào Bình dân học vụ đã phát triển trên khắp mọi miền đất nước.

Ngày 11/6/1948, Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Thực hiện lời kêu gọi của Bác, ngành Giáo dục đã phát động phong trào "Thi đua dạy tốt và học tốt" và tư tưởng này của Bác Hồ đã trải dài suốt 80 năm, một chặng đường lịch sử của ngành Giáo dục Việt Nam.

Đối với Mầm non: Năm 1952, Bộ Giáo dục đã đào tạo được 220 giáo viên, bồi dưỡng nghiệp vụ được 2 khóa ở khu IV và khu Việt Bắc với 120 người tham dự. Năm 1953 để thực hiện chủ trương phát triển các lớp vỡ lòng, từng bước chuẩn bị cho phổ cập giáo dục Tiểu học, Bộ đã tổ chức được 4 khóa đào tạo giáo viên Mẫu giáo - Vỡ lòng với trên 200 học viên.

Đối với Tiểu học: sau Cách mạng Tháng Tám đến 1954, với nhiều phương thức đào tạo khác nhau, đội ngũ giáo viên Tiểu học đã phát triển nhanh: năm 1945 có 3.500 giáo viên; năm 1950 có 10.500 giáo viên và năm 1954 tổng số giáo viên trên cả nước có trên 12.000 giáo viên.

Đối với Trung học cơ sở (cấp 2): Theo tinh thần Nghị định số 508/ND ngày 9/10/1950 của Bộ Quốc gia Giáo dục về việc thành lập các trường sư phạm trung cấp, ba trường đầu tiên được hình thành tại Phú Thọ, Liên khu III và Liên khu IV. Trường Liên khu III do Ông Đỗ Trọng Cảnh làm Hiệu trưởng, Liên khu IV do ông Trần Đình Giám làm hiệu trưởng. Các trường này đào tạo giáo viên cấp 2 theo hệ 7+2 và bắt đầu phân thành 2 ban: Ban tự nhiên và Ban xã hội. Trong thời gian này mỗi Ban đào tạo khoảng 300 giáo viên trong một năm học.

Trường Đại học Quốc gia Việt Nam đầu tiên được thành lập do Giáo sư Nguyễn Văn Huyên làm Giám đốc. Lễ khai giảng có sự tham dự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1951 Khu học xá Trung ương được thành lập, ông Võ Thuần Nho được bổ nhiệm làm Giám đốc. Năm 1953 thành lập trường Dự bị Đại học và sư phạm cao cấp do giáo sư Đặng Thai Mai làm Giám đốc, tuyển sinh học viên tốt nghiệp dự bị, học 1 năm, khoa Khoa học tự nhiên đã tách thành 3 ban: Toán -Lý; Lý - Hoá và Hóa - Sinh.

Giáo dục kháng chiến ở miền Nam: Thời kỳ này hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, giáo dục vùng kháng chiến nỗ lực phát triển các lớp học riêng lẻ để đào tạo cán bộ cho cách mạng. Lực lượng chính là từ người yêu nước, người cách mạng có trình độ văn hoá đủ để đảm nhận nhiệm vụ dạy học và giáo dục chính trị tư tưởng cho thế hệ thanh niên yêu nước.

2.2. Giai đoạn 1954 - 1975. Đây là thời kỳ cách mạng nước ta tập trung thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược là khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa, xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Từ nền tảng tư tưởng "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"của Bác Hồ, giai đoạn này Bộ tập trung đầu tư cho việc đào tạo giáo viên các cấp.

- Nhu cầu về Nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo đòi hỏi phải có thêm nhiều giáo viên để phục vụ chăm sóc giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non. Năm 1964 miền Bắc có 32.000 cô nuôi dạy trẻ, hầu hết mới chỉ được huấn luyện nghiệp vụ không quá 7 ngày. Đến năm 1975, trên miền Bắc có hàng chục nghìn cô nuôi dạy trẻ có trình độ sơ cấp, 14 tỉnh thành có trường sơ học đào tạo cô nuôi dạy trẻ với quy mô khoảng 100 học sinh/trường. Đội ngũ cô nuôi dạy trẻ có khoảng 80.000 người phục vụ gần 33.000 nhà-nhóm trẻ với trên 600.000 cháu.

- Tất cả các tỉnh thành trên miền Bắc đều có mở các lớp đào tạo giáo viên. Số lượng, trường lớp giáo viên mẫu giáo tăng nhanh và khá đồng đều cả ở thành thị và nông thôn mặc dù chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc rất ác liệt. Năm 1964 do yêu cầu phát triển, Bộ đã cho mở nhiều lớp huấn luyện chuyên trách công tác đào tạo giáo viên mẫu giáo với hình thức chuyên tu ngắn ngày, bà Hoàng Thị Ái Quỳ được phân công phụ trách công tác đào tạo giáo viên mẫu giáo. Năm 1964, Bộ đã ra quyết định thành lập Trường sư phạm mẫu giáo Trung ương do bà Vũ Phạm Thị Thăng làm hiệu trưởng, sau này trở thành Trường Cao đẳng Sư phạm mẫu giáo Trung ương số 1, đào tạo hệ Sư phạm 7+1, sau đó là 7+2 và 7+3. Qui mô đào tạo trên 500 học viên. Từ 1972 trở đi, trường bắt đầu đào tạo theo hệ sư phạm trung cấp 10+1, rồi hệ 10+2 và mỗi năm cung cấp khoảng 2.500 giáo viên mẫu giáo cho trên nửa nước phía Bắc.

- Chủ trương đào tạo giáo viên Tiểu học của Ngành Giáo dục sau khi hoà bình lập lại là chuyển các trường sư phạm sơ cấp thuộc các Liên khu về trực thuộc các tỉnh, thành. Từ 1965 thực hiện theo tinh thần chỉ thị 169/CT/TƯ ngày 14/2/1969 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị số 88/CT/TTg ngày 5/8/1965 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục chỉ đạo hệ sư phạm Tiểu học thu hẹp dần các hệ đào tạo cấp tốc, tập trung vào các hệ 7+1, 7+2 và 7+3; từng bước chiêu sinh hệ 10+1 và 10+2 chuẩn bị hỗ trợ cho Tổng tiến công Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

- Từ năm 1959 - 1975 đã thành lập 16 trường sư phạm trung cấp liên tỉnh và ở một số tỉnh lớn, Bộ giao cho các tỉnh quản lý các trường sư phạm cấp 2 hệ 7+2, 7+3. Năm 1968 trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 ra đời và mở khoa Sư phạm kỹ thuật công nghiệp. Năm 1959 Bộ cho mở phân hiệu Đại học Sư phạm ở Vinh, năm 1962 thành trường Đại học Sư phạm Vinh do Giáo sư Nguyễn Thúc Hào làm Hiệu trưởng. Năm 1960, mở trường Chính trị đào tạo giáo viên cấp 3 môn Chính trị. Trường do Giáo sư Nguyễn Trọng Tường làm Hiệu trưởng, đến 1965 trường được Nhà nước xếp vào hệ thống các trường đại học sư phạm.

Giai đoạn 1954 -1975, các trường sư phạm ở miền Bắc thực hiện Chỉ thị số 88/CT ngày 5/8/1965 và Chỉ thị số 222/CT ngày 7/8/1972 của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động theo tinh thần sơ tán, vừa sản xuất phục vụ đời sống vừa tham gia chiến đấu bảo vệ nhân dân, chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ năm học 1969 - 1970, các trường đại học sư phạm bắt đầu chuyển dần một vài lớp từ hệ 3 năm lên 4 năm và hệ đại học sư phạm kỹ thuật nông nghiệp thử nghiệm chương trình đào tạo 5 năm.

- Đối với vùng giải phóng các tỉnh phía Nam: Sau “Đồng khởi” năm 1960, chủ trương của Đảng ta là từng bước đưa số học sinh miền Nam trên đất Bắc tốt nghiệp sư phạm và sinh viên tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội vượt Trường Sơn vào Nam.Tháng 10/1962, Tiểu ban Giáo dục của Trung ương Cục miền Nam được thành lập và hình thành một trường sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học phục vụ việc mở trường tại các vùng giải phóng ở miền Nam. Nội dung huấn luyện, đào tạo giáo viên ở đây là: Ngoài phương pháp giảng dạy, học viên phải biết cách tổ chức lớp học, phương pháp vận động quần chúng và làm quản lý lớp (hoặc trường) Tiểu học kháng chiến. Khoá đầu tiên khai giảng tháng 6/1963 tại Tân Biên với 107 học viên, thời gian học tập 11 tháng. Các trường sư phạm cấp Khu lần lượt hình thành như: Trường Sư phạm miền núi của Liên khu V đào tạo giáo viên cấp 1 cho các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; Trường Sư phạm T2 đào tạo giáo viên khu vực miền Đông Nam bộ; Trường Sư phạm T3 đào tạo giáo viên khu vực miền Tây Nam bộ.

Sau Mậu Thân 1968, các tỉnh được chỉ đạo thành lập khung sư phạm để tự đào tạo giáo viên cấp 1 như: Trường Sư phạm cấp 1 Quảng - Đà; Phú Yên mở trường sư phạm miền núi năm 1967 và trường sư phạm cấp 1 năm 1971. Vùng Đông Nam Bộ có Trường Sư phạm Tây Ninh (Bù Đốp). Bến Tre, Tiền Giang, Kiến Phong nay là Đồng Tháp. Khu vực Tây Nam Bộ có Trường Sư phạm Vĩnh Long; Trường Sư phạm Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu (đặt tại huyện Hồng Dân). Đến 30/4/1975 mỗi tỉnh có khoảng 10 khoá đào tạo giáo viên cấp 1.

Nói chung, giai đoạn 1954 - 1975, việc đào tạo giáo viên cấp 1 ở miền Nam tiến hành theo nhiều phương thức rất đa dạng, có nội dung, tổ chức, thời gian đào tạo, trình độ tuyển sinh khác nhau và chủ yếu là đào tạo cấp tốc trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh chống Mỹ đang diễn ra rất gian khổ và ác liệt, đã góp phần đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục cách mạng ở miền Nam và qua đó góp phần vào việc hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Các giáo viên được đào tạo, rèn giũa trong thời gian này đều đã trưởng thành, có những đóng góp tích cực cho ngành giáo dục ở địa phương, trong đó một số đã hoặc đang là những cán bộ lãnh đạo và cốt cán chủ chốt trong và ngoài ngành giáo dục.

2.3. Giai đoạn 1975 - 1985. Từ sau giải phóng miền Nam (1975) đến trước thời kỳ Đổi mới (1986) là một giai đoạn đầy thách thức đối với giáo dục của đất nước. Do vừa trải qua chiến tranh, chịu nhiều tổn thất và bước vào thời kỳ xây dựng CNXH với nền kinh tế tập trung, bao cấp. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống giáo dục. Cụ thể:

- Thống nhất hệ thống giáo dục giữa 2 miền Nam - Bắc với nhiệm vụ cấp bách là thống nhất hai hệ thống giáo dục hệ 10 năm và hệ 12 năm; được tiến hành từ năm học 1981 - 1982 với việc thay sách giáo khoa và chương trình học theo kiểu "cuốn chiếu" (mỗi năm một lớp). Đến năm học 1993 - 1994, hệ thống giáo dục phổ thông mới thực sự được thống nhất hoàn toàn.

- Nhiệm vụ của giáo dục trong giai đoạn này là phục vụ xây dựng CNXH và kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Giáo dục được định hướng là đào tạo con người mới XHCN, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo mô hình tập trung, bao cấp. Đặc biệt, giáo dục cần tham gia chống tàn dư văn hóa cũ, hướng tới tạo ra sự thống nhất về hệ tư tưởng trong cả nước.

- Toàn bộ hệ thống giáo dục, từ cấp mầm non đến đại học, đều do Nhà nước quản lý và đảm nhiệm. Các trường tư thục, do các tôn giáo hoặc tư nhân mở trước đây đều đóng cửa.

- Năm học 1981 - 1982 thực hiện cải cách giáo dục, thống nhất một hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm. Tinh thần chỉ đạo của Bộ là mỗi tỉnh, thành phấn đấu xây dựng một trường Sư phạm Tiểu học đào tạo giáo viên cấp 1. Thời điểm này cả nước đã có 45 trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp 1. Giai đoạn 1975 - 1985, công tác tuyển sinh vào trường sư phạm cấp 1 do Ban tuyển sinh tỉnh xét duyệt sau khi có kết quả thi đầu vào. Học viên ra trường được phân công công tác 100%.

Cùng với hệ thống Sư phạm miền Bắc, năm học 1976-1977, toàn miền Nam đã có 18 trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp 2, trong đó có 6 trường Cao đẳng sư phạm (CĐSP) ở các thành phố lớn, các trường còn lại tại địa phương đều là Trung học Sư phạm.

Tháng 1/1976 Trường Cao đẳng Sư phạm Thể dục Trung ương số 2 đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh ra đời, đào tạo giáo viên thể dục thể thao theo hệ 12+2, năm học 1980 - 1981 đào tạo hệ 12+3. Cùng với hệ thống Cao đẳng Sư phạm Thể dục Trung ương số 1, số 2, Bộ tập trung chỉ đạo hình thành các trường Cao đẳng Sư phạm Họa - Nhạc Trung ương ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai.

Căn cứ Quyết định số 07/QĐ ngày 24/9/1981 của Ủy ban cải cách giáo dục Trung ương về “Cải cách công tác đào tạo bồi dưỡng và sử dụng giáo viên": Quan điểm đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng của giai đoạn này là: Gắn đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng giáo viên cần phải được thể hiện ở nội dung chương trình giảng dạy. Tính đến cuối năm học 1985 - 1986 cả nước có 44 trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp 2, trong đó: 5 trường CĐSP trực thuộc Bộ, 24 trường CĐSP và 15 trường sư phạm cấp 2 ở các địa phương. Thời điểm này, Đội ngũ giáo viên sư phạm có 4.540 người, trong đó trình độ đại học chiếm trên 90%, trình độ Cao học chỉ có khoảng 2%. Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến năm 1985 - 1986 cả nước có 8 trường đại học và 2 khoa đào tạo giáo viên cấp 3 cho cả nước. Số cán bộ giảng dạy là khoảng 3.300 người. Trong đó 45% có trình độ cao học và 10% trên đại học.

2.4. Giai đoạn 40 năm Đổi mới (1986 - 2025). Qua 40 năm đổi mới của đất nước, Đảng ta đánh giá đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Từ nhận định này cho thấy, giáo dục đào tạo của nước ta tuy đạt nhiều thành tựu, nhưng cũng tiềm ẩn khá nhiều khó khăn, phức tạp trong tiến trình đổi mới giáo dục nói chung và trong hệ thống sư phạm nói riêng.

2.4.1. Giai đoạn 1986 - 2000. Đây là một thời kỳ có ý nghĩa quan trọng đối với giáo dục và đào tạo Việt Nam, gắn liền với công cuộc Đổi mới của đất nước. Thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN. Điều này đòi hỏi giáo dục phải có những thay đổi để đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực mới, phục vụ CNH, HĐH đất nước. Những thành tựu nổi bật trong giai đoạn này gồm:

- Hoàn thiện thể chế, chính sách: Quốc hội đã ban hành Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học (1991) và Luật Giáo dục (1998), tạo hành lang pháp lý quan trọng cho sự phát triển của giáo dục.

- Hoàn thành Phổ cập giáo dục Tiểu học vào năm 2000, một mục tiêu giáo dục quan trọng. Phổ cập giáo dục từ tiểu học đến trung học cơ sở đã được triển khai liên tục, góp phần nâng cao dân trí.

Quảng cáo

- Quy mô các cấp học, đặc biệt là giáo dục phổ thông, đã được mở rộng đáng kể. Số lượng học sinh, sinh viên tăng lên ở hầu hết các bậc học.

- Bản thân ngành giáo dục đã có những đổi mới trong tư duy cho phù hợp với sự đổi mới của đất nước chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Điều này thể hiện qua việc đa dạng hóa các loại hình trường lớp, khuyến khích các loại hình đào tạo ngoài công lập, tư thục trong điều kiện xã hội hóa giáo dục.

- Chất lượng giáo dục đã có sự chuyển biến tích cực, học sinh Việt Nam bắt đầu ghi dấu ấn trên các cuộc thi quốc tế, đặc biệt là các kỳ thi Olympic.

- Tuy nhiên, chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các vùng miền, khu vực nhất là giữa thành thị và nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy học còn nhiều thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chưa đồng đều về trình độ và năng lực để đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc CNH, HĐH.

Đây cũng là giai đoạn Bộ chỉ đạo củng cố ổn định và phát triển hệ thống sư phạm (máy cái) trên phạm vi cả nước, tập trung giải quyết vấn đề lấy “đội ngũ nhà giáo để chấn hưng ngành giáo dục”, như tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đàng và theo Tư tưởng Hồ Chí Minh là: "Giáo viên phải là người yêu nghề, có đạo đức cách mạng, có chí khí cao thượng, yêu thương học trò như con em ruột thịt của mình". Cụ thể:

- Ở các tỉnh sáp nhập 4 trường: Trường Cô nuôi dạy trẻ, Sư phạm mẫu giáo, Trung học Sư phạm và CĐSP thành Trường CĐSP đào tạo Giáo viên mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở.

- Các trường sư phạm trọng điểm như: Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Huế tăng cường hỗ trợ trường sư phạm các tỉnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng để giáo viên đạt trình độ chuẩn, nhất là đối với bậc Tiểu học và THCS.

- Xây dựng chuẩn nhà giáo và tập trung chỉ đạo đạt chuẩn tối thiểu đối với các loại hình giáo viên như: Mầm non phần lớn là 12+2, một bộ phận đạt trình độ đại học; Tiểu học chủ yếu là 12+2, CĐSP và bộ phận nòng cốt phấn đấu đạt trình độ đại học; THCS thì phần lớn là CĐSP và một phần đại học sư phạm (ĐHSP); THPT là 100% tốt nghiệp ĐHSP, một số giáo viên nòng cốt có trình độ Thạc sĩ.

- Hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đào tạo Thạc sĩ quản lý giáo dục, mở thêm khoa Giáo dục đặc biệt để đào tạo giáo viên dạy trẻ khuyết tật hòa nhập.

2.4.2. Giai đoạn 2000 - 2025. Đây là một giai đoạn đất nước chứng kiến nhiều thành tựu quan trọng và những bước tiến đáng kể của giáo dục Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế.

a) Công tác phổ cập giáo dục, gồm:

- Phổ cập giáo dục THCS và giáo dục trung học trên phạm vi toàn quốc;

- Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi: Giai đoạn 2010 - 2020, số trường mầm non tăng hơn 2.600 trường, mỗi xã, phường đều có ít nhất 1 trường mầm non công lập. Tỷ lệ trẻ 5 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục mầm non đạt 99,9%.

- Tỷ lệ biết chữ: Tỷ lệ biết chữ độ tuổi 15-60 đạt 97,73%.

b) Đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và đánh giá

- Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018: Đây là một bước tiến mạnh mẽ trong đổi mới dạy học ở bậc phổ thông, hướng tới phát triển năng lực và phẩm chất của người học.

- Đổi mới thi cử: Các kỳ thi chuyển dần từ nặng về kiến thức sang đánh giá năng lực, đặc biệt là kỳ thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025 sẽ có nhiều thay đổi đáng kể (thi 4 môn: 2 môn bắt buộc và 2 môn tự chọn). Các kỳ thi tốt nghiệp tiểu học, THCS đã được bãi bỏ.

- Đổi mới phương pháp giảng dạy: Khuyến khích phương pháp dạy học tích cực, gắn học với hành, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Đẩy mạnh phương thức giáo dục tích hợp Khoa học, Kỹ thuật, Công nghệ, Toán học (STEM) và nghiên cứu khoa học.

c) Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

- Nâng cao trình độ đội ngũ: Từng bước chuẩn hóa và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.

- Hoàn thiện chính sách: Ban hành các chính sách liên quan đến chế độ làm việc, hỗ trợ học phí đối với sinh viên sư phạm để thu hút người giỏi vào ngành.

d) Xã hội hóa giáo dục và tăng cường đầu tư

- Công tác xã hội hóa giáo dục đạt kết quả bước đầu, tỷ trọng nguồn kinh phí xã hội đóng góp vào giáo dục ngày càng tăng.

- Phát triển hệ thống các trường dân lập, tư thục, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân và đa dạng hóa các hình thức đào tạo.

đ) Hội nhập quốc tế và ứng dụng công nghệ

- Đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, trao đổi học sinh, sinh viên và giảng viên.

- Tăng cường chuyển đổi số và thực hiện các dịch vụ công trực tuyến trong giáo dục và đào tạo. Ứng dụng CNTT vào quản lý và giảng dạy.

e) Phát triển giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và phát triển kinh tế - xã hội.

- Mở rộng quy mô đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo, hướng tới đạt trình độ tiên tiến của khu vực châu Á vào năm 2030 và thế giới vào năm 2045.

3. Kết luận

Trải qua 80 năm kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến nay, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một là, một trong những thành tựu vĩ đại nhất là việc xóa bỏ nạn mù chữ. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, với 95% dân số mù chữ, phong trào "Bình dân học vụ" đã được phát động rộng rãi, nhanh chóng giúp hàng triệu người biết đọc, biết viết. Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng một xã hội học tập.

Hai là, nước ra đã thực hiện thành công chương trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS. Điều này đã nâng cao trình độ dân trí, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước. Hệ thống trường lớp phát triển nhanh chóng, phủ khắp từ thành thị đến nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đảm bảo quyền được học tập cho mọi người dân.

Ba là, chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được nâng cao. Việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã được thực hiện từ năm 2013. Các chính sách luôn tập trung vào đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, đánh giá, hướng tới phát triển năng lực và phẩm chất người học. Ngày càng chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và hội nhập quốc tế. Nhiều cơ sở giáo dục đã chủ động trong việc đổi mới, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.

Bốn là, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng. Trình độ của giáo viên ngày càng được nâng cao. Nhiều chương trình bồi dưỡng, nâng cao năng lực được triển khai. Sự tận tụy, tâm huyết của đội ngũ giáo viên là yếu tố then chốt cho những thành tựu của ngành Giáo dục.

Năm là, giáo dục Việt Nam luôn quan tâm đến việc đảm bảo công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với các đối tượng yếu thế như người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn, người khuyết tật và các đối tượng chính sách. Nhiều chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đã được triển khai, giúp họ có cơ hội học tập.

Sáu là, giáo dục nước ta đã chủ động hội nhập quốc tế, thu hút các chương trình đào tạo tiên tiến, trao đổi sinh viên, giảng viên. Vị thế của giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế từng bước được cải thiện, được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao.

Tóm lại, 80 năm qua, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng. Song, hiện nay cũng còn phải đối mặt với không ít thách thức như: Sự mất cân đối về chất lượng giữa các vùng miền; vấn đề phân luồng học sinh sau THCS; chất lượng đào tạo đại học chưa đồng đều; tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" ở một số ngành nghề.

Với định hướng đổi mới căn bản, toàn diện và sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, cùng Tư tưởng Hồ Chí Minh là “Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau”, giáo dục Việt Nam sẽ phải tiếp tục nỗ lực để vượt qua mọi thách thức, hướng tới mục tiêu xây dựng một nền giáo dục chất lượng cao, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Hiện nay, Nhà nước miễn học phí cho học sinh thì yêu cầu về nguồn nhân lực cũng như chất lượng dạy học và giáo dục thế hệ trẻ phải được đáp ứng yêu cầu cao trên nền tảng của Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia./.

Tài liệu tham khảo

[1]. Hồ Chí Minh (1945), “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2002, tr.32

[2]. Hồ Chí Minh (1945), “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011, tr.7

[3]. Hồ Chí Minh (1946), “Trả lời các nhà báo nước ngoài”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011, tr.187-188.

[4]. Hồ Chí Minh (1951), “Thực hành sinh ra hiểu biết; Hiểu biết tiến lên lý luận; Lý luận lãnh đạo thực hành”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011, tr.120-130

[5]. Hồ Chí Minh (1955), “Thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ, thanh niên và nhi đồng”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011, tr. 185-186

[6]. Hồ Chí Minh (1957), “Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục (6-1957)”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.591-595.

[7]. Hồ Chí Minh (1960), “Thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ, thanh niên và nhi đồng”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011, tr. 647-648

[ 8]. Hồ Chí Minh (1968), “Thư gửi các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên bắt đầu năm học mới”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 15, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011, tr.506-508