TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - SỰ KHẲNG ĐỊNH LÝ TƯỞNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC, CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VÀ TỰ DO, DÂN CHỦ, HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN

Đại tá, TS Trần Xuân Phú - Tổng biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự TCGCVN - Thắng lợi của khởi nghĩa ở Hà Nội đã tạo nên chuyển biến nhảy vọt của Tổng khởi nghĩa, đồng thời tạo điều kiện để Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ đạo Tổng khởi nghĩa, xúc tiến chuẩn bị ngay cho việc ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiến hành các hoạt động đối ngoại.

Đại tá, TS Trần Xuân Phú -

Tổng biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự

TCGCVN - Thắng lợi của khởi nghĩa ở Hà Nội đã tạo nên chuyển biến nhảy vọt của Tổng khởi nghĩa, đồng thời tạo điều kiện để Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ đạo Tổng khởi nghĩa, xúc tiến chuẩn bị ngay cho việc ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiến hành các hoạt động đối ngoại.

Ngày 21 tháng 8 năm 1945, nhiều ủy viên Trung ương Đảng đã về Hà Nội. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) về tới Hà Nội. Sau khi nghe báo cáo tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội, chiều 26 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ tọa phiên họp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, tổ chức tại số nhà 48 phố Hàng Ngang, để bàn những nhiệm vụ cấp bách của nhà nước cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất trí với chủ trương của Ban Thường vụ mở rộng thành phần Ủy ban giải phóng dân tộc và sớm công bố danh sách của Ủy ban cho toàn dân biết, chuẩn bị bản Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức cuộc mít tinh lớn ở Hà Nội để Ủy ban giải phóng dân tộc ra mắt nhân dân. Ngày ra mắt của Ủy ban cũng là ngày Việt Nam tuyên bố thành lập chính thể dân chủ cộng hòa.

Ngày 27 tháng 8 năm 1945, Ủy ban giải phóng dân tộc họp tại Hà Nội. Tại cuộc họp này, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Quốc dân Đại hội (Tân Trào) bầu ra được cải tổ thành Chính phủ cách mạng lâm thời, nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng yêu nước và những nhân sĩ tiến bộ. Một số ủy viên Việt Minh tự nguyện rút khỏi Chính phủ để nhường chỗ cho các thành phần khác, có cả những người đã từng tham gia trong chính quyền cũ. Cũng trong ngày 27, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các vị bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày hôm sau, danh sách Chính phủ gồm 15 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu được công bố trên các báo ở Hà Nội.

Từ ngày 28 tháng 8 năm 1945, theo sự phân công của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, tại chiếc bàn ăn trên gác hai nhà số 48 phố Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung trí lực và tình cảm soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Nhằm huy động trí tuệ tập thể, ngày 30 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời một số đồng chí đến trao đổi, góp ý kiến vào văn kiện lịch sử quan trọng này. Sau khi suy ngẫm, trăn trở, ngày 31 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định bổ sung một số điểm vào bản Tuyên ngôn, hoàn chỉnh bản khai sinh của nước Việt Nam vừa giành được độc lập.

Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh dự thảo được Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhất trí thông qua trước khi công bố trước toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội.

Ngày 02 tháng 9 năm 1945, thay mặt quốc dân đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Khởi đầu bản Tuyên ngôn lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại đoạn trích từ Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, rằng: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(1). Tiếp sau, Người cũng trích từ Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp, rằng: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”(2). Đồng thời, Người khẳng định đó là lẽ phải không ai chối cãi được.

Vì sao Hồ Chí Minh lại dẫn luận hai câu đó trong hai Bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp, dùng nó để mở đầu cho một văn kiện có tầm quan trọng đặc biệt - Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa? Sử dụng hai câu trích từ những bản Tuyên ngôn nổi tiếng của nước Mỹ và nước Pháp; phải chăng đây là một thâm ý sâu xa về chính trị, ngoại giao của Hồ Chí Minh nhằm vạch trần bản chất xâm lược của các thế lực thực dân, đế quốc đã lợi dụng lá cờ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” để cướp nước ta, áp bức đồng bào ta; đồng thời, điều quan trọng hơn là sự khẳng định quyền thiêng liêng được hưởng độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam trước toàn thế giới!

Trên thực tế, ở vào thời điểm lịch sử lúc bấy giờ, thực dân Pháp đã và đang là kẻ thù chính, là mối đe dọa trực tiếp nền độc lập, chủ quyền của dân tộc Việt Nam. Còn đế quốc Mỹ, chỉ hơn 10 năm sau đó đã trở thành kẻ thù của nhân dân ta. Nhận rõ âm mưu của các thế lực xâm lược nước ta, sử dụng hai câu được coi là “bất hủ”, “khuôn thước” của người Pháp và người Mỹ để làm hai câu dẫn luận, đây là thâm ý sâu xa của Hồ Chí Minh. Người muốn sử dụng ngay cái “chân lý cao cả” mà nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ phải đổ xương máu và nước mắt mới viết nên, qua đó làm vũ khí sắc bén đấu tranh với các thế lực thực dân, đế quốc trong âm mưu xâm lược Việt Nam của chúng.

Có thể khẳng định, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho đồng bào là lý tưởng cao cả được cô đọng ở Bản Tuyên ngôn Độc lập. Đó cũng là mục đích lớn nhất trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Người luôn thấu hiểu rằng, trong bối cảnh lúc bấy giờ, các thế lực thực dân, đế quốc không dễ gì chấp nhận một nước Việt Nam độc lập, vì họ mưu toan tiêu diệt chính quyền cách mạng non trẻ của người Việt Nam. Vì thế, không những trong Tuyên ngôn Độc lập, mà ngay cả trong nhiều bài viết, bài nói sau này, Người thường muốn sử dụng chính câu khẩu hiệu: “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” mà kẻ thù đang lợi dụng cho cái công cuộc được gọi là “khai hóa văn minh” ở nước ta, cũng như ở các nước thuộc địa để khẳng định quyền thiêng liêng đó của dân tộc Việt Nam.

Quảng cáo

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hầu như người ta vẫn chưa biết nhiều về một nước Việt Nam độc lập. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình như đang bị “bão hòa”, bị “phủ lấp” trong chiến thắng vang dội mà quân đội các nước Đồng minh đã giành được trước phe phát xít. Đối với nhân dân thế giới lúc này, Việt Nam thực tế chỉ được biết đến với danh nghĩa là “An Nam thuộc Pháp” mà thôi. Uy tín và ảnh hưởng của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế hầu như chưa được thừa nhận. Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ ngoại giao cần kíp lúc bấy giờ là phải làm cho thế giới biết đến nhiều hơn về một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa mới ra đời; dân tộc Việt Nam đã có nền độc lập - một nền độc lập thực sự mà biết bao thế hệ người Việt Nam phải đổ xương máu mới giành được từ tay phát xít Nhật - kẻ thù chung của Đồng minh và của lực lượng yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Đây chính là một điều kiện tiên quyết tạo thuận lợi, sự ủng hộ và cơ sở pháp lý vững chắc để chính quyền nhà nước non trẻ tồn tại, phát triển trong tình thế vô cùng khó khăn, phức tạp lúc bấy giờ.

Trích hai câu trong các bản Tuyên ngôn của người Pháp và người Mỹ mà cả nhân loại đã tôn vinh, để rồi dùng hai câu đó như lời tựa mở đầu công bố nền độc lập cho dân tộc Việt Nam là việc làm hết sức sáng suốt, khôn khéo, nhạy bén về chính trị và cũng rất nhạy bén, thâm thúy trong nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chí Minh, nhằm tạo ra một “hành lang ngoại giao - pháp lý” trong dư luận quốc tế, bảo đảm những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cả trước mắt cũng như lâu dài.

Nước Việt Nam cần có sự thừa nhận của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang có ảnh hưởng lớn trong Liên hợp quốc, như: Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc (đại diện lúc này là chính quyền của Tưởng Giới Thạch). Tuy nhiên, trớ trêu thay, chính trong một số quốc gia này - những quốc gia từng viết tên mình lên bản Hiến chương Xanfranxico (6-1945) lại đang cố tình tìm mọi cách lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ và nền độc lập của dân tộc Việt Nam vừa mới đấu tranh giành lại được trong tay các thế lực thực dân. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận thấu đáo những vấn đề phức tạp, để rồi ngay trong Bản Tuyên ngôn lập quốc thời đại mới, Người mong muốn tất cả các nước, nhất là các thế lực thực dân, đế quốc cần phải hiểu rằng: việc nhân dân Việt Nam được thừa hưởng quyền độc lập, tự do và việc thừa nhận nền độc lập, tự do ấy, cũng như việc không nước nào có quyền can thiệp vào nội bộ của dân tộc Việt Nam là lẽ hiển nhiên, theo đúng tinh thần Hiến chương Xanfranxico mà chính các nước này đã ghi nhận.

Khép lại Bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay lời của hàng triệu đồng bào mình, hùng hồn đưa ra tuyên bố, khẳng định quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, cũng như ý chí quật cường, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nền độc lập tự do ấy của dân tộc Việt Nam. Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(3).

Tuyên ngôn Độc lập là kết tinh tâm nguyện, tư tưởng, kết quả hành trình tìm đường cứu nước từ Nguyễn Ái Quốc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh; là sự thống nhất giữa tư tưởng và những nỗ lực không mệt mỏi, những quyết định chính xác, kịp thời của Người trong đấu tranh cách mạng và thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam; thể hiện tầm tư duy khoa học sắc sảo, độc đáo của Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất được UNESCO vinh danh. Tuyên ngôn Độc lập không chỉ có vai trò, ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng trong việc hợp pháp thành quả giành chính quyền trong cả nước của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mà còn kịp thời tuyên bố trước công luận Chính phủ lâm thời do Người đứng đầu là một chính phủ hợp pháp (với vị thế của những người làm chủ đất nước có đủ tư cách đón tiếp quân Đồng minh vào Việt Nam) sau đó không lâu. Nếu để chậm một vài ngày thôi thì cơ hội này sẽ không bao giờ trở lại. Tuyên ngôn cũng không chỉ khẳng định rõ vai trò, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, mà còn kết tinh biết bao máu xương, nước mắt của các thế hệ người dân Việt Nam yêu nước, đồng thời cũng chứng minh rằng: Với đường lối, chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, biết tạo dựng thế và lực; biết chớp đúng thời cơ, tranh thủ, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nhân dân Việt Nam đã vùng lên lật đổ ách thống trị, thủ tiêu toàn bộ chế độ thực dân, phong kiến và tên đất nước Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của “bản đồ chính trị thế giới”.

Vì thế, Tuyên ngôn không chỉ góp phần làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mà còn là minh chứng cho thấy cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng không thể có sự chung sống và hoà hợp giữa người dân thuộc địa và bọn thực dân. Để giành lại nhân phẩm, giành lại bản sắc dân tộc đã bị tha hoá, tất cả các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa phải dùng bạo lực cách mạng đập tan ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Đồng thời, cũng cho thấy rằng lịch sử nhân loại ghi nhận lần đầu tiên xuất hiện Tuyên ngôn về sự ra đời một nhà nước kiểu mới do Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc lãnh đạo. Vì thế, về bản chất, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ khác mà còn đối lập về nguyên tắc với các bản tuyên ngôn của nhà nước tư sản trong tiến trình lịch sử.

Đặc biệt, với những bổ sung, phát triển tư tưởng quyền con người thành quyền của một dân tộc/ của tất cả các dân tộc cần/ phải/ được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc, có thể thấy Tuyên ngôn Độc lập là sự tiếp biến và vượt gộp tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền của các dân tộc. Tư tưởng đó của Người mang hơi thở thời đại, phản ánh xu thế tất yếu của thời đại - thời đại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển và tôn trọng luật pháp quốc tế; trong đó mọi người, mọi dân tộc đều có “quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” và nếu bị tước đoạt/ xâm phạm thì cần phải đấu tranh để giành lại. Vì thế, có thể nói Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố trước thế giới về sự ra đời của một nước Việt Nam “mới” - độc lập, tự do mà còn là một tuyên ngôn về quyền con người, quyền của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh vì một sự giải phóng hoàn toàn khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.

Từ Ba Đình lịch sử 80 năm trước, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ vang vọng khắp non sông, đất nước cho đến mãi muôn đời sau, mà còn trở thành nguồn sức mạnh nội lực nâng bước toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Việt Nam kiên cường đấu tranh, giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; chống Mỹ, cứu nước cũng như các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc của Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội những thập niên sau đó. Trên hành trình hướng đến tương lai tươi sáng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, có thể thấy nguồn sức mạnh của tinh thần, ý chí độc lập, tự do được trao truyền suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; những thành tựu, những bài học kinh nghiệm lịch sử trong cuộc cách mạng giải phóng vì nền độc lập của đất nước, là việc thiết lập một chế độ nhân dân nhằm chấm dứt tình trạng bóc lột và suy đồi do chế độ thực dân nuôi dưỡng được khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập cũng sẽ tiếp tục cổ vũ nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, trường tồn.

Chào đón mọi cơ hội và thuận lợi, đối diện và hóa giải mọi thử thách, một đất nước Việt Nam hồi sinh sau bao mất mát, hy sinh trong những năm dài chiến tranh càng trân trọng hơn giá trị của độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam càng quyết tâm và nỗ lực hơn để xây dựng, bảo vệ một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vì thế, thế giới có thể đổi thay, song âm hưởng và hào khí của Tuyên ngôn Độc lập vẫn sẽ mãi vang vọng; ý nghĩa lịch sử và giá trị hiện thực của văn bản pháp lý đặc sắc này cũng sẽ vẫn trường tồn.

Hiện nay, thế giới, khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Trong nước, sau 40 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện; tuy nhiên, nước ta cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi càng phải gắn chặt hơn bao giờ hết, nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định.

Tám mươi năm đã đi qua kể từ sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 - 9, nhưng tinh thần và khí phách dân tộc mà Bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử đã khẳng định, quyền thiêng liêng về độc lập, tự do bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới vẫn mãi mãi in đậm trong trái tim mọi người dân Việt Nam. Quán triệt sâu sắc và hướng theo tinh thần đó, ngày nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng ta đề ra với những thành tựu mới to lớn hơn nữa, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia trong tình hình mới.

Tài liệu tham khảo

(1) (2) (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 555, 557.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm