Thiếu tướng, PGS. TS. NGND Nguyễn Bá Dương -
Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Phụ trách Nhóm Chuyên gia 35 Quân ủy Trung ương;
nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự
Tóm tắt: Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 (gọi tắt là Tuyên ngôn Độc lập 2-9) của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm chứa tư tưởng triết học nhân văn sâu sắc, xứng tầm là một áng văn lịch sử mang tầm tuyên ngôn của một quốc gia độc lập tựa như “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt và “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi nhưng khác hai bản tuyên ngôn của các bậc tiền bối ở chỗ: Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang nội dung tư tưởng triết học nhân văn mới, phản ánh sâu sắc thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận duy vật biện chứng mác xít; mang tầm vóc, giá trị, ý nghĩa thời đại Hồ Chí Minh và xu thế vận động, phát triển của cách mạng thế giới hiện đại.
Từ khóa: Tuyên ngôn Độc lập, Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, ý nghĩa lịch sử và thời đại, Cách mạng Việt Nam.
Nhận bài: 25/8/2025; Biên tập: 31/8/2025; Duyệt đăng: 2/9/2025
1. Đặt vấn đề
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 thể hiện sâu sắc ở tầm nhìn, phương pháp tiếp cận, sự kế thừa, phát triển hệ thống luận điểm và vận dụng sáng tạo tư tưởng triết học Mác - Lênin nói chung và tư tưởng triết học của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói riêng, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 sâu sắc về lý luận, thấm đẫm tính thực tiễn, là phương châm chỉ đạo nhận thức và hành động cách mạng.
Nội dung và hình thức thể hiện tư tưởng triết học Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 xuất phát từ lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận duy vật biện chứng khoa học, kết hợp nhuần nhuyễn, tinh tế tinh hoa tư tưởng triết học phương Đông và tinh hoa tư tưởng triết học phương Tây, toát lên hồn cốt, bản chất triết học chính trị - xã hội và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp Người xây dựng thành công hệ thống quan điểm triết học riêng, thâm thúy và sâu sắc, độc đáo và riêng có về quyền độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của đồng bào; phản ánh quy luật vận động, phát triển tất yếu khách quan của dòng chảy văn hóa dân tộc và tư tưởng cách mạng Việt Nam, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng triết học Mác - Lênin, phù hợp với tiến trình vận động, phát triển của cách mạng thế giới, xu thế vận động của thời đại.
Trên cái nền tảng vững chắc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày quan điểm triết học của mình thông qua việc bổ sung những thuộc tính mới, làm phong phú và sâu sắc hơn nội hàm các khái niệm, các quan niệm và nội dung, tính chất nhận thức mới về thời đại cách mạng vô sản, mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng vô sản thế giới với cách mạng giải phóng dân tộc, hướng tới thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến là Việt Nam.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tầm vóc, giá trị và ý nghĩa triết học của Tuyên ngôn Độc lập
Tầm vóc, giá trị và ý nghĩa triết học của Tuyên ngôn Độc lập 2-9 không chỉ là sự kết tinh và đọng lại những giá trị nhân văn nhờ cái lõi triết học thể hiện ở tầm tư tưởng đối với việc mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam, mà còn mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, phản ánh khát vọng giải phóng của dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới; biến “cái tự nó”, thành “cái cho ta”.
Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh dấu một mốc son chói lọi trong trang sử vàng của dân tộc Việt Nam và hành trình đấu tranh tự giải phóng mình, ghi dấu ấn nổi bật trong lịch sử dân tộc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX; kết tinh giá trị truyền thống yêu nước của ông cha ta qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, ý chí, nguyện vọng thực hiện mục tiêu độc lập, tự do, dân chủ và nhân quyền của Nhân dân ta.
Ý nghĩa triết học nhân sinh sâu sắc của Tuyên ngôn Độc lập 2-9 còn nằm ở sự khái quát lý luận, đúc kết kinh nghiệm, trở thành phương châm chỉ đạo hoạt động nhận thức và hành động thực tiễn cách mạng bởi nó được xây dựng bằng hệ quan điểm duy vật biện chứng, vừa thể hiện là một văn kiện chính trị - văn hóa vĩ đại của một dân tộc, vừa khẳng định sự kết tinh hệ giá trị văn hóa truyền thống yêu nước được tích hợp với tinh hoa văn hóa thời đại mà cốt lõi là chủ nghĩa Mác - Lênin với bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc, phản ánh khát vọng vươn tới cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của Nhân dân ta.
Tư tưởng triết học trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ý chí kiên cường, bất khuất, quyết tâm “sắt đá” về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp của 54 dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam; là sự tranh đấu can trường, dũng cảm; sự bền bỉ, dẻo dai, không chịu khuất phục trước mọi kẻ thù; là sự kiên quyết đánh đuổi quân xâm lược của hàng triệu người khi họ cùng chung ý chí, cùng vào cuộc, một lòng một dạ đem tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập thiêng liêng vừa mới giành được. Và chính nó, giải phóng tư tưởng đã ràng buộc của quá khứ bằng việc tuyên bố chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chính quyền thực dân, phong kiến với tệ nạn người áp bức, nô dịch người; mở ra một kỷ nguyên mới: xây dựng nền dân chủ cộng hòa, đem lại quyền sống làm người chân chính cho dân tộc Việt Nam.
2.2. Nội dung tư trưởng triết học Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập
Trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9, tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc ở mối quan hệ biện chứng giữa cái chung, cái riêng và cái đặc thù. Khi viết Tuyên ngôn Độc lập 2-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên lập trường mác xít chân chính để luận bàn, chắt lọc và trích dẫn tư tưởng triết học cơ bản của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp; lấy hai bản tuyên ngôn ấy làm nền, là điểm tựa cần thiết để khẳng định chân lý khách quan, mang tính phổ biến: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đây là luận điểm gốc, khái quát sâu sắc bản chất sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội, cốt lõi là quan hệ giữa con người với con người, trở thành nền tảng và là điểm xuất phát để Hồ Chí Minh khẳng định một cách thuyết phục về “lẽ phải thông thường”, cái tự nhiên vốn có và tự nó có giá trị nhân văn, nhân đạo, không ai có quyền chối cãi, xuyên tạc, bóp méo sự thật: đã là con người, bất kể là ai, thân phận nào, họ đều có quyền sống và được thụ hưởng mọi quyền lợi mà tạo hóa ban cho. Đó là lẽ phải thông thường, hiển nhiên và lẽ phải ấy đã được chứng minh bằng sự thật, từ sự hy sinh xương máu, công sức, trí tuệ của cả một dân tộc; được ghi đậm nét, rõ ràng, rành rọt và vô cùng súc tích, được trình bày cô đọng, khúc triết, tràn ngập triết lý nhân sinh với các luận điểm triết học rút ra từ bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, cũng như trong bản Tuyên ngôn Dân quyền, Nhân quyền của cách mạng Pháp năm 1791. Dựa vào triết lý nhân sinh ấy, Người đã vạch trần bộ mặt thật, vô cùng nham hiểm, gian ác và xảo trá của quân xâm lược; lên án gay gắt tội ác của thực dân Pháp và bè lũ tay sai, Người chỉ ra rằng, “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”[2, tr.1] nên “trời không dung, đất không tha, lòng người dân ai oán, hết sức căm phẫn chúng.
Tư tưởng triết học trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về bản chất, là tư tưởng triết học chính trị - xã hội, thấm nhuần đạo đức cách mạng, mang giá trị nhân sinh sâu sắc. Người đã kế thừa tinh hoa triết học phương Đông, phương Tây, truyền thống truyết học, văn hóa của dân tộc Việt Nam, đứng vững trên lập trường triết học mác xít để làm mới lý luận nhận thức duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quyền con người và quyền dân tộc đối với cuộc cách mạng ở Việt Nam, Người đã lấy nó, dẫn dụ nó và khẳng định các luận đề, luận điểm triết học một cách sinh động từ “tinh thần biện chứng pháp” của hai tác phẩm Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới của nước Mỹ và nước Pháp để đề cao tư tưởng triết học về "chủ quyền nhân dân", giá trị của độc lập, tự do và ý nghĩa cuộc cách mạng giải phóng ở Việt Nam.
Điều thú vị của hai bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền nêu trên là ở chỗ: Nó phản ánh sâu sắc, toàn diện và thống nhất về tầm nhìn, cách tiếp cận và hệ thống luận điểm về con người, quyền con người nói chung theo quan điểm của giai cấp tư sản tiến bộ, đang lên; xuất phát từ đó, Hồ Chí Minh rút ra được triết lý nhân sinh sâu sắc, đầy tính thuyết phục về quyền con người, quyền dân tộc, về nguyên tắc "chủ quyền nhân dân" ở một dân tộc thuộc địa mà chính thực dân Pháp đã cai trị; chỉ ra ý nghĩa của cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác mà chế độ thực dân và phong kiến gây ra. Hồ Chí Minh đã hướng con người đến những điều thiện, vươn tới các giá trị dân chủ, nhân sinh, nhân quyền và nhân văn cao cả, làm nổi bật tư tưởng triết học về tự do, bình đẳng, bác ái, những giá trị không phải là cái riêng có, chỉ tồn tại ở trung tâm văn hóa như người phương Tây luôn tự đề cao. Sự lên án, chế nhạo, châm biếm sâu cay đối với đội quân xâm lược nhà nghề là quân xâm lược Pháp cũng nằm ở ý này, bởi họ ngộ nhận, cho rằng tự do, bình đẳng, bác ái tốt đẹp là thế, nhân văn là thế nhưng người Pháp lại cố tình chà đạp lên các giá trị ấy, đem quân đội nhà nghề đi xâm lược Việt Nam, gây ra bao nhiêu đau thương, tang tóc và khổ đau cho người dân Việt Nam; làm cho các giá trị của tự do, bình đẳng, bác ái bị đảo lộn, lu mờ.
Giá trị và ý nghĩa triết học nhân văn trong bản Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ giới hạn ở tầm nhìn, cách tiếp cận, hệ quan điểm triết lý nhân sinh mà quan trọng hơn là cách ứng xử, giải quyết các vấn đề ấy như thế nào và bằng cách nào để đạt đến giá trị nhân văn sâu sắc; và chắc chắn, nó không thể tiến hành bằng phương thức dùng bạo lực đi xâm lược dân tộc khác, nhất là chủ thể - dân tộc ấy tự cho mình cái quyền đứng ở trung tâm văn hóa châu Âu, tự xưng là dân tộc văn minh, có sứ mệnh đi “khai hóa”, truyền bá văn minh, ban phát tự do, bình đẳng, bác ái cho các dân tộc khác; giúp đỡ các dân tộc nghèo nàn, lạc hậu “văn minh hơn” nhưng dưới sự bảo trợ của nòng súng, bằng bom đạn với đội quân xâm lược nhà nghề, hiếu chiến, dã man, tàn bạo, giết người không thương tiếc để áp đặt “văn minh khai hóa” của mình.
Tư tưởng triết học trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Hồ Chí Minh đã vạch trần sự thật “giả danh giả nghĩa” ấy và lên án gay gắt tội ác của thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam, đó là, về chính trị chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do, dân chủ nào; về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Hệ quả là, hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói trong năm Ất Dậu 1945... Tệ hơn thế, trong 5 năm cai trị, thực dân Pháp đã hai lần bán nước ta cho giặc Nhật.
Điểm hội tụ tinh hoa tư tưởng triết học nhân văn trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Hồ Chí Minh là phương pháp tiếp cận về con người và tầm nhìn về độc lập. Tự do với tư cách là cái “la bàn” soi dọi tầm nhìn và định hướng tương lai cho dân tộc Việt Nam phát triển. Có nhẽ điều này cắt nghĩa rõ ràng tại sao Hồ Chí Minh lại bắt đầu soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập 2-9 với lời dẫn đầu tiên lấy từ bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, Người khẳng định chân lý phổ biến: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”[2, tr.1]. Điều này “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [2, tr.1]. Vậy thì, dân tộc Việt Nam cũng quyền được hưởng tự do, bình đẳng như các dân tộc khác; dân tộc Việt Nam phải có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc như các dân tộc khác, tại sao thực dân Pháp lại chà đạp thô bạo lên những giá trị thiêng liêng và các quyền được sống chính đáng của dân tộc Việt Nam.
Sau 80 năm nhìn lại, chúng ta thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa tư tưởng triết học nhân văn vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 và tư tưởng triết học nhân sinh sâu sắc này ngày càng tỏa sáng, thể hiện sức sống mãnh liệt, trở thành niềm tin và lẽ sống, ý chí và sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đó là cả dân tộc, không phân biệt già trẻ, trai gái, giầu nghèo, miền xuôi và miền ngược, tất cả cùng chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tạo nên tầm vóc, thế đứng, giá trị nhân phẩm và văn hóa con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Chính điều này đã khiến mọi kẻ thù của dân tộc ta đã phải chùn chân, lùi bước, phải tôn kính, nể phục Cụ Hồ, đã phải “gác lại quá khứ để hướng đến tương lai”.
Rõ ràng là, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 phản ánh khái quát tầm nhìn xa, trông rộng, xuyên suốt chiều dài lịch sử, vượt qua giới hạn không gian, tồn tại mãi với thời gian, đồng hành cùng dân tộc, cùng bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Không phải ngẫu nhiên mà Hoa Kỳ, Pháp, Nhật và nhiều quốc gia khác đã từng là “cựu thù”, đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam.
Giá trị và ý nghĩa sâu sắc của tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 là đề cao quyền con người và quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Điều đó không chỉ thể hiện khát vọng vươn lên cháy bỏng của Nhân dân Việt Nam về cuộc sống hòa bình, mà còn là mục tiêu, lý tưởng sống trong độc lập, tự do của mọi quốc gia - dân tộc trên toàn thế giới đã, đang và sẽ hướng đến tươi lai tươi đẹp với các luồng sinh khí mới và nguồn năng lượng tích cực. Điều cao quý ấy phản ánh đúng tầm tư tưởng của Hồ Chí Minh khi khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập” [2, tr.3].
Tư tưởng triết học trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ chân lý chính nghĩa và đạo lý nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam về đấu tranh để giành độc lập, tự do và quyền sống làm người chân chính. Tư tưởng này đã khơi dậy nguồn sáng tạo vô tận và soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong 80 năm qua và hiện nay, tiếp tục dẫn dắt, định hướng sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giầu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc ta.
Giá trị và ý nghĩa triết học sâu sắc của Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở việc khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng việc đã xóa bỏ vĩnh viễn ách thống trị hơn 80 năm của thực dân và nền quân chủ chuyên chế tồn tại hàng ngàn năm, mà còn thể hiện ở việc kiến tạo, xây dựng nên chế độ cộng hòa - dân chủ với sự ra đời của một Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Điều ấy đã nói rõ rằng vào thời điểm trước, trong và sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II xảy ra, các điều kiện quốc tế khách quan đã đặt ra cho nhiều dân tộc có thể đúng lên đấu tranh tự giải phóng mình nhưng họ đã không làm được như vậy, chỉ có cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, nhân dân ta mới thực hiện được “cuộc cách mạng đổi đời”. Ý nghĩa triết học nhân văn Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự kỳ diệu và sâu sắc qua sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng: Tổng khởi nghĩa và Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
2.3. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về quyền độc lập, tự do của dân tộc
Một trong những cống hiến đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh nói riêng là Người đã xây dựng được hệ quan điểm độc đáo về độc lập dân tộc. Khía cạnh triết học của quan điểm này biểu hiện ở chiều sâu triết lý nhân sinh về độc lập dân tộc, rất rõ góc độ triết học chính trị - xã hội và đạo đức cách mạng. Điều này thể hiện cô đọng ở các nội dung:
Thứ nhất, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về quyền độc lập, tự do của dân tộc, trước hết đặt ra yêu cầu có tính nguyên tắc là phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện và triệt để trong nhận thức và hành động cách mạng. Người khẳng định quyền độc lập, tự do của các dân tộc là những quyền tự nhiên, thiêng liêng, bất khả xâm phạm và là quy luật khách quan của xã hội loài người mà tất cả các dân tộc đều phải trải qua và có quyền được hưởng. Đây là cái quyền thiêng liêng của một dân tộc vì nó không phải ai và dân tộc nào mong muốn là có ngay được, mà phải đánh đổi bằng xương máu, công sức, trí tuệ và thời gian của cả một dân tộc. Vì lẽ đó, bất kể là ai, thế lực nào có mưu đồ xâm phạm đến quyền độc lập, tự do của dân tộc dưới bất kỳ hình thức nào, đều trái với đạo lý và lẽ phải, là xâm phạm trắng trợn quyền thiêng liêng vốn có của các dân tộc. Triết lý nhân sinh sâu sắc này được Người rút ra từ quan điểm của Lênin trong tác phẩm “Về quyền dân tộc tự quyết”, đúng là: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết” [1]; dân tộc Việt Nam không nằm ngoài vấn đề có tính quy luật ấy.
Ý nghĩa triết học nhân sinh của luận điểm Hồ Chí Minh là một quốc gia chỉ thật sự có độc lập, tự do khi quốc gia ấy có đầy đủ quyền tự quyết, tự chủ đối với vận mệnh của mình, nhất là quyền lựa chọn và quyết định con đường phát triển, hoàn toàn không bị lệ thuộc hoặc bị chi phối bởi các dân tộc khác. Từ đó, Hồ Chí Minh rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu đối với cách mạng Việt Nam là phải làm cách mạng đến nơi đến chốn; phải có nền độc lập, tự do thậc sự; tức là, người dân phải có quyền làm chủ tự nhiên và xã hội để tự điều khiển lấy mọi công việc của mình, không cần sự can thiệp của người khác. Người viết: “Việt Nam hoàn toàn thống nhất và độc lập, “có quốc hội riêng, “chính phủ riêng, “quân đội riêng”, “ngoại giao riêng”, “kinh tế và tài chính riêng” [3, tr.97].
Thứ hai, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về quyền độc lập, tự do của dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là con đường duy nhất đúng đắn để dân tộc ta đi tới bến bờ vinh quang hạnh phúc. Bởi vì, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại cho Nhân dân ta cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Nghiên cứu thành quả cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Hồ Chí Minh khẳng định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định “…chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [4, tr.563]. Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất để Nhân dân ta xây dựng, củng cố và bảo vệ vững chắc quyền độc lập, tự do của dân tộc; là điều kiện cơ bản và quyết định đối với dân tộc, chống lại mọi âm mưu xâm chiếm, đe dọa và cướp đi quyền độc lập, tự do của dân tộc.
Thứ ba, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về quyền độc lập, tự do của dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Người khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, ý chí thống nhất Tổ quốc của Nhân dân cả nước không bao giờ lay chuyển” [5, tr.245]; đó là con đường sống của Nhân dân Việt Nam. Vì thế, Người khẳng định: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!” [2, tr.280]. Trước lúc đi xa, Người căn dặn Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta với một niềm tin và khát vọng cháy bỏng: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” [6, tr.612].
Thứ tư, tư tưởng triết học sâu sắc, lắng đọng, thấm sâu vào trái tim, khối óc, trở thành phương châm nhận thức và hành động cách mạng của hằng triệu người dân Việt Nam. Điều đó thể hiện sinh động trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao giá trị nhân văn: tất cả vì con người, tôn trọng quyền của mỗi con người. Hơn hết thảy mọi điều mọi điều trên trái đất, Người khẳng định nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam là một lẽ đương nhiên, một điều tất yếu, phải có được và phải gìn giữ bền vững, không ai chối cãi được và không thể cướp đi giá trị thiêng liêng ấy. Đây là một nguyên lý cơ bản. Hàm ý sâu sắc của tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh đọng lại ở cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và chính Người đã đặt cuộc cách mạng này ngang bằng với hai cuộc cách mạng tiến bộ điển hình của thế giới, là cách mạng giải phóng dân tộc của Mỹ (1776) và cách mạng dân chủ tư sản của Pháp (1789) nhưng với tầm nhìn mới, quan điểm mới. Vì lẽ đó, Hồ Chí Minh chỉ kế thừa, chắt lọc sử dụng những luận điểm nổi tiếng trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ để xây dựng quan điểm riêng và khẳng định giá trị độc lập, tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam trong quan hệ với các dân tộc khác.
Niềm tự hào và tự tôn dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh có cơ sở lý luận, thực tiễn thiết thực, rất đỗi tự hào về tính chính danh, chính đáng, chính nghĩa. Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Hồ Chí Minh không chỉ tuyên bố về quyền của mỗi dân tộc mà còn tuyên bố về quyền của mỗi con người khi họ được giải phóng khỏi gông cùm, xích sắt của chế độ bóc lột dã man, tàn bạo của chủ nghĩa tư bản và phong kiến. Nhờ đó, mọi người được thụ hưởng quyền bình đẳng, bác ái, được sống trong độc lập, tự do; tìm được niềm vui, hạnh phúc đích thực, đó là những mỹ từ đẹp với nội dung tư tưởng nhân văn sâu sắc mà hàng triệu triệu người đã phải chờ đợi và mãi đến cuộc “cách mạng đổi đời” Tháng Tám 1945 mới giành được các quyền thiêng liêng ấy.
Thứ năm, Chiều sâu của tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh nằm ở chỗ: độc lập dân tộc không tồn tại riêng lẻ hay tự thân mà gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Người nói: Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì. Vì vậy, thực hiện tư tưởng của Người, Đảng và Nhân dân ta đã kiên quyết đấu tranh, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; rồi sau đó tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược hơn 30 năm. Tất cả việc làm quang minh chính đại ấy là nhằm thực hiện cái quyền thiêng liêng độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.
Tư tưởng triết học nhân văn Hồ Chí Minh tỏa sáng lòng bao dung, nhân ái, sự cảm thông sâu sắc, lòng yêu nước thương nòi, niềm khát khao giành và giữ độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Không dừng lại ở đó, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh xuất phát từ quyền của con người để vươn tầm cao, khẳng định quyền tự quyết của các dân tộc, bởi theo Người, các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đó là điểm khác biệt so với các bậc tiền bối, khi Người nhấn mạnh "các dân tộc trên thế giới", nhất là các dân tộc đang chịu sự thống trị của chủ nghĩa thực dân lúc bấy giờ, họ cũng có quyền được hưởng tự do, độc lập chân chính. Đó là giá trị của chân - thiện - mỹ.
Nói một cách khác, tư tưởng triết học nhân văn trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt lên tầm tư tưởng nhân quyền, dân quyền trong Tuyên ngôn nước Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn của cách mạng Pháp năm 1791 khi Người khẳng định: tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, được mưu cầu hạnh phúc và được sống một cuộc đời sung sướng. Rõ ràng, tư tưởng triết học nhân văn trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần tư tưởng nhân văn dân chủ nhân dân, đề cao nhân dân - chủ thể sáng tạo lịch sử, quyết định vận mệnh của đất nước. Bức tranh đối lập về tư tưởng triết học nhân văn dân chủ trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Hồ Chí Minh với các bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và Pháp như đã nêu trên là khác nhau về mục đích và hành động cũng như con đường đi tới để đạt được nền độc lập dân tộc. Bởi lẽ, tư tưởng nhân văn dân chủ trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và Pháp cơ bản là mang tính cá nhân gắn với nhóm lợi ích khi một thiểu số người nấp dưới danh nghĩa “đi khai hóa”, “ban phát nền văn minh phương Tây” để tự cho mình cái quyền đi xâm chiếm nước khác, biến các nước này thành thuộc địa của họ; đồng thời, cướp đi quyền sống, quyền tự do và độc lập của các dân tộc. Tư tưởng triết học nhân văn về dân chủ của Hồ Chí Minh khác về chất so với các bản tuyên ngôn tư sản bởi quyền cá nhân được tôn trọng cùng với quyền tự quyết của dân tộc; ở đó, pháp luật được thực hiện vì lợi ích chung của người dân; tất cả vì con người, vì tiến bộ xã hội.
3. Kết luận
Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ tuyên bố trước thế giới về quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, mà còn khẳng định các quyền về độc lập, tự do ấy nhất thiết phải được hiện thực hóa trên thực tế cho dù có phải đối mặt với gian khổ, hy sinh, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Điều ấy đã ngấm vào máu và trở thành niềm tin, lẽ sống, phương châm nhận thức và hành động cách mạng khi cả dân tộc Việt Nam thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”.
Tuyên ngôn Độc lập 2-9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khích lệ nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới anh dũng đứng lên chống chủ nghĩa thực dân, quyết “đem sức ta mà giải phóng cho ta”! Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình và triệt để, lần đầu tiên có được ở Đông Nam Á. Từ đây, nhân dân nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á, châu Phi và Mỹ - Latinh đã noi theo tấm gương Việt Nam, đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, tiến hành cuộc cách mang dân tộc và dân chủ của nước mình, làm suy yếu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Ở đó, tư tưởng triết học nhân văn nổi bật của Hồ Chí Minh đã khẳng định; trở thành phương châm nhận tức và hành động của hằng triệu người bởi nó đứng về phía họ, đấu tranh, bênh vực và bảo vệ họ; đồng thời, luôn cổ vũ, thôi thúc, đề cao giá trị tư tưởng nhân văn, chính nghĩa từ sự lan tỏa và thẩm thấu giá trị của văn hóa Việt Nam - văn hóa giải phóng dân tộc thời đại Hồ Chí Minh./.
Tài liệu tham khảo
[1]. V.I.Lênin: Toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2005.
[2]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011.
[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011.
[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011.
[5]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011.
[6]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011.
[7]. Nguyễn Bá Dương, Thực chất và ý nghĩa tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, Báo Điện tử Đảng Cộng sản, ngày 11 tháng 5 năm 2006.
[8]. Nguyễn Bá Dương, Khái lược về tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, Giáo trình Lịch sử Triết học, Chương 4, Nxb QĐND, Hà Nội, 2014.
[9]. Nguyễn Bá Dương, Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – Những giá trị vĩnh hằng, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2011.
[10]. Nguyễn Bá Dương, Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 2018.
[11]. Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Bá Duy, Tầm vóc, giá trị và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, Hà Nội, 2021.
[12]. Nguyễn Bá Dương, Lê Thành Long, Tư tưởng Hồ Chí Minh - Niềm tin và sức mạnh, Nxb QĐND, Hà Nội, 2024.