TS. Nguyễn Ngọc Ân -
Chủ tịch Công đoàn Giáo dục Việt Nam.
1. Mở đầu
Trong tiến trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, giáo dục Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước nhanh, bền vững.
Trong hành trình thực hiện mục tiêu lớn lao ấy, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có vai trò trung tâm, giữ vị trí then chốt. Để đội ngũ này phát huy đầy đủ năng lực, phẩm chất và trách nhiệm của mình, rất cần có một tổ chức đại diện đồng hành, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời khơi dậy tinh thần đổi mới, sáng tạo, cống hiến trong công tác giảng dạy và quản lý giáo dục. Tổ chức đó chính là Công đoàn Giáo dục Việt Nam - một thiết chế không thể thiếu trong hệ thống chính trị và trong ngành Giáo dục Việt Nam.
Từ khi thành lập đến nay, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã đồng hành cùng sự phát triển của nền giáo dục cách mạng Việt Nam, góp phần tích cực vào công cuộc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, tiến bộ và nhân văn. Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay, vai trò của Công đoàn càng trở nên quan trọng và cần được nhận thức sâu sắc, phát huy mạnh mẽ hơn. Vì vậy, việc nghiên cứu và làm rõ vai trò của Công đoàn Giáo dục Việt Nam trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo của đất nước không chỉ mang ý nghĩa lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc. Đây cũng là cơ sở để các cấp Công đoàn trong ngành tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.
Chuyên đề nhằm mục đích: Phân tích, khái quát vai trò, chức năng và những đóng góp nổi bật của Công đoàn Giáo dục Việt Nam trong quá trình phát triển giáo dục. Làm rõ những thuận lợi, khó khăn, thách thức mà tổ chức Công đoàn ngành Giáo dục đang phải đối mặt. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Công đoàn Giáo dục Việt Nam trong thời gian tới, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới giáo dục vì sự phát triển bền vững đất nước.
2. Vị trí, chức năng của Công đoàn Giáo dục Việt Nam
Công đoàn Giáo dục Việt Nam là tổ chức Công đoàn ngành Trung ương, trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hoạt động trong hệ thống chính trị quốc gia và trong ngành Giáo dục và đào tạo. Tổ chức này giữ vai trò quan trọng trong việc đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền lợi của cán bộ, nhà giáo và người lao động trong ngành, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới và phát triển giáo dục nước nhà.
Chức năng chính của Công đoàn Giáo dục Việt Nam, gồm:
1. Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ, nhà giáo, người lao động trong ngành, là tiếng nói của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và người lao động trong ngành Giáo dục trong việc phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị với các cấp quản lý và cơ quan có thẩm quyền, tham gia vào quá trình xây dựng, sửa đổi chính sách, pháp luật liên quan đến tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc, chế độ hưu trí, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động… nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho đội ngũ nhà giáo và người lao động, giám sát việc thực hiện các quy định về chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, phối hợp tổ chức hỗ trợ pháp lý, tư vấn pháp luật, can thiệp kịp thời trong các trường hợp xâm phạm quyền lợi hoặc danh dự nhà giáo.
2. Tham gia xây dựng chủ trương, chính sách và giám sát việc thực hiện các chế độ liên quan đến giáo dục và đội ngũ nhà giáo đóng góp ý kiến vào quá trình hoạch định chính sách giáo dục và đào tạo, đặc biệt trong các lĩnh vực: Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chính sách đào tạo, bồi dưỡng giáo viên…phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong công tác thanh tra, giám sát thực hiện chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ở các cơ sở giáo dục, góp phần điều chỉnh các chủ trương, chính sách theo hướng lấy người lao động làm trung tâm, đảm bảo công bằng, bình đẳng và phát triển bền vững cho ngành Giáo dục.
3. Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, phát huy vai trò của đội ngũ nhà giáo trong đổi mới giáo dục, phát động và duy trì các phong trào mang tính đặc trưng của ngành như: “Hai tốt”- dạy tốt, học tốt, “Mỗi thầy, cô là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Đổi mới, sáng tạo trong quản lý, giảng dạy và học tập”, “Công đoàn đồng hành cùng nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục”... Tổ chức hội thi giáo viên giỏi, hội thảo đổi mới phương pháp giảng dạy, diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm sư phạm, nhằm lan tỏa tinh thần học tập suốt đời, đổi mới sáng tạo trong đội ngũ nhà giáo.
4. Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và xây dựng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu thời đại mới, tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành cho đoàn viên Công đoàn, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, phẩm chất nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm công dân cho giáo viên trong quá trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, gắn kết Công đoàn với nhiệm vụ xây dựng môi trường giáo dục dân chủ, kỷ cương, nhân văn - nơi thầy, cô giáo là trung tâm lan tỏa giá trị đạo đức, văn hóa và truyền thống tốt đẹp của nghề giáo.
5. Xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, góp phần xây dựng và phát triển ngành Giáo dục, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động Công đoàn theo hướng sát với thực tiễn, gần gũi với nhu cầu, nguyện vọng của giáo viên, phát triển đoàn viên, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn cơ sở có năng lực, bản lĩnh, tâm huyết với nghề, tăng cường vai trò là cầu nối giữa tổ chức Đảng, chính quyền và đội ngũ nhà giáo, tạo đồng thuận xã hội trong việc phát triển giáo dục.
6. Công đoàn là cầu nối giữa các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước với đội ngũ nhà giáo và người lao động trong ngành, góp phần bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức và hành động giữa cấp quản lý với cơ sở giáo dục. Truyền tải chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến đội ngũ nhà giáo kịp thời, chính xác, hiệu quả thông qua hệ thống Công đoàn các cấp và các hình thức sinh hoạt chính trị, chuyên môn, hội nghị, tập huấn, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị cho giáo viên và người lao động trước những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục, giúp họ hiểu rõ vai trò, trách nhiệm và vị trí của mình trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của ngành và của đất nước; phản ánh kịp thời những tâm tư, nguyện vọng, khó khăn, kiến nghị của đội ngũ nhà giáo đến các cơ quan quản lý thông qua các kênh chính thức như: Hội nghị đối thoại, tham gia góp ý văn bản pháp luật, đề xuất chính sách... từ đó giúp Đảng, Nhà nước có cái nhìn sát thực tế và ban hành các quyết sách phù hợp, khả thi, tạo diễn đàn dân chủ, nơi tiếng nói của giáo viên được lắng nghe và tôn trọng, góp phần xây dựng môi trường làm việc dân chủ, đoàn kết, minh bạch và kỷ cương trong các cơ sở giáo dục, gắn kết ý chí và hành động giữa lãnh đạo với quần chúng, góp phần củng cố niềm tin của đội ngũ nhà giáo đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước, từ đó nâng cao sự gắn bó, tinh thần trách nhiệm và ý chí phấn đấu trong toàn ngành.
3. Vai trò của Công đoàn Giáo dục Việt Nam trong sự nghiệp phát triển giáo dục
3.1. Đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đội ngũ nhà giáo
Một trong những chức năng cốt lõi và xuyên suốt của Công đoàn Giáo dục Việt Nam là đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đội ngũ nhà giáo và người lao động trong ngành Giáo dục. Đây là nội dung thể hiện vai trò “người đại diện tin cậy” và “điểm tựa vững chắc” của Công đoàn đối với cán bộ, giáo viên và người lao động.
Bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của đội ngũ cán bộ làm giáo dục. Công đoàn các cấp tích cực tham gia góp ý, phản biện và kiến nghị trong quá trình xây dựng, sửa đổi các chính sách, pháp luật liên quan đến nhà giáo như: Chế độ tiền lương, phụ cấp thâm niên, biên chế viên chức, chính sách hưu trí, nghỉ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động…; phối hợp với cơ quan chuyên môn để tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật lao động, Luật Giáo dục, Luật Công đoàn và các văn bản liên quan đến quyền lợi giáo viên; kịp thời can thiệp và bảo vệ nhà giáo trong các vụ việc liên quan đến danh dự, nhân phẩm, quyền lợi nghề nghiệp bị xâm phạm, đặc biệt trong bối cảnh gia tăng tình trạng bạo lực học đường, học sinh phụ huynh xúc phạm giáo viên,…; tham gia giải quyết tranh chấp lao động, bảo vệ người tố cáo sai phạm, đồng thời đề xuất xử lý các vi phạm của đơn vị sử dụng lao động nếu có hành vi trái pháp luật đối với giáo viên.
Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên Công đoàn. Tổ chức các hoạt động hỗ trợ thiết thực cho giáo viên có hoàn cảnh khó khăn thông qua các chương trình như: “Mái ấm Công đoàn”, “Tết sum vầy”, “Tiếp sức nhà giáo vượt khó”, “Chia sẻ cùng thầy cô”, “Tháng Công nhân” và nhiều hoạt động an sinh khác.
Vận động xã hội hóa nguồn lực để hỗ trợ xây nhà, khám chữa bệnh, trợ cấp đột xuất, tặng học bổng cho con em giáo viên vượt khó học giỏi. Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, tham quan, nghỉ dưỡng… tạo điều kiện cho giáo viên được thư giãn, giao lưu, nâng cao đời sống tinh thần, giảm căng thẳng và áp lực nghề nghiệp.
Góp phần cải thiện điều kiện làm việc của công đoàn viên. Công đoàn các cấp chủ động giám sát điều kiện làm việc tại các cơ sở giáo dục; kiến nghị cải thiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phòng làm việc, phòng chức năng để bảo đảm sức khỏe và hiệu quả lao động cho nhà giáo. Tham gia vào quy trình đánh giá, xếp loại viên chức, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng - kỷ luật để đảm bảo công bằng, khách quan, bảo vệ quyền lợi chính đáng của giáo viên.
Tăng cường hỗ trợ giáo viên vùng khó khăn trong đời sống và điều kiện làm việc. Công đoàn Giáo dục Việt Nam thường xuyên phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các nhà tài trợ và tổ chức xã hội để chăm lo, hỗ trợ giáo viên vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn - nơi điều kiện sống còn thiếu thốn, áp lực nghề nghiệp lớn và rủi ro cao. Biểu dương, tôn vinh những tấm gương nhà giáo vượt khó dạy tốt, tạo động lực tinh thần mạnh mẽ và lan tỏa hình ảnh tích cực trong toàn ngành.
3.2. Thúc đẩy các phong trào thi đua góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Thi đua là động lực quan trọng trong quá trình phát triển giáo dục, góp phần khơi dậy tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo và lòng yêu nghề của đội ngũ nhà giáo. Công đoàn Giáo dục Việt Nam luôn xác định việc tổ chức và phát động các phong trào thi đua là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, nhằm đồng hành cùng ngành Giáo dục trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Tổ chức và lan tỏa các phong trào thi đua tiêu biểu trong ngành. Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo để phát động và tổ chức nhiều phong trào thi đua có ý nghĩa thiết thực, gắn với nhiệm vụ chính trị của ngành, như phong trào “Dạy tốt - Học tốt”: Phát động rộng khắp trong toàn ngành, tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển phẩm chất, năng lực người học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; phong trào “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”: Khuyến khích giáo viên và cán bộ quản lý sáng tạo trong nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; phát hiện, nhân rộng các mô hình hay, sáng kiến kinh nghiệm hiệu quả trong quản lý, giảng dạy và giáo dục học sinh; Cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”: Góp phần nâng cao đạo đức nghề nghiệp, ý thức tự học, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và sự mẫu mực của nhà giáo trong việc giáo dục học sinh cả về kiến thức và nhân cách; phong trào “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” trong đội ngũ nữ giáo viên: Khẳng định vai trò của nữ nhà giáo trong công việc chuyên môn và cuộc sống gia đình, góp phần tạo nên hình ảnh đẹp, giàu giá trị nhân văn của người thầy thời kỳ mới.
Tổ chức các hoạt động chuyên môn gắn với các phong trào thi đua yêu nước, nâng cao năng lực cho công đoàn viên. Tổ chức các hội giảng, hội thi giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi, thi thiết kế bài giảng E-learning, hội thảo chuyên môn… nhằm tạo điều kiện cho giáo viên thể hiện năng lực sư phạm, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau và hoàn thiện nghề nghiệp. Phối hợp phát hiện, tôn vinh các tấm gương nhà giáo tiêu biểu, các mô hình đổi mới sáng tạo trong dạy và học, từ đó tạo sức lan tỏa trong toàn ngành. Đẩy mạnh sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ trong giáo dục, góp phần hiện đại hóa hoạt động dạy học, từng bước chuyển đổi số giáo dục.
Công đoàn các cấp phối hợp với nhà trường và cơ quan chuyên môn tổ chức đánh giá kết quả các phong trào thi đua một cách công tâm, dân chủ, dựa trên tiêu chí cụ thể, minh bạch, nhằm tạo động lực thực chất cho giáo viên và tập thể nhà trường. Kịp thời khen thưởng, biểu dương các cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc, đồng thời nhân rộng điển hình tiên tiến qua các hội nghị, báo chí ngành, bản tin Công đoàn, mạng xã hội chuyên ngành giáo dục.
Góp phần xây dựng môi trường thi đua lành mạnh, thúc đẩy đổi mới giáo dục. Công đoàn không chỉ tổ chức thi đua mang tính hành chính, hình thức mà còn hướng đến thi đua đổi mới thực chất: Thi đua cải tiến quản lý, thi đua nâng cao chất lượng dạy học, thi đua giáo dục đạo đức học sinh,…Qua phong trào thi đua, giáo viên ngày càng chủ động hơn trong đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, tự học tập nâng cao trình độ, sẵn sàng chia sẻ, hợp tác vì sự tiến bộ chung.
3.3. Góp phần xây dựng môi trường giáo dục dân chủ, kỷ cương, nhân văn
Môi trường giáo dục là yếu tố then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học, sự phát triển toàn diện của học sinh và sự cống hiến của đội ngũ nhà giáo. Xây dựng một môi trường giáo dục dân chủ, kỷ cương, đoàn kết, thân thiện và nhân văn là yêu cầu quan trọng trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay. Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã và đang giữ vai trò tích cực, chủ động trong việc hiện thực hóa mục tiêu này tại các cơ sở giáo dục.
Tham gia xây dựng nền nếp, kỷ cương và đạo đức nghề nghiệp. Công đoàn phối hợp với lãnh đạo nhà trường xây dựng quy tắc ứng xử văn hóa trong nhà trường, giúp thiết lập những chuẩn mực ứng xử sư phạm giữa thầy và trò, giữa giáo viên với giáo viên, giữa nhà trường với phụ huynh và cộng đồng. Vận động cán bộ, giáo viên thực hiện tốt chuẩn mực đạo đức nhà giáo, nói không với tiêu cực trong thi cử, dạy thêm, học thêm không đúng quy định, không vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Tham gia giám sát việc thực hiện các nội quy, quy chế chuyên môn, đảm bảo công bằng, minh bạch trong phân công lao động, đánh giá thi đua, xét nâng lương, khen thưởng… tạo động lực cho giáo viên làm việc trong môi trường nghiêm túc và công bằng.
Xây dựng môi trường dân chủ trong hoạt động của nhà trường. Công đoàn là lực lượng nòng cốt trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, bảo đảm quyền được tham gia, được biết, được giám sát của giáo viên trong các hoạt động chung của nhà trường như: Xây dựng kế hoạch năm học, phân công chuyên môn, sử dụng ngân sách, khen thưởng, kỷ luật,…Tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức hàng năm một cách thực chất, dân chủ, tạo điều kiện để giáo viên trình bày ý kiến, đề xuất, kiến nghị với lãnh đạo nhà trường và Công đoàn cấp trên; Là cầu nối góp phần điều hòa mối quan hệ giữa giáo viên với Ban Giám hiệu, với phụ huynh và với học sinh, tạo bầu không khí làm việc tích cực, dân chủ, nhân ái trong cơ sở giáo dục.
Góp phần ngăn chặn và xử lý các hiện tượng tiêu cực, bạo lực học đường. Công đoàn phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, tư vấn tâm lý học đường, phòng chống bạo lực học đường, bạo lực trên mạng xã hội,… giúp xây dựng mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh. Tham gia hỗ trợ, tư vấn, can thiệp trong các trường hợp giáo viên bị xúc phạm, đe dọa hoặc bị hiểu lầm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và quản lý lớp học. Phối hợp tuyên truyền và hướng dẫn phụ huynh học sinh về vai trò đồng hành, phối hợp với nhà trường trong giáo dục con em, từ đó góp phần xây dựng môi trường giáo dục hài hòa, thân thiện.
Nuôi dưỡng văn hóa nhân văn trong đội ngũ nhà giáo. Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, lễ tri ân nhà giáo dịp 20/11, 8/3, tết cổ truyền dân tộc,… giúp giáo viên gắn bó, sẻ chia, tăng cường tinh thần đoàn kết, xây dựng tập thể nhà trường vững mạnh. Ghi nhận và lan tỏa các tấm gương thầy cô mẫu mực, có hoàn cảnh khó khăn nhưng tận tụy với nghề để lan tỏa những giá trị nhân văn cao đẹp trong ngành.
3.4. Tích cực tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về giáo dục.
Công đoàn Giáo dục Việt Nam không chỉ là tổ chức đại diện cho quyền lợi của đội ngũ nhà giáo, người lao động, mà còn là chủ thể chính trị - xã hội tích cực tham gia vào quá trình hoạch định, xây dựng và hoàn thiện các chính sách, pháp luật liên quan đến giáo dục. Đây là một vai trò ngày càng được đề cao trong bối cảnh đổi mới quản lý giáo dục theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch và phát huy trí tuệ tập thể.
Tham gia góp ý xây dựng luật, chính sách lớn của ngành. Công đoàn Giáo dục Việt Nam luôn chủ động, tích cực tham gia ý kiến đối với nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như: Luật Giáo dục (sửa đổi) năm 2019, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021 - 2030, Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 và gần đây là dự thảo Luật Nhà giáo.
Các ý kiến của Công đoàn ngành thể hiện rõ tiếng nói của người lao động trong giáo dục, tập trung vào các vấn đề thiết thực như: Chính sách tiền lương, phụ cấp thâm niên, định mức lao động, biên chế giáo viên, đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, bảo vệ danh dự, nhân phẩm nhà giáo… Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã tổ chức các hội thảo, diễn đàn tham vấn chính sách để lấy ý kiến giáo viên trên cả nước, làm cơ sở đề xuất kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chính phủ và Quốc hội.
Tham gia phản biện và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật. Công đoàn Giáo dục các cấp đã chủ động theo dõi, đánh giá thực thi chính sách giáo dục tại cơ sở, nhất là các vùng khó khăn, miền núi, hải đảo… để phát hiện bất cập, từ đó kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung. Thực hiện giám sát việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và chế độ cho giáo viên đúng quy định pháp luật, như: Chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, điều kiện làm việc, đánh giá viên chức, công tác thi đua, khen thưởng… Công đoàn Giáo dục Việt Nam lực lượng quan trọng trong việc bảo vệ tiếng nói phản ánh từ cơ sở, đảm bảo chính sách, pháp luật xuất phát từ thực tiễn và đi vào thực tiễn hiệu quả.
Góp phần thúc đẩy các chính sách đổi mới giáo dục có tính nhân văn, phù hợp thực tiễn. Công đoàn tham gia kiến nghị các chính sách hỗ trợ giáo viên vùng sâu, vùng xa; đề xuất điều chỉnh chuẩn nghề nghiệp phù hợp với thực tế công việc; góp phần xây dựng cơ chế khuyến khích đổi mới, sáng tạo trong dạy học. Góp phần thúc đẩy chính sách về giảm tải hành chính cho giáo viên, cải thiện môi trường làm việc, hướng đến bảo vệ sức khỏe thể chất, tinh thần của nhà giáo. Đề xuất các chính sách gắn kết giữa giáo dục - đào tạo với thị trường lao động, giữa trường học với gia đình- xã hội, tạo nên hệ sinh thái giáo dục bền vững.
Phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội khác để hoàn thiện thể chế giáo dục. Công đoàn Giáo dục Việt Nam thường xuyên phối hợp với Ủy ban Văn hóa - Giáo dục của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Hội nghề nghiệp (như Hội Cựu Giáo chức, Hội Khuyến học…), để tham vấn chính sách đa chiều, đảm bảo tính khách quan, khoa học và thực tiễn cao cho hệ thống pháp luật về giáo dục.
3.5. Tham gia phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Công đoàn phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm, kỹ năng mềm, tin học, ngoại ngữ cho đội ngũ nhà giáo. Động viên, tạo động lực để nhà giáo tự học, tự rèn luyện, sẵn sàng thích ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục, đặc biệt là chuyển đổi số.
4. Những kết quả nổi bật và thách thức hiện nay
4.1. Kết quả nổi bật
Trong quá trình phát triển của nền giáo dục cách mạng Việt Nam, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, thể hiện vai trò nòng cốt, đồng hành và thúc đẩy sự nghiệp giáo dục trên nhiều phương diện. Những kết quả nổi bật có thể khái quát như sau:
Bảo vệ vững chắc quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đội ngũ nhà giáo. Tham gia hiệu quả vào quá trình xây dựng, sửa đổi các văn bản pháp luật quan trọng như: Luật Giáo dục, Luật Công đoàn, chính sách tiền lương, phụ cấp thâm niên, chế độ chính sách vùng khó khăn… Hàng chục nghìn lượt giáo viên được hỗ trợ pháp lý, tư vấn về quyền lợi khi bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, vi phạm về chế độ chính sách; nhiều vụ việc được Công đoàn vào cuộc kịp thời, góp phần bảo vệ hình ảnh và uy tín nghề giáo.
Tổ chức thành công các phong trào thi đua sâu rộng và thiết thực. Phong trào “Dạy tốt - Học tốt”, “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” đã được triển khai sâu rộng ở tất cả các cấp học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới giáo dục. Hàng năm, hàng nghìn sáng kiến, mô hình hay của giáo viên được công nhận và nhân rộng, nhiều giáo viên đạt giải cao trong các hội thi cấp tỉnh, quốc gia.
Đẩy mạnh công tác chăm lo, hỗ trợ thiết thực cho nhà giáo. Các chương trình như “Tết sum vầy”, “Mái ấm Công đoàn”, “Chia sẻ cùng thầy cô”, “Tiếp sức nhà giáo vượt khó” đã hỗ trợ hàng chục nghìn lượt giáo viên có hoàn cảnh khó khăn, bệnh hiểm nghèo, tai nạn lao động… Công đoàn đã vận động hàng trăm tỷ đồng từ các nguồn lực xã hội để hỗ trợ xây dựng nhà ở, hỗ trợ học bổng cho con em giáo viên nghèo, trao tặng quà Tết cho nhà giáo vùng cao, vùng sâu.
Góp phần xây dựng môi trường giáo dục kỷ cương, dân chủ, nhân văn. Tổ chức Công đoàn là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, đảm bảo tiếng nói của giáo viên được lắng nghe trong hoạt động của nhà trường. Tham gia xây dựng văn hóa nhà trường, phòng chống bạo lực học đường, cải thiện quan hệ giáo viên - học sinh - phụ huynh, từng bước tạo dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện.
Nâng cao vị thế và tiếng nói của đội ngũ nhà giáo trong xã hội. Tổ chức các hoạt động tôn vinh nhà giáo tiêu biểu, nhân dịp ngày 20/11, tổ chức lễ tri ân nhà giáo đã nghỉ hưu, hội thảo truyền cảm hứng nghề nghiệp… đã góp phần lan tỏa hình ảnh người thầy tận tụy, mẫu mực, cống hiến cho sự nghiệp “trồng người”. Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã trở thành kênh tham vấn đáng tin cậy cho các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong xây dựng chính sách phát triển giáo dục.
4.2. Một số thách thức
Bên cạnh những kết quả nổi bật, Công đoàn Giáo dục Việt Nam vẫn đang đối diện với nhiều khó khăn, thách thức cả khách quan và chủ quan, tác động đến hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Có thể khái quát như sau:
Áp lực gia tăng từ yêu cầu đổi mới giáo dục. Công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đòi hỏi đội ngũ nhà giáo phải liên tục cập nhật tri thức mới, đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp công nghệ, xây dựng môi trường học tập lấy người học làm trung tâm. Điều này gây áp lực lớn cho giáo viên, nhất là ở cấp học phổ thông, giáo viên vùng khó khăn - nơi điều kiện hỗ trợ đổi mới còn hạn chế, trình độ công nghệ còn yếu, thiếu tài liệu bồi dưỡng. Công đoàn phải cùng lúc vừa chăm lo đời sống, vừa hỗ trợ chuyên môn, vừa bảo vệ tâm lý nghề nghiệp. Đây là những thử thách không nhỏ.
Tình trạng quá tải công việc và thu nhập chưa tương xứng. Thu nhập của đội ngũ nhà giáo, nhất là ở bậc mầm non, tiểu học, giáo viên hợp đồng, vẫn còn thấp, chưa tương xứng với công sức, trí tuệ và trách nhiệm nghề nghiệp. Công việc giảng dạy gắn với khối lượng lớn hồ sơ, sổ sách, công tác chủ nhiệm, phối hợp với phụ huynh, kiểm tra nội bộ…, khiến nhiều giáo viên rơi vào tình trạng quá tải, căng thẳng kéo dài. Đây là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến hiện tượng nhà giáo xin nghỉ việc, chuyển nghề, đã đặt ra thách thức cho Công đoàn trong việc động viên, chăm lo và giữ nguồn nhân lực của ngành.
Một bộ phận cán bộ Công đoàn cơ sở còn lúng túng, hình thức trong hoạt động. Cán bộ công đoàn ở nhiều trường học là kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng Công đoàn, dẫn đến hoạt động Công đoàn còn mang tính hành chính, phong trào, thiếu chiều sâu và sáng tạo. Công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của giáo viên chưa kịp thời; phản ánh từ cơ sở lên cấp trên còn chậm, làm giảm hiệu quả đại diện và bảo vệ quyền lợi đoàn viên. Việc ứng dụng công nghệ trong tổ chức hoạt động Công đoàn còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số hiện nay.
Tác động từ truyền thông và mạng xã hội. Sự lan truyền nhanh chóng của các thông tin tiêu cực, chưa kiểm chứng trên mạng xã hội có thể ảnh hưởng đến danh dự, hình ảnh, tâm lý của giáo viên và uy tín của tổ chức Công đoàn. Trong khi đó, Công đoàn nhiều nơi còn bị động, thiếu kỹ năng truyền thông, chưa có chiến lược xây dựng hình ảnh đội ngũ nhà giáo một cách chủ động, hiệu quả trong thời đại số.
Bối cảnh kinh tế - xã hội và dịch chuyển lao động. Tình trạng thiếu giáo viên ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo… khiến cho Công đoàn cơ sở vừa thiếu nhân lực, vừa bị áp lực hỗ trợ chuyên môn, đời sống quá lớn. Sự chuyển dịch lao động, thay đổi nghề nghiệp trong giới trẻ khiến Công đoàn giáo dục phải đối diện với yêu cầu tái định hình vai trò, phương thức hoạt động để phù hợp với thế hệ giáo viên mới, năng động, số hóa, nhưng cũng mong muốn quyền tự chủ cao hơn.
5. Một số giải pháp phát huy vai trò của Công đoàn Giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên mới
5.1. Nâng cao năng lực, bản lĩnh cho đội ngũ cán bộ Công đoàn các cấp
Cán bộ công đoàn là lực lượng trực tiếp tổ chức, điều phối và lan tỏa các hoạt động Công đoàn tại cơ sở. Vì vậy, việc nâng cao năng lực, phẩm chất và bản lĩnh cho đội ngũ cán bộ Công đoàn, đặc biệt là ở cấp trường học, là giải pháp có tính quyết định, bảo đảm cho các chức năng của Công đoàn được thực thi hiệu quả, thiết thực và gần gũi với đoàn viên.
Tăng cường bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên. Tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề, hội thảo chia sẻ kinh nghiệm về kỹ năng hoạt động Công đoàn, kỹ năng tham mưu, đối thoại, xử lý tình huống phát sinh trong môi trường giáo dục. Bồi dưỡng kỹ năng truyền thông nội bộ, kỹ năng vận động đoàn viên, tổ chức các phong trào thi đua, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho giáo viên. Tập huấn về pháp luật lao động, Luật Giáo dục, Luật Công đoàn, Luật Nhà giáo (sắp ban hành)… để cán bộ Công đoàn hiểu sâu, vận dụng đúng trong thực tiễn.
Chú trọng đào tạo đội ngũ kế cận có phẩm chất và tinh thần đổi mới. Xây dựng quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ Công đoàn trẻ, có năng lực chuyên môn, có kỹ năng mềm, tư duy số và tinh thần trách nhiệm với đoàn viên. Khuyến khích giáo viên trẻ tham gia hoạt động Công đoàn qua các mô hình câu lạc bộ, diễn đàn đổi mới sáng tạo, hoạt động xã hội từ thiện, tạo môi trường rèn luyện và thử thách cho đội ngũ kế cận.
Tăng cường bản lĩnh, trách nhiệm và vai trò đại diện của cán bộ Công đoàn. Phát huy vai trò là người đại diện dũng cảm, khách quan, trung thực và có chính kiến trong việc bảo vệ quyền lợi giáo viên, đặc biệt trong các vụ việc liên quan đến khiếu nại, xâm phạm danh dự, xử lý sai phạm chưa hợp lý. Nâng cao năng lực tham mưu, chủ động kiến nghị chính sách, đóng góp ý kiến xây dựng quy chế dân chủ, cải thiện môi trường làm việc cho đội ngũ nhà giáo.
Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động Công đoàn. Bồi dưỡng cán bộ Công đoàn kỹ năng sử dụng nền tảng số để tổ chức hội nghị, tập huấn trực tuyến, quản lý thông tin đoàn viên, xây dựng fanpage, cổng thông tin Công đoàn, kết nối và lan tỏa gương sáng nhà giáo qua mạng xã hội.
Tăng cường sử dụng các công cụ số để khảo sát, lấy ý kiến giáo viên, giám sát thực hiện chính sách, tổ chức các cuộc thi trực tuyến nhằm mở rộng phạm vi hoạt động và tiết kiệm chi phí.
Cơ chế đãi ngộ và hỗ trợ cán bộ Công đoàn cơ sở. Kiến nghị có cơ chế giảm định mức giảng dạy cho cán bộ Công đoàn kiêm nhiệm, bảo đảm thời gian và điều kiện để làm tốt công tác Công đoàn. Có chế độ khen thưởng xứng đáng, động viên kịp thời những cá nhân có đóng góp tích cực trong công tác Công đoàn ở cơ sở.
5.2. Đổi mới nội dung, hình thức hoạt động Công đoàn, gắn chặt với nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giáo dục
Trong bối cảnh toàn ngành đang thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, yêu cầu đặt ra là tổ chức Công đoàn phải không ngừng đổi mới cả về nội dung và hình thức hoạt động để thực sự trở thành “cầu nối”, “người đồng hành” và “người thúc đẩy” đổi mới giáo dục tại cơ sở. Việc đổi mới này cần gắn chặt với các nhiệm vụ trọng tâm của ngành và nhu cầu thực tiễn của đội ngũ nhà giáo.
Tập trung vào các vấn đề thiết thực, sát với đời sống giáo viên. Hoạt động Công đoàn cần chuyển mạnh từ phong trào hình thức sang giải quyết những vấn đề cụ thể: Quá tải công việc, thiếu thốn cơ sở vật chất, mâu thuẫn giáo viên và phụ huynh, áp lực từ thi đua - đánh giá…Tổ chức đối thoại, khảo sát nguyện vọng, điều tra tâm lý, đời sống để nắm bắt đúng và trúng mối quan tâm của đội ngũ, từ đó xây dựng kế hoạch hoạt động có chiều sâu, tránh dàn trải và hành chính hóa. Gắn hoạt động Công đoàn với đổi mới chuyên môn và nâng cao chất lượng giáo dục. Thiết kế các hoạt động Công đoàn gắn với nhiệm vụ chuyên môn trọng tâm của ngành, như: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, ứng dụng chuyển đổi số trong giảng dạy, xây dựng văn hóa học đường, giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh.
Tổ chức các hình thức như: “Câu lạc bộ đổi mới sáng tạo”, “Diễn đàn giáo viên trẻ”, “Hội thi giáo viên ứng dụng CNTT”, “Ngày hội đổi mới phương pháp”… để Công đoàn đồng hành cùng giáo viên trong đổi mới sư phạm.
Đổi mới hình thức hoạt động linh hoạt, hấp dẫn, gần gũi. Kết hợp hoạt động Công đoàn truyền thống với các hình thức hiện đại, sáng tạo, đa dạng: Trò chơi giáo dục, toạ đàm trực tuyến, podcast nghề giáo, talkshow chia sẻ kinh nghiệm,…Tổ chức các hoạt động gắn với chuyển đổi số, sử dụng mạng xã hội, nền tảng trực tuyến (Zoom, Google Meet, Zalo OA, Fanpage…) để kết nối, lan tỏa thông tin và huy động sự tham gia đông đảo, đặc biệt là giáo viên trẻ.
Tăng cường vai trò điều phối, kết nối giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường. Công đoàn làm tốt vai trò kết nối giữa nhà trường, giáo viên, phụ huynh, cộng đồng và doanh nghiệp trong thực hiện các chương trình giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, trải nghiệm sáng tạo, tư vấn hướng nghiệp. Phối hợp với các tổ chức xã hội, doanh nghiệp để tổ chức các hoạt động vì cộng đồng, chăm lo nhà giáo vùng khó khăn, xây dựng hình ảnh người giáo viên nhân văn, trách nhiệm, cống hiến.
Đo lường hiệu quả hoạt động Công đoàn theo kết quả thực chất. Chuyển đổi hệ thống đánh giá hoạt động Công đoàn theo hướng: Giảm báo cáo hình thức, tăng ghi nhận hiệu quả thực tế qua mức độ hài lòng của giáo viên, kết quả giải quyết kiến nghị, chỉ số môi trường làm việc, kết quả thi đua thực chất. Lấy giáo viên và học sinh làm trung tâm, xem mức độ hài lòng của họ là thước đo cho hiệu quả hoạt động Công đoàn.
5.3. Tăng cường tiếng nói của Công đoàn trong phản biện chính sách, kiến nghị về chế độ, chính sách cho giáo viên
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục mạnh mẽ, việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đối với đội ngũ nhà giáo là một yêu cầu cấp thiết. Để đảm bảo các chính sách đó sát thực tế, phù hợp với đặc thù nghề nghiệp và mang tính nhân văn, vai trò phản biện, tham vấn và kiến nghị của Công đoàn Giáo dục Việt Nam cần tiếp tục được nâng cao cả về vị thế và hiệu quả thực chất.
Khẳng định vai trò là tổ chức đại diện tiếng nói của giáo viên trong hoạch định chính sách. Công đoàn Giáo dục Việt Nam cần chủ động tham gia với tư cách là tổ chức phản biện xã hội có chính danh, đại diện cho tiếng nói tập thể của hàng triệu nhà giáo và người lao động ngành Giáo dục. Tham gia đóng góp ý kiến kịp thời, chất lượng trong quá trình xây dựng, sửa đổi các luật liên quan đến giáo dục như: Luật Giáo dục, Luật Nhà giáo (dự thảo), Luật Viên chức, Luật Công đoàn,…
Chủ động nghiên cứu, khảo sát thực tiễn để kiến nghị chính sách có cơ sở. Công đoàn các cấp cần tăng cường thực hiện các cuộc điều tra xã hội học, khảo sát diện rộng, đối thoại định kỳ với giáo viên để nắm bắt thực tiễn đời sống, nghề nghiệp, tâm tư, nguyện vọng từ cơ sở. Trên cơ sở đó, Công đoàn cần tổng hợp, phân tích và đưa ra các đề xuất chính sách có căn cứ khoa học và thực tiễn, đặc biệt về tiền lương và thu nhập, giảm áp lực hành chính, đào tạo, bồi dưỡng, tiêu chuẩn đánh giá nghề nghiệp, chế độ nhà giáo vùng đặc biệt khó khăn,…
Tăng cường phối hợp với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan liên quan trong xây dựng và thực hiện chính sách. Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, định kỳ với các cơ quan lập pháp và hành pháp như: Ủy ban Văn hóa - Giáo dục của Quốc hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính… trong tham vấn chính sách. Đề xuất xây dựng các cơ chế thử nghiệm chính sách (pilot) tại một số địa phương trước khi áp dụng đại trà, đặc biệt với những chính sách nhạy cảm như đánh giá giáo viên, tinh giản biên chế, thăng hạng chức danh nghề nghiệp.
Nâng cao năng lực phản biện cho cán bộ Công đoàn. Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ Công đoàn kỹ năng phân tích chính sách, viết báo cáo phản biện, đối thoại, làm việc với các cơ quan quyền lực nhà nước.
Tăng cường tham gia các diễn đàn chuyên môn, hội thảo khoa học về chính sách giáo dục để cập nhật tri thức, mở rộng quan hệ đối tác phản biện chính sách.
Truyền thông và lan tỏa tiếng nói của Công đoàn trên các nền tảng công khai. Phát huy vai trò các kênh truyền thông chính thống của Công đoàn ngành như: Website, bản tin Công đoàn, fanpage mạng xã hội, chuyên mục trên các báo giáo dục Công đoàn… để đưa tiếng nói của giáo viên đến công luận và cơ quan quản lý nhà nước. Chủ động cung cấp thông tin trung thực, khoa học và mang tính xây dựng về những khó khăn, bất cập trong chế độ chính sách hiện hành để định hướng dư luận và nâng cao hiệu quả phản biện xã hội.
5.4. Đẩy mạnh các hoạt động chăm lo thiết thực hơn cho người lao động ngành Giáo dục, nhất là giáo viên vùng khó khăn
Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ nhà giáo là chức năng cốt lõi và xuyên suốt của tổ chức Công đoàn. Trong bối cảnh thu nhập giáo viên còn thấp, áp lực nghề nghiệp lớn, nhiều giáo viên ở vùng sâu, vùng xa đang gặp khó khăn về điều kiện sống và làm việc. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả chăm lo bằng những việc làm cụ thể, thiết thực và bền vững là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho Công đoàn Giáo dục Việt Nam hiện nay.
Chủ động nắm bắt và phản ánh trung thực đời sống người lao động. Thiết lập các kênh thông tin linh hoạt, hiệu quả (trực tiếp, trực tuyến, mạng xã hội) để thu thập nhanh và chính xác tình hình đời sống, hoàn cảnh, nhu cầu hỗ trợ của giáo viên và người lao động. Định kỳ tổ chức các cuộc khảo sát, đối thoại, tọa đàm tại cơ sở nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp khó khăn đột xuất, bệnh hiểm nghèo, hoàn cảnh đặc biệt cần được giúp đỡ ưu tiên.
Phát huy và mở rộng các chương trình an sinh Công đoàn. Tiếp tục triển khai và mở rộng quy mô, phạm vi các chương trình có ý nghĩa như: “Mái ấm Công đoàn”, hỗ trợ xây, sửa nhà cho giáo viên nghèo; “Tết sum vầy”, trao quà Tết cho giáo viên có hoàn cảnh khó khăn; “Chia sẻ cùng thầy cô”, tôn vinh giáo viên vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; “Tiếp sức nhà giáo”, hỗ trợ giáo viên điều trị bệnh, gặp rủi ro nghề nghiệp… Tăng cường vận động xã hội hóa từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp để đa dạng hóa nguồn lực chăm lo, hướng đến mục tiêu: “Không để giáo viên nào bị bỏ lại phía sau”.
Hỗ trợ nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và điều kiện làm việc. Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, giao lưu, tham quan cho giáo viên, nhất là sau thời gian giảng dạy căng thẳng, tạo điều kiện nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng tích cực. Phối hợp với chuyên môn, chính quyền địa phương cải thiện môi trường làm việc tại các điểm trường khó khăn: Đầu tư nhà công vụ, Internet, thiết bị dạy học, nhà vệ sinh đạt chuẩn… Tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho giáo viên chịu áp lực kéo dài, có dấu hiệu suy giảm sức khỏe tinh thần hoặc bị ảnh hưởng bởi mâu thuẫn trong trường học.
Hỗ trợ giáo viên trẻ, giáo viên mới vào nghề và lao động hợp đồng. Xây dựng các chương trình riêng để đồng hành, hỗ trợ giáo viên trẻ, giáo viên hợp đồng, giáo viên mới vào nghề, giúp họ nhanh chóng thích nghi với môi trường làm việc, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và tinh thần gắn bó với nghề. Có chính sách kiến nghị ưu tiên các chế độ đào tạo, bồi dưỡng, thi nâng hạng, thi viên chức, quy hoạch phát triển nghề nghiệp cho lực lượng giáo viên này.
Chuyển từ hỗ trợ ngắn hạn sang chăm lo bền vững. Bên cạnh các hoạt động hỗ trợ tức thời, Công đoàn cần tham gia xây dựng các chính sách dài hạn như: Nhà ở công vụ ổn định, chính sách thu hút giáo viên về vùng khó khăn, hỗ trợ vay vốn ưu đãi, bảo hiểm bổ sung nghề nghiệp, xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển giáo viên sáng tạo.
5.5. Ứng dụng công nghệ số trong điều hành và tổ chức hoạt động Công đoàn, nâng cao hiệu quả tuyên truyền và kết nối đội ngũ nhà giáo
Công nghệ số đang thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức, điều hành và truyền thông của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Trong xu thế đó, Công đoàn Giáo dục Việt Nam cần tích cực ứng dụng chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường khả năng kết nối với đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu nhanh, hiệu quả, minh bạch và thân thiện với người lao động trong kỷ nguyên số.
Số hóa quy trình điều hành và quản lý Công đoàn các cấp. Đẩy mạnh ứng dụng các phần mềm quản lý đoàn viên Công đoàn, phần mềm điều hành tác nghiệp trực tuyến, hệ thống hội nghị không giấy tờ. Tăng cường tổ chức các cuộc họp, hội thảo, tập huấn nghiệp vụ Công đoàn qua các nền tảng số (Zoom, Google Meet, Microsoft Teams…), giúp tiết kiệm chi phí, mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả điều hành. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số ngành Giáo dục - Công đoàn thống nhất, cập nhật thường xuyên tình hình đoàn viên, cán bộ Công đoàn, hoạt động Công đoàn từ cơ sở.
Đổi mới hình thức tuyên truyền, lan tỏa thông tin bằng nền tảng số. Phát triển các kênh truyền thông số của Công đoàn Giáo dục Việt Nam Fanpage Facebook, Kênh YouTube, Zalo Official Account, Podcast Công đoàn giáo dục, Bản tin điện tử… Tổ chức các hình thức tuyên truyền sáng tạo Infographic, video ngắn (shorts, reels), bản tin số, clip tôn vinh nhà giáo tiêu biểu, livestream tư vấn chế độ chính sách… Đưa hoạt động tuyên truyền của Công đoàn đến với giáo viên trẻ, người lao động ở vùng sâu, vùng xa, giúp họ tiếp cận thông tin nhanh chóng, chính xác.
Tăng cường tương tác và kết nối đoàn viên Công đoàn qua nền tảng số. Xây dựng các nhóm tương tác (Zalo, Facebook, Telegram) theo trường, khối chuyên môn, khu vực địa lý… để trao đổi giữa Công đoàn với đoàn viên. Triển khai khảo sát trực tuyến, lấy ý kiến đoàn viên về các vấn đề nóng: Chính sách, điều kiện làm việc, cải tiến hoạt động Công đoàn, phong trào thi đua. Tổ chức các cuộc thi sáng tạo trực tuyến, diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp, tôn vinh gương điển hình qua nền tảng số nhằm lan tỏa năng lượng tích cực và tinh thần đổi mới trong đội ngũ nhà giáo.
Tăng cường bảo mật thông tin và năng lực số cho cán bộ Công đoàn. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng năng lực số, kỹ năng truyền thông số, kỹ năng tương tác mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ Công đoàn các cấp. Xây dựng quy chế sử dụng nền tảng số an toàn, có giải pháp bảo mật dữ liệu, phòng chống lộ lọt thông tin, xử lý các tình huống phát sinh trên môi trường mạng một cách chủ động và chuyên nghiệp.
Hướng tới hình thành “Công đoàn điện tử ngành Giáo dục”. Phấn đấu xây dựng mô hình “Công đoàn điện tử” cấp ngành để quản lý, điều hành, tương tác với đoàn viên thực hiện trên nền tảng số. Kết nối đồng bộ với chuyển đổi số của ngành Giáo dục, tạo ra một hệ sinh thái số tích hợp giữa Công đoàn - nhà trường - giáo viên - cơ quan quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả chăm lo và phát triển đội ngũ.
5.6. Công đoàn Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn cơ cấu lại
Trong thời gian tới, tổ chức Công đoàn ngành có thể sẽ không còn tồn tại độc lập theo ngành dọc như trước (ví dụ Công đoàn Giáo dục Việt Nam sẽ không còn là tổ chức Công đoàn ngành Trung ương như hiện nay), mà chuyển về thống nhất một cấp dưới Liên đoàn Lao động các tỉnh, thành phố theo tinh thần Nghị quyết 02-NQ/TW (2021) của Bộ Chính trị và lộ trình đổi mới tổ chức Công đoàn Việt Nam. Trong bối cảnh tái cơ cấu mô hình tổ chức Công đoàn, hoạt động Công đoàn trong lĩnh vực giáo dục, nhất ở các cơ sở giáo dục ngoài công lập, sẽ phải điều chỉnh và định hướng lại.
Tổ chức công đoàn chuyển từ ngành dọc sang theo địa bàn. Thay vì tổ chức Công đoàn ngành Giáo dục tồn tại độc lập ở cấp Trung ương hoặc tỉnh, thành, Công đoàn các trường học sẽ trực thuộc Liên đoàn Lao động cấp tỉnh (theo nơi cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn). Điều này yêu cầu các trường (nhất là ngoài công lập) phải chủ động tổ chức, đăng ký và duy trì Công đoàn cơ sở, trực thuộc hệ thống chung của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, chứ không còn “nằm trong” Công đoàn Giáo dục Việt Nam như trước.
Công đoàn Giáo dục phải thích nghi với mô hình “liên kết chuyên môn - hành chính” thay vì tổ chức ngành. Công đoàn sẽ không còn “ngành dọc” nên hoạt động chuyên đề riêng về giáo dục sẽ cần liên kết qua các Ban chuyên môn của Liên đoàn Lao động địa phương, hoặc hình thành mạng lưới Công đoàn cơ sở theo lĩnh vực giáo dục, liên kết với nhau theo kiểu “Câu lạc bộ Công đoàn Giáo dục ngoài công lập”, “Liên minh Công đoàn khối trường học”,… Vai trò điều phối, hướng dẫn chuyên môn Công đoàn trước đây do Công đoàn Giáo dục đảm nhiệm sẽ chuyển sang mô hình tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm ngang cấp, có thể thông qua các tổ chức xã hội nghề nghiệp như: Hội Cựu giáo chức, Hiệp hội các trường ngoài công lập,...
Đổi mới nội dung hoạt động Công đoàn theo hướng “thực chất - linh hoạt - gắn với nhu cầu”. Trong bối cảnh tổ chức rút gọn, Công đoàn giáo dục cần tập trung vào các hoạt động thực sự thiết thân bảo vệ quyền lợi người lao động (hợp đồng, lương, BHXH, điều kiện làm việc), hỗ trợ đời sống, phúc lợi, tâm lý nghề nghiệp, đồng hành phát triển nghề nghiệp, tạo môi trường đoàn kết trong nhà trường.
Đặc biệt ở trường ngoài công lập, Công đoàn phải là “người bạn” giữa người lao động với chủ sử dụng lao động, vừa đối thoại, vừa kiến nghị, vừa hòa giải, tạo dựng niềm tin và tránh xung đột.
Tăng cường ứng dụng công nghệ và hoạt động mạng lưới mềm. Khi tổ chức hành chính rút gọn, hoạt động Công đoàn sẽ cần linh hoạt hơn qua môi trường số: nhóm Zalo, fanpage Công đoàn, diễn đàn giáo viên cùng chuyên môn, tổ chức tọa đàm, tập huấn online, chia sẻ sáng kiến…Có thể hình thành mạng lưới Công đoàn viên ảo (e-union) gắn kết giáo viên trong cùng lĩnh vực, địa phương, hoặc chủ đề để trao đổi, hỗ trợ nhau dù không còn tổ chức ngành như trước.
Định vị lại vai trò Công đoàn trong môi trường cạnh tranh và xã hội hóa giáo dục. Trong môi trường giáo dục ngày càng cạnh tranh (đặc biệt là khu vực ngoài công lập), Công đoàn cần được nhìn nhận như một thiết chế hỗ trợ chuyên nghiệp cho giáo viên, chứ không chỉ là tổ chức phong trào. Điều này đồng nghĩa với việc phải nâng cao chất lượng cán bộ Công đoàn, biết pháp luật lao động, giáo dục, kỹ năng thương lượng, giải quyết tranh chấp lao động, quản lý nhân sự, những lĩnh vực thiết thực hơn với người lao động hiện nay.
Có thể gợi ý hướng đi cho Công đoàn Giáo dục trong giai đoạn tới: Liên kết mạng lưới giáo viên - Công đoàn viên theo khối chuyên môn và vùng địa lý. Tập trung sâu vào hỗ trợ pháp lý, bảo vệ quyền lợi và phát triển nghề nghiệp. Thúc đẩy chuyển đổi số và số hóa hoạt động Công đoàn. Gắn Công đoàn với đổi mới giáo dục và xây dựng văn hóa học đường nhân văn, dân chủ. Kiến nghị cơ chế đặc thù cho Công đoàn trong cơ sở giáo dục ngoài công lập (hiện đang thiếu cơ chế rõ ràng).
6. Kết luận
Trải qua 80 năm hình thành và phát triển cùng với nền giáo dục cách mạng Việt Nam, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh và khẳng định vai trò là tổ chức đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đội ngũ nhà giáo và người lao động trong ngành. Từ những năm tháng kháng chiến gian khổ đến thời kỳ đổi mới, hội nhập và chuyển đổi số hiện nay, tổ chức Công đoàn luôn sát cánh, đồng hành cùng ngành Giáo dục trong mọi hoàn cảnh, đóng góp tích cực vào sự nghiệp "trồng người" và phát triển đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, khi mô hình tổ chức Công đoàn đang có sự thay đổi theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, thì càng đòi hỏi Công đoàn các cấp, đặc biệt là Công đoàn trong các cơ sở giáo dục, phải đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Công đoàn; tăng cường tiếng nói phản biện chính sách; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chăm lo thiết thực hơn cho người lao động. Công đoàn cần chuyển mình trở thành tổ chức “chuyên nghiệp - hiệu quả - gần gũi - linh hoạt”, đáp ứng nhu cầu của đội ngũ nhà giáo trong kỷ nguyên mới.
Phát huy truyền thống 80 năm đồng hành cùng nền giáo dục cách mạng, Công đoàn Giáo dục Việt Nam tiếp tục khẳng định sứ mệnh là lực lượng nòng cốt trong xây dựng môi trường giáo dục dân chủ, nhân văn, sáng tạo; là cầu nối vững chắc giữa đội ngũ nhà giáo với Đảng, Nhà nước và xã hội; góp phần xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam phát triển toàn diện, bền vững, mang đậm bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế.
-------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể, ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT.
2. Công đoàn Giáo dục Việt Nam (2020), Báo cáo tổng kết hoạt động công đoàn nhiệm kỳ 2013 - 2018 và phương hướng nhiệm kỳ 2018 - 2023, Hà Nội.
3. Công đoàn Giáo dục Việt Nam (2023), Tài liệu tập huấn cán bộ Công đoàn cơ sở năm học 2023 - 2024, NXB Giáo dục Việt Nam.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới.
5. Trần Thị Hằng (2022), Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn trong các cơ sở giáo dục ngoài công lập, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 8 (10/2022).
6. Nguyễn Văn Hòa (2023), Vai trò của Công đoàn trong việc xây dựng môi trường giáo dục dân chủ và nhân văn, Tạp chí Giáo dục, số 538.
7. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, 10, 12, NXB Chính trị quốc gia.
8. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2019), Luật Giáo dục (sửa đổi), ban hành ngày 14/6/2019.2.
9. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2021), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị, Hà Nội.
10. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2012), Luật Công đoàn, ban hành 20/6/2012.
11. Báo Lao động, Báo Giáo dục & Thời đại, Tạp chí Tuyên giáo: Các bài viết về đổi mới hoạt động Công đoàn và các gương điển hình tiên tiến trong ngành giáo dục (giai đoạn 2018 - 2024).