VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “THỰC HÀNH SINH RA HIỂU BIẾT, HIỂU BIẾT TIẾN LÊN LÝ LUẬN, LÝ LUẬN LÃNH ĐẠO THỰC HÀNH” TRONG NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN GIÁO DỤC HIỆN NAY

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa thực hành, hiểu biết và lý luận là một giá trị phương pháp luận sâu sắc, có ý nghĩa định hướng cho hoạt động nghiên cứu và phát triển lý luận trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục. Bài báo này phân tích nội hàm tư tưởng “Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời vận dụng tư tưởng ấy vào việc nghiên cứu, phát triển lý luận giáo dục trong kỷ nguyên số và hộ
07:20 | 21/02/2026

PGS.TS Trần Đình Tuấn -

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Email: [email protected]

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa thực hành, hiểu biết và lý luận là một giá trị phương pháp luận sâu sắc, có ý nghĩa định hướng cho hoạt động nghiên cứu và phát triển lý luận trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục. Bài báo này phân tích nội hàm tư tưởng “Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời vận dụng tư tưởng ấy vào việc nghiên cứu, phát triển lý luận giáo dục trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế hiện nay. Tác giả đề xuất một số định hướng vận dụng cụ thể nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận giáo dục Việt Nam, bảo đảm tính khoa học, thực tiễn và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; lý luận giáo dục; thực hành – lý luận; đổi mới giáo dục; kỷ nguyên số.

1. Mở đầu

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít giữa thực tiễn – hiểu biết – lý luận. Theo Người, thực tiễn là cơ sở của hiểu biết, là điểm xuất phát và cũng là nơi kiểm nghiệm chân lý của lý luận. Người khẳng định: “Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành”[3, tr.120-130]. Đây là một luận điểm cốt lõi, thể hiện thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin được Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số trong giáo dục, việc vận dụng tư tưởng này để phát triển lý luận giáo dục trở nên đặc biệt cấp thiết. Nghiên cứu lý luận không chỉ là hệ thống hóa tri thức mà còn phải xuất phát từ thực tiễn giáo dục Việt Nam, từ đó đề xuất các mô hình, phương pháp và giải pháp có giá trị thực hành.

2. Nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa thực hành, hiểu biết và lý luận

Khi bàn về quá trình nhận thức chân lý, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: "Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành". Điều đó có nghĩa thực hành là một giai đoạn của quá trình nhận thức chân lý. Đó là giai đoạn kết thúc của một quá trình nhận thức này đồng thời cũng là giai đoạn mở đầu cho một quá trình nhận thức tiếp theo. Thực hành là cầu nối giữa quá trình nhận thức này với quá trình nhận thức kia, làm cho hoạt động nhận thức trở thành vô cùng vô tận.

Theo Hồ Chí Minh, con người chỉ có thể nhận thức đúng đắn thông qua quá trình hoạt động thực tiễn. Thực hành sinh ra hiểu biết – nghĩa là thông qua trải nghiệm, lao động, học tập, con người tích lũy tri thức. Hiểu biết tiến lên lý luận – tri thức được khái quát, hệ thống hóa thành tư tưởng, quan điểm, học thuyết. Và lý luận lãnh đạo thực hành – tức là lý luận đúng đắn sẽ soi đường, định hướng cho hành động, giúp thực tiễn đạt hiệu quả cao hơn. Người phê phán hai khuynh hướng lệch lạc: “duy lý luận” (xa rời thực tế) và “duy kinh nghiệm” (thiếu cơ sở khoa học). Người yêu cầu cán bộ, trí thức, nhà khoa học phải “học đi đôi với hành”, “lý luận phải gắn liền với thực tế cách mạng Việt Nam”.

Tư tưởng này mang giá trị phương pháp luận phổ quát cho mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục – nơi lý luận và thực tiễn luôn tương tác, chuyển hóa lẫn nhau. Hồ Chí Minh đã chỉ ra quy luật nhận thức chung của loài người và cũng là quy luật nhận thức của người học phải trải qua các bước cơ bản như sau:

2.1. Thực hành sinh ra hiểu biết

Theo quy luật nhận thức mà V.I.Lênin đã khái quát thì đây là giai đoạn nhận thức trực quan sinh động. Tâm lý học gọi đây là giai đoạn nhận thức cảm tính. Thực hành trong giai đoạn này là mở đầu của một quá trình nhận thức, thực hành khám phá kiến thức lý thuyết mới. Người học phải thực hành trên đối tượng trong điều kiện chưa nắm được kiến thức lý thuyết hoặc đã nắm được nhưng chưa đầy đủ, chưa chọn vẹn. Tuy nhiên, thực hành của người học luôn có sự hướng dẫn của người dạy. Người dạy phải thiết kế những bài tập thực hành cho người học trực tiếp tiếp xúc với đối tượng, thao tác trên đối tượng, thông qua đó mà khám phá đối tượng, hình thành những kiến thức hiểu biết ban đầu về đối tượng. Đó là kiến thức còn mang tính kinh nghiệm, được hình thành trong thực tiễn, người học chưa hiểu rõ cơ sở lý thuyết của hoạt động thực hành.

Những bài tập này được người dạy xây dựng theo một chủ đề nhất định ẩn chứa trong đó những kiến thức lý thuyết khoa học của môn học đã được loài người khám phá ra nhưng người học chưa biết. Tuy nhiên, những bài tập thực hành đó phải được xây dựng theo lôgíc dạy học, sao cho sau khi giải các bài tập này người học sẽ lĩnh hội được những kiến thức lý thuyết mới và thông qua các thao tác tư duy để phát triển thành kiến thức lý luận. Về bản chất, thực hành của người học trong trường hợp này vẫn có sự chỉ đạo của kiến thức lý thuyết nhưng là "kiến thức ẩn", kiến thức của người dạy.

2.2. Hiểu biết tiến lên lý luận

Đây là một giai đoạn của quá trình nhận thức diễn ra trong tư duy. Theo lý thuyết hoạt động, thực hành có mối quan hệ nhân quả với tư duy, thực hành là hoạt động bên ngoài, tư duy là hoạt động bên trong. Thực hành vừa là quá trình chuyển ra ngoài của hoạt động bên trong vừa là quá trình chuyển vào trong của hoạt động bên ngoài. Bởi vì, trước khi thực hành làm một cái gì đó, người ta đã hình dung ra nó và cách thức làm ra nó trong tư duy. Đồng thời trong quá trình thực hành người ta lại rút ra được những kinh nghiệm thực tiễn bổ sung cho sự hiểu biết của mình. Và từ hiểu biết kinh nghiệm cảm tính đó, thông qua các thao tác tư duy mà chuyển hoá, khái quát hoá thành lý luận và lý luận lại tiếp tục chỉ đạo thực hành.

Thực tế dạy học cho thấy, phần đông học viên thường hay gặp khó khăn khi chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính. Quá trình chuyển hóa những kiến thức hiểu biết mang tính kinh nghiệm sang kiến thức hiểu biết lý luận về đối tượng là những nấc thang trong nhận thức chân lý. Tùy theo năng lực, tính tích cực của người học mà họ có thể vượt qua các nấc thang đó đến mức độ cao hay thấp khác nhau.

Để hiểu biết tiến lên lý luận, tức là chuyển từ trình độ nhận thức này sang trình độ nhận thức khác cao hơn đòi hỏi quá trình dạy học phải rèn luyện cho người học phương pháp thao tác tư duy. Dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực không lấy việc trang bị kiến thức lý thuyết cho người học làm mục đích chủ yếu, mà đó chỉ là giai đoạn không thể thiếu để hình thành cho họ phương pháp tư duy sáng tạo.

2.3. Lý luận lãnh đạo thực hành

Đây là giai đoạn trở về thực tiễn của lý luận. Thực hành trong giai đoạn kết thúc của một quá trình nhận thức, thực hành vận dụng, kiểm nghiệm kiến thức lý thuyết đã học. Thông qua các hình thức tổ chức dạy học, người học sẽ lĩnh hội được những kiến thức lý thuyết của môn học. Những kiến thức này mặc dù có nguồn gốc từ thực hành nhưng đối với người học còn nhiều nội dung vẫn mang đậm tính lý thuyết, chưa có kinh nghiệm thực tiễn, chưa được thực hành.

Để ứng dụng được những kiến thức đó vào thực tiễn, người học phải trãi qua quá trình tập luyện thông qua các bài tập thực hành. Những bài tập thực hành này vừa có tác dụng củng cố, mở rộng và kiểm nghiệm kiến thức lý thuyết đã học vừa có ý nghĩa rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành cho người học. Trong quá trình thực hành bắt buộc người học phải sử dụng các kiến thức lý thuyết đã học. Nghĩa là, kiến thức đó có chức năng hướng dẫn cho người học thực hiện các bài tập thực hành. Dạng bài tập thực hành này sẽ giúp cho người học chuyển hoá những kiến thức lý thuyết tiếp nhận được từ các nguồn tài liệu, sách vở thành "kiến thức sống" của chính họ. Tuy nhiên, dạng bài tập này cũng giúp người học mở rộng kiến thức lý thuyết đã học ở chừng mực nhất định. Trong quá trình thực hành mỗi cá nhân học viên sẽ tích luỹ được những kiến thức kinh nghiệm ở mức độ khác nhau. Điều này làm cho năng lực thực hành của mỗi người không ngang bằng nhau.

Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành là giai đoạn khởi điểm và cũng là giai đoạn kết thức của một quá trình nhận thức chân lý. Vì vậy, các nhà trường phải coi trọng dạy học thực hành, lấy dạy học thực hành làm cốt.

3. Ý nghĩa và nguyên tắc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu lý luận giáo dục ở Việt Nam hiện nay

3.1. Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với nghiên cứu và phát triển lý luận giáo dục hiện nay

Trong thời đại mới, giáo dục Việt Nam đang chuyển từ nền giáo dục truyền thụ tri thức sang nền giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực người học. Điều này đòi hỏi lý luận giáo dục phải được đổi mới trên cơ sở thực tiễn.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh giúp giới nghiên cứu và nhà quản lý giáo dục xác định đúng hướng nghiên cứu. Mọi lý luận phải bắt nguồn từ yêu cầu của thực tiễn giáo dục Việt Nam – những vấn đề nóng bỏng như chuyển đổi số, giáo dục nhân cách, giáo dục khai phóng, bình đẳng trong học tập.

Phát triển lý luận mang tính Việt Nam. Từ kinh nghiệm giáo dục của đất nước, hình thành các mô hình, khái niệm, phương pháp phù hợp với truyền thống, văn hóa và con người Việt Nam. Đảm bảo tính phản biện và sáng tạo. Lý luận không chỉ mô tả mà còn phải dự báo, định hướng và cải biến thực tiễn.

3.2. Nguyên tắc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu lý luận giáo dục ở Việt Nam hiện nay

Để cụ thể hóa tư tưởng “thực hành – hiểu biết – lý luận – thực hành”, cần chú trọng các yêu cầu mang tính nguyên tắc như sau:

(1) Xuất phát từ thực tiễn giáo dục Việt Nam.

Mọi hoạt động đổi mới giáo dục phải xuất phát từ thực tiễn, hướng vào giải quyết thực tiễn giáo dục Việt Nam. Mọi nền giáo dục muốn phát triển đến đỉnh cao đều phải đứng vững trên cơ sở văn hóa và triết lý giáo dục của quốc gia, dân tộc đó. Tiến hành khảo sát, phân tích dữ liệu từ thực tiễn dạy – học, quản lý, chính sách giáo dục. Đưa kết quả nghiên cứu vào việc điều chỉnh chương trình, phương pháp, kiểm định và đánh giá chất lượng.

(2) Hình thành hiểu biết khoa học thông qua tổng kết thực tiễn.

Trải nghiệm thực tiễn của cá nhân giúp cho việc hình thành kiến thức kinh nghiệm cá nhân, đó là yếu tố rất quan trọng nhưng chưa đầy đủ. Kiến thức kinh nghiệm thực tiễn của mỗi cá nhân phải được kết hợp với kiến thức kinh nghiệm thực tiễn của các tổ chức và cá nhân khác. Vì vậy, trong nghiên cứu khoa học giáo dục cần phải tổng kết kinh nghiệm giáo dục trong nước và quốc tế, rút ra quy luật phát triển. Xây dựng các luận điểm, khái niệm mới phản ánh bản chất và xu hướng của giáo dục Việt Nam trong thời đại số.

(3) Phát triển lý luận mang tính định hướng thực tiễn.

Giáo dục là một lĩnh vực khoa học có tính lịch sử - thực tiễn. Mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước có những yêu cầu cụ thể khác nhau về mục tiêu, mô hình đào tạo. Xây dựng hệ thống lý luận giáo dục Việt Nam hiện đại, kết hợp giữa tư tưởng Hồ Chí Minh, triết lý giáo dục Việt Nam và tinh hoa nhân loại. Gắn nghiên cứu lý luận với hoạch định chính sách, đào tạo giáo viên, phát triển chương trình và chuyển đổi số.

(4) Lý luận lãnh đạo thực hành.

Lý luận mà không thực hành là lý luận suông; thực hành mà không có lý luận là thực hành mù quáng. Lý luận gắn với thực hành, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là nói đi đôi với làm, lấy kết quả công việc làm thức đo cho sự phát triển lý luận. Trong đổi mới, phát triển lý luận giáo dục cân d phải ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản lý và giảng dạy. Kiểm chứng, điều chỉnh lý luận thông qua các mô hình thử nghiệm, thí điểm và đánh giá tác động thực tế.

4. Giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu, phát triển lý luận giáo dục Việt Nam kỷ nguyên mới.

4.1. Xây dựng đội ngũ nghiên cứu lý luận giáo dục gắn với thực tiễn

Đây là giải pháp nền tảng quyết định chất lượng nghiên cứu và phát triển lý luận giáo dục. Một đội ngũ vừa vững lý luận, vừa am hiểu thực tiễn mới có thể biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động khoa học cụ thể.

Quảng cáo

Mục tiêu của giải pháp này nhằm hình thành đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng viên, quản lý giáo dục có năng lực tư duy lý luận, tư duy phản biện và khả năng vận dụng thực tiễn sáng tạo, đáp ứng yêu cầu hội nhập và chuyển đổi số trong giáo dục.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này bao gồm: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu lý luận, kỹ năng phương pháp luận khoa học cho giảng viên, nhà quản lý. Kết hợp lý luận – thực tiễn thông qua các đề tài, dự án gắn với cơ sở giáo dục. Phát triển mạng lưới các nhà khoa học, nhà thực tiễn trong nước và quốc tế.

Thực hiện giải pháp này có thể gặp những khó khăn: Thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi cả lý luận và thực tiễn. Cơ chế đãi ngộ và động lực nghiên cứu còn hạn chế. Sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu – quản lý – thực hành chưa đồng bộ. Chênh lệch trình độ giữa vùng miền ảnh hưởng đến tính phổ quát của nghiên cứu

Cách thức tổ chức thực hiện: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các viện, trường đại học tổ chức chương trình bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp luận Hồ Chí Minh. Khuyến khích cơ chế “liên kết nghiên cứu – thực hành – chính sách”, gắn nghiên cứu lý luận với giải quyết vấn đề thực tế trong nhà trường. Hỗ trợ kinh phí, quỹ nghiên cứu và tạo điều kiện công bố quốc tế.

4.2. Đổi mới phương pháp nghiên cứu lý luận giáo dục trong thời đại số

Phương pháp là công cụ quyết định để lý luận tiến lên trình độ khoa học hiện đại, khắc phục tình trạng kinh nghiệm chủ nghĩa hoặc giáo điều. Mục tiêu của giải pháp này nhằm tăng cường tính khoa học, khách quan, minh chứng và dự báo trong nghiên cứu lý luận giáo dục; tận dụng thành tựu của khoa học công nghệ để đổi mới cách tiếp cận.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này bao gồm: Áp dụng các phương pháp liên ngành, xuyên ngành (giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, công nghệ học...). Sử dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích, dự báo xu hướng giáo dục. Kết hợp nghiên cứu định tính (phân tích hiện tượng, giá trị, mô hình) với định lượng (thống kê, kiểm định, mô phỏng).

Thực hiện giải pháp này có thể gặp những khó khăn: Hạn chế về hạ tầng số, thiết bị và nguồn dữ liệu chuẩn hóa. Thiếu nhân lực nghiên cứu có năng lực công nghệ và phân tích dữ liệu. Tư duy nghiên cứu cũ, ngại thay đổi phương pháp. Kinh phí đầu tư cho nghiên cứu công nghệ còn thấp so với yêu cầu.

Cách thức tổ chức thực hiện: Thành lập các trung tâm nghiên cứu đổi mới phương pháp lý luận giáo dục trong các trường sư phạm và viện nghiên cứu. Đào tạo chuyên gia phương pháp luận hiện đại, có khả năng sử dụng công nghệ số trong nghiên cứu. Xây dựng kho dữ liệu mở phục vụ cho nghiên cứu và ứng dụng lý luận giáo dục Việt Nam.

4.3. Tăng cường chuyển hóa từ thực hành đến lý luận và từ lý luận đến thực hành

Đây là cầu nối biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, thể hiện trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh “lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và phục vụ thực tiễn”. Mục tiêu của giải pháp này nhằm đảm bảo mọi lý luận giáo dục được hình thành từ thực tiễn giáo dục Việt Nam và ngược lại, mọi đổi mới giáo dục đều có cơ sở lý luận vững chắc.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này bao gồm: Thiết lập quy trình “nghiên cứu – thực nghiệm – tổng kết – lý luận hóa”. Đưa kết quả nghiên cứu vào thực hành giáo dục, quản lý nhà trường, xây dựng chính sách. Tổ chức hội thảo, diễn đàn để kiểm chứng, phản biện và điều chỉnh lý luận qua thực tiễn.

Thực hiện giải pháp này có thể gặp những khó khăn: Khoảng cách giữa nghiên cứu và thực hành còn xa. Kết quả nghiên cứu chưa được áp dụng vào thực tế quản lý và giảng dạy. Thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả phản hồi lý luận – thực hành. Nhiều mô hình thử nghiệm còn mang tính hình thức, thiếu theo dõi dài hạn.

Cách thức tổ chức thực hiện: Mỗi cơ sở giáo dục cần có bộ phận “nghiên cứu – phát triển” để liên kết nghiên cứu với hoạt động dạy – học. Xây dựng các mô hình thí điểm đổi mới giáo dục dựa trên lý luận khoa học, có đánh giá và tổng kết. Thực hiện cơ chế phản hồi hai chiều giữa nhà nghiên cứu – nhà quản lý – giáo viên – học sinh.

4.4. Phát huy tinh thần học tập và sáng tạo Hồ Chí Minh trong nghiên cứu lý luận

Tinh thần tự học, cầu tiến, sáng tạo của Hồ Chí Minh là cội nguồn phát triển lý luận mang bản sắc Việt Nam, vừa khoa học, vừa nhân văn. Mục tiêu của giải pháp này nhằm hình thành văn hóa nghiên cứu lý luận giáo dục giàu tính nhân văn, sáng tạo, khiêm tốn học hỏi, tôn trọng thực tiễn và con người.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này bao gồm: Đưa tư tưởng, phong cách học tập Hồ Chí Minh vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học. Khuyến khích tinh thần tự nghiên cứu, tự học suốt đời, chia sẻ tri thức trong cộng đồng học thuật. Xây dựng môi trường nghiên cứu minh bạch, tôn trọng giá trị chân lý và sáng tạo cá nhân.

Thực hiện giải pháp này có thể gặp những khó khăn: Nhận thức về học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu khoa học còn hình thức. Chưa có cơ chế khuyến khích, đánh giá cụ thể về “đạo đức học thuật”. Một bộ phận cán bộ, giảng viên chưa thực sự gương mẫu trong học tập và nghiên cứu.

Cách thức tổ chức thực hiện: Các trường đại học, viện nghiên cứu tổ chức sinh hoạt chuyên đề về “Học tập Hồ Chí Minh trong nghiên cứu khoa học”. Xây dựng tủ sách, cơ sở dữ liệu số về tư tưởng Hồ Chí Minh trong khoa học giáo dục. Tổ chức các giải thưởng “Nghiên cứu trẻ theo tinh thần Hồ Chí Minh” nhằm khích lệ đổi mới và sáng tạo.

4.5. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hiện quan điểm “nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều” theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đây là thước đo phẩm chất, đạo đức và hiệu quả của hoạt động nghiên cứu, quản lý và thực tiễn giáo dục; đồng thời cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lời nói và hành động. Mục tiêu của giải pháp này nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhà nghiên cứu có phong cách làm việc thực chất, nói đúng – làm đúng – làm hiệu quả; góp phần hiện thực hóa tinh thần “nói ít làm nhiều, hành động vì kết quả” trong toàn ngành giáo dục.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này bao gồm: Thấm nhuần quan điểm Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Xây dựng chuẩn mực hành động, trách nhiệm nêu gương và cơ chế kiểm chứng kết quả công việc của cán bộ, giảng viên, nhà quản lý. Lồng ghép tinh thần “nói đi đôi với làm” trong quy trình nghiên cứu, giảng dạy, quản lý và ban hành chính sách giáo dục.

Thực hiện giải pháp này có thể gặp những khó khăn: Một số nơi còn tồn tại tư duy hình thức, bệnh thành tích. Thiếu cơ chế giám sát, đánh giá thực chất hành động của cán bộ. Ngại thay đổi, sợ trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Thiếu gương điển hình đủ sức lan tỏa, tạo niềm tin cho đội ngũ.

Cách thức tổ chức thực hiện: Các cơ sở giáo dục và viện nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả công việc theo hướng “hiệu quả – thực chất – lan tỏa”. Gắn phong trào thi đua “nói đi đôi với làm” với các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Đưa tiêu chí “nói ít làm nhiều” vào đánh giá cán bộ, viên chức, đặc biệt trong nghiên cứu lý luận, giảng dạy và quản lý. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, biểu dương các điển hình “học tập và làm theo Bác” có kết quả thực chất.

5. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa thực hành – hiểu biết – lý luận – thực hành là một trong những giá trị cốt lõi của phương pháp luận cách mạng, thể hiện tư duy sâu sắc, sáng tạo và nhân văn của Người về quá trình nhận thức và hành động của con người. Đó không chỉ là quy luật phát triển của khoa học nói chung mà còn là nền tảng phương pháp luận quan trọng trong khoa học giáo dục nói riêng.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới – thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, chuyển đổi số toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu, phát triển lý luận giáo dục trở thành một yêu cầu khách quan và cấp thiết. Nó không chỉ giúp lý luận giáo dục Việt Nam thấm đượm tinh thần dân tộc, bám sát thực tiễn mà còn giúp khắc phục những biểu hiện giáo điều, hình thức, tách rời thực tiễn trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và quản lý giáo dục hiện nay.

Trên cơ sở nghiên cứu, bài báo đã xác định và phân tích năm giải pháp chủ yếu nhằm hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển lý luận giáo dục trong kỷ nguyên mới. Những giải pháp này không chỉ có ý nghĩa định hướng mà còn mang tính hành động, thể hiện sự kết hợp giữa tư duy lý luận và giải pháp thực tiễn theo đúng tinh thần Hồ Chí Minh: “Lý luận mà không gắn với thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn mà không có lý luận soi đường là thực tiễn mù quáng.”

Tuy nhiên, việc triển khai các giải pháp ấy cũng đối mặt với nhiều khó khăn: từ hạn chế về đội ngũ nghiên cứu, cơ sở hạ tầng công nghệ, cơ chế phối hợp giữa lý luận và thực tiễn, đến tư duy nghiên cứu còn nặng tính kinh nghiệm hoặc hình thức. Đây là những rào cản cần được nhìn nhận nghiêm túc để có lộ trình khắc phục hiệu quả.

Để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh một cách thiết thực trong phát triển lý luận giáo dục, cần thực hiện đồng bộ một số định hướng mang tính chiến lược sau: Xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu lý luận giáo dục quốc gia, liên kết viện – trường – địa phương – doanh nghiệp – quốc tế. Thể chế hóa các chuẩn mực đạo đức, phương pháp và sản phẩm nghiên cứu theo tinh thần “thực chất – sáng tạo – hiệu quả”. Đưa nội dung học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giảng viên và nghiên cứu sinh ngành giáo dục. Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các cơ sở giáo dục, đặc biệt chú trọng phương châm “nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều”.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là kim chỉ nam cho hoạt động lý luận – thực tiễn trong giáo dục mà còn là động lực tinh thần thúc đẩy toàn ngành giáo dục phát triển theo hướng nhân văn, hiện đại, hội nhập và bền vững. Việc tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa và thực hành tư tưởng ấy trong bối cảnh mới chính là con đường thiết thực để phát triển nền giáo dục Việt Nam thực sự vì con người, do con người và cho con người, góp phần xây dựng một xã hội học tập, sáng tạo và văn minh trong thế kỷ XXI.

Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW. Hà Nội, ngày 22/12/2024

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025

[3]. Hồ Chí Minh (1951), “Thực hành sinh ra hiểu biết; Hiểu biết tiến lên lý luận; Lý luận lãnh đạo thực hành”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011, tr.120-130

[4]. Hồ Chí Minh (10/1964), “Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 14, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011, tr.400- 404

[5]. Trần Đình Tuấn (2012), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội

APPLYING HO CHI MINH’S THOUGHT ON “PRACTICE PRODUCES UNDERSTANDING, UNDERSTANDING ADVANCES TO THEORY, AND THEORY GUIDES PRACTICE” IN THE RESEARCH AND DEVELOPMENT OF EDUCATIONAL THEORY IN THE NEW ERA

Assoc. Prof. Dr. Tran Dinh Tuan
Institute for Research on Educational Cooperation and Development
Email: [email protected]

Abstract: Ho Chi Minh’s thought on the dialectical relationship between practice, understanding, and theory represents a profound methodological value, serving as an essential orientation for research and theoretical development in all fields, especially in education. This article analyzes the core content of President Ho Chi Minh’s idea that “Practice produces understanding, understanding advances to theory, and theory guides practice,” while applying this philosophical framework to the research and development of educational theory in the digital era and the context of international integration. The author proposes several specific orientations for applying this thought to enhance the quality of educational theory research in Vietnam, ensuring scientific rigor, practical relevance, and creativity in response to the demands of fundamental and comprehensive educational reform.

Keywords: Ho Chi Minh’s thought; educational theory; practice and theory; educational reform; digital era.