Đại tá, PGS. TS. NGƯT Nguyễn Xuân Tú -
Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự
Tóm tắt: Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình (nay là Quảng trường Ba Đình - Hà Nội) là một áng văn lập quốc vĩ đại, tuyên ngôn trước toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam mới - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc. Đồng thời, thể hiện rõ thiện chí hòa bình và quyết tâm sắt đá của nhân dân ta quyết bảo vệ nền độc lập mới giành lại được sau hơn 80 năm phải sống dưới ách cai trị của thực dân Pháp và phát-xít Nhật.
Từ khóa: Tuyên ngôn độc lập, Văn kiện lịch sử đặc biệt, Văn kiện chính trị - pháp lý.
Nhận bài: 25/8/2025; Biên tập: 31/8’2025; Duyệt đăng: 1/9/2025
1. Mở đầu
Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm thể hiện sự kết tinh cao độ về tư tưởng, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là văn kiện không chỉ có giá trị to lớn về nhiều lĩnh vực như chính trị, pháp lý, ngoại giao, tư tưởng, văn hóa..., mà còn hội tụ và tỏa sáng hào khí mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là dấu mốc đặt nền tảng cho một trật tự pháp lý hiện đại trong thế kỷ XX. Đặc biệt, Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là văn kiện lịch sử và có vị trí là văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập có giá trị pháp lý vô cùng to lớn: Khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; khẳng định nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người chủ một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình; nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ, dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Đông Dương.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cách mạng thảng Tám thắng lợi và sự ra đời của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945
Ngày 1/9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến nước ta, Ở Đông Dương, thực dân Pháp điên cuồng tiến công Đảng Cộng sản Đông Dương và các đoàn thể quần chúng do Đảng lãnh đạo. Các quyền tự do, dân chủ bị thủ tiêu, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt giam, tù đày. Chúng tăng thuế, trưng thu, trưng dụng các xí nghiệp tư nhân cho quốc phòng phục vụ chiến tranh, kiểm soát trực tiếp gắt gao sản xuất và phân phối, xuất khẩu và nhập khẩu.
Chiến tranh thế giới hết sức tàn khốc như Đảng ta nhận định “Thế giới sẽ là cái lò sát sinh lớn! Nhân loại sẽ phải chịu một số kiếp vô cùng thê thảm” [1, tr.512]. Nhưng tiền đồ cách mạng thế giới sẽ rất sáng sủa. “Dân các nước tư bản đòi giải phóng. Dân tộc các thuộc địa đòi độc lập... Một thế giới quang minh rực rỡ sẽ thay thế cho cái thế giới tối tăm mục nát này” [1, tr.516]. Đồng thời, Đảng còn dự báo: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công” [2, tr.99-100]. Trên cơ sở nhận định về tình hình thế giới và tình hình trong nước, Trung ương Đảng đã chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”.
Sau những bước phát triển rất nhanh chóng, vào cuối năm 1944, đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ở Đông Dương, trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình, đúng như Đảng ta đã dự đoán từ lâu, tình trạng tạm thời hòa hoãn giữa hai tên phát-xít Nhật - Pháp chấm dứt, mâu thuẫn giữa chúng đã lên tới đỉnh cao giống như “cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ”. Để đập tan âm mưu chiếm lại Đông Dương của Pháp, tối 9/3/1945, trên khắp Đông Dương, quân Nhật nổ súng tấn công, quân Pháp chống cự yếu ớt và đầu hàng nhanh chóng.
Đảng Cộng sản Đông Dương theo dõi sát tình hình. Ngay trong đêm 9/3/1945, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Đình Bảng (Bắc Ninh), đã nhận định sau cuộc đảo chính, phát xít Nhật là kẻ thù chính, cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương. Ngày 12/3/1945, Hội nghị ra Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa.
Cao trào kháng Nhật, cứu nước được phát động. Phong trào đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần diễn ra sôi nổi ở thượng du, trung du miền Bắc và từng bước lan rộng khắp toàn quốc. Toàn thể dân tộc Việt Nam, đội ngũ sẵn sàng, gấp rút chuẩn bị những công việc cuối cùng để đón lấy thời cơ đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân trong cả nước.
Trước tình hình mới, từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang). Hội nghị nhận định điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi. Đảng chủ trương lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương. Hội nghị cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Đêm 13/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh Tổng khởi nghĩa.
Với tinh thần “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” [3, tr.2203], dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 20 triệu người dân Việt Nam đã nhất tề đứng dậy. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi tới miền núi, người người, lớp lớp xông lên giành quyền làm chủ. Khắp cả nước, lực lượng chính trị hùng hậu của nhân dân đươc sự hỗ trợ của các lực lượng vũ trang đã giành thế áp đảo địch. Các lực lượng khởi nghĩa, với dao, búa, giáo, mác, gậy tầm vông và một số ít súng cướp được của địch, rập rập tuần hành thị uy, cướp chính quyền.
Ở Thủ đô Hà Nội, ngày 19/8/1945, với sức mạnh của hơn 60 vạn đồng bào, khởi nghĩa giành thắng lợi. Ngày 23/8/1945, trên 15 vạn nhân dân thành phố Huế và các huyện ở Thừa Thiên, nổi dậy giành chính quyền. Được tin Hà Nội, Huế khởi nghĩa giành được chính quyền, Đảng bộ miền Nam quyết định chọn ngày 25/8/
Một tuần sau khi khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi, ngày 25/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới ở nhà số 48 phố Hàng Ngang (Hà Nội). Tại đây, Người viết bản Tuyên ngôn Độc lập. Đó là những ngày sung sướng nhất trong cuộc đời hoạt động của Người, như sau này Người nhớ lại. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành văn kiện lịch sử đặc biệt, có vị trí là văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.2. Tuyên ngôn Độc lập - Văn kiện lịch sử đặc biệt, văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam
Ngày 2/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh của gần 1 triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam và với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập và tự do ra đời. Điều này thể hiện sâu sắc nội dung chính trị và pháp lý về lập quốc trong văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Tuyên ngôn Độc lập được mở đầu bằng chân lý lịch sử:
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”... “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” [4, tr.1].
Tuyên ngôn Độc lập khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Lẽ phải đó được ghi trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789. Các bản Tuyên ngôn ấy đều khẳng định quyền tự do, bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đây chính là những cơ sở chính trị - pháp lý về lẽ phải không ai chối cãi được đã được nêu trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng của nước Mỹ và nước Pháp.
Tuy nhiên, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, nhân dân và cả dân tộc Việt Nam đã hoàn toàn không có quyền tự do, bình đẳng và không có quyền mưu cầu hạnh phúc. Khẩu hiệu vĩ đại “tự do, bình đẳng bác ái” của Cách mạng Pháp năm 1789 đã bị giai cấp tư sản phản bội khi chúng lên nắm chính quyền. Thực dân Pháp núp dưới chiêu bài của cuộc Cách mạng Pháp để tiến hành cướp bóc các nước thuộc địa và tước đoạt độc lập, tự do của các dân tộc đó.
Với tính chất là văn kiện lịch sử đặc biệt và văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý của Nhà nước Việt Nam độc lập, Tuyên ngôn Độc lập đã đanh thép tố cáo bộ mặt giả hiệu và tội ác của thực dân Pháp: “Bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta”. “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do, dân chủ nào”, “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”.
Bằng những lập luận đanh thép và vững chắc, Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ cho nhân dân Việt Nam và toàn thế giới thấy rõ một thực tế lịch sử là: Từ mùa thu năm 1940, nước ta trở thành thuộc địa của Nhật. Pháp hai lần quỳ gối đầu hàng Nhật, chịu làm tay sai cho Nhật đàn áp và bóc lột nhân dân ta. Chính từ đây, Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo toàn dân đứng lên đấu tranh để giành lại nước Việt Nam từ tay phát-xít Nhật. Do đó, cơ sở pháp lý về sự tồn tại quyền lợi của thực dân Pháp ở Việt Nam cũng như trên toàn Đông Dương không còn nữa. Theo các Hiệp nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn, nếu các nước Đồng minh đã công nhận quyền dân tộc tự quyết của những nước đã bị phát-xít chiếm đóng, thì “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. Những lập luận đanh thép dựa trên cơ sở chính trị - pháp lý quốc tế trong Tuyên ngôn Độc lập đã đặt các thế lực của chủ nghĩa thực dân, đế quốc vào tư thế của những kẻ can thiệp và xâm lược, nếu chúng núp dưới bóng cờ của quân Đồng minh để hòng thôn tính đất nước ta một lần nữa.
Thể hiện rõ tính chất của một văn kiện lịch sử đặc biệt, văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam, Tuyên ngôn Độc lập khẳng định ý chí đấu tranh và thành quả vĩ đại của dân tộc Việt Nam: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa” [4, tr.3].
Nổi bật nhất về tính chất của một văn kiện lịch sử đặc biệt, văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam, Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố với thế giới: Nước Việt Nam “đã thành một nước tự do, độc lập”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập”. Việt Nam tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”.
Cùng với đó, với tính chất của một văn kiện lịch sử đặc biệt và văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam, Tuyên ngôn Độc lập kết thúc bằng một quyết tâm sắt đá tiêu biểu cho ý chí và khát vọng của 20 triệu người Việt Nam: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” [4, tr.3].
Qua nội dung của Tuyên ngôn Độc lập - một văn kiện lịch sử đặc biệt và văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam đã khái quát và nâng cao những giá trị bất hủ, tiến bộ của nhân loại về quyền bình đẳng, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người. Cũng từ bản Tuyên ngôn Độc lập cho thấy những quyền đó của con người là thiêng liêng, cao cả, nhưng quyền con người phải nằm trong quyền dân tộc và không tách rời quyền của dân tộc. Vì vậy, đối với mỗi dân tộc bị áp bức, cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của cả dân tộc và mỗi cá nhân quyện chặt vào nhau thành cuộc đấu tranh chung “Một dân tộc nô lệ không thể có những con người tự do”. Quyền dân tộc thiêng liêng và quyền cơ bản của con người, từ hai lĩnh vực công pháp quốc tế và pháp luật quốc gia đã gắn lại với nhau, phát triển cùng với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam để giành lại quyền sống của dân tộc trong độc lập tự do và để xây dựng một đời sống bình đẳng, tự do, hạnh phúc cho mọi người.
Tuyên ngôn Độc lập cũng nêu rõ quyền bình đẳng của các dân tộc phải được công nhận trên cơ sở tôn trọng các giá trị nhân loại và các nguyên tắc tiến bộ của nhân loại. Với việc liên hệ và mở rộng nội hàm khái niệm “nhân quyền”, Tuyên ngôn Độc lập khẳng định về tính chính trị - pháp lý rằng cũng như đặc tính hiển nhiên và bất khả xâm phạm của quyền con người thì quyền của các dân tộc cũng là quyền tự nhiên, cố hữu, bất khả xâm phạm.
Tuyên ngôn Độc lập là tiếng nói của ý chí, khát vọng độc lập, tinh thần ngoan cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Với căn cứ xác đáng và sự tuyên bố trịnh trọng trước quốc dân đồng bào và thế giới, Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng với vị trí là văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam; đã khẳng định chủ quyền của dân tộc Việt Nam, khẳng định thành quả của Cách mạng tháng Tám và mở ra thời đại mới cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam: độc lập dân tộc và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, bản Tuyên ngôn Độc lập tạo dựng nền tảng và hạt nhân thống nhất về tư tưởng, nhận thức và hành động trong mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam để thuyết phục, tập hợp, động viên, quy tụ và đoàn kết mỗi người dân Việt Nam cùng Chính phủ mới sẵn sàng bảo vệ nền độc lập, tự do mới giành được.
Tư tưởng về quyền tự do, dân chủ của bản Tuyên ngôn Độc lập - văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam đã trở thành nguyên tắc hiến định của Nhà nước ta, thể hiện rõ nét trong Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiến pháp tuyên bố thành quả của Cách mạng tháng Tám đã “giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền Dân chủ Cộng hòa”. Hiến pháp năm 1946 ghi nhận các quyền tự do, dân chủ của công dân Việt Nam và xác lập những điều kiện bảo đảm các quyền công dân đó. Các quyền cơ bản này ngày càng được quy định đầy đủ hơn, cụ thể hơn trong các Hiến pháp Việt Nam về sau.
Tuyên ngôn Độc lập thể hiện ý chí và khát vọng cháy bỏng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Giá trị vô cùng quan trọng của Tuyên ngôn Độc lập bởi đó là văn kiện lịch sử đặc biệt, một văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam với nội dung rất hiện đại, phù hợp với tập quán chính trị của nhiều quốc gia nhằm khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thể cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 - bản hùng văn bất diệt, thể hiện tầm cao trí tuệ, khí phách, văn hiến, nhân văn, ý chí và khát vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh - xứng đáng là văn kiện lịch sử, có vị trí là văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam.
3. Kết luận
80 năm Tuyên ngôn Độc lập đã tồn tại với thời gian và chính thời gian đã làm cho Tuyên ngôn Độc lập thêm sâu sắc và bền vững, mãi vẫn là văn kiện lịch sử đặc biệt, có vị trí là văn bản chính trị - pháp lý đầu tiên trong hệ thống văn kiện chính trị - pháp lý Việt Nam, tiếp tục định hướng cho dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc nhằm phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu và vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao.
Đồng thời, là cơ sở chính trị - pháp lý để đấu tranh có hiệu quả chống lại các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
Tài liệu tham khảo
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, HN, 2000.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, HN, 2000.
[3]. Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, H. 1977.
[4]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG ST,H, 2011.