“VỮNG NỀN TẢNG - SÁNG TƯƠNG LAI - VƯƠN TẦM VÓC”- MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Đặng Văn Khải, Lê Quang Phước, Trần Văn Tú Hệ 5, Học viện Chính trị, Email: [email protected] Tóm tắt: Mô hình phát triển đất nước không phải là khuôn mẫu bất biến mà là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc. Ở Việt Nam, mô hình chủ nghĩa xã hội được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng được hoàn thiện trong thực tiễn cách mạng. Trước các luận điệu xuyên tạc, ph
05:24 | 03/04/2026

Đặng Văn Khải, Lê Quang Phước, Trần Văn Tú

Hệ 5, Học viện Chính trị,

Email: [email protected]

Tóm tắt: Mô hình phát triển đất nước không phải là khuôn mẫu bất biến mà là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc. Ở Việt Nam, mô hình chủ nghĩa xã hội được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng được hoàn thiện trong thực tiễn cách mạng. Trước các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, việc xác lập rõ ba trụ cột của mô hình chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới không chỉ mang ý nghĩa định hình chiến lược phát triển, mà còn là cơ sở lý luận sắc bén để phản bác quan điểm sai trái, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Từ khóa: mô hình chủ nghĩa xã hội; kỷ nguyên mới; ba trụ cột; nền tảng tư tưởng của Đảng.

“VỮNG NỀN TẢNG - SÁNG TƯƠNG LAI - VƯƠN TẦM VÓC”- MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

(Tổng Bí thư Tô Lâm và người dân thực hiện quyền bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031)

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tình hình thế giới có nhiều biến đổi mạnh mẽ; cục diện thế giới thay đổi theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc; hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; các nước cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia dân tộc. Bên cạnh đó, hơn 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với bản lĩnh cách mạng và khoa học, trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta kịp thời nắm bắt, dự báo những chuyển biến của tình hình và xử lý thích ứng, linh hoạt những biến động khó lường, tận dụng các cơ hội, vượt qua thách thức lãnh đạo Nhân dân xây dựng và phát triển đất nước đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV Đảng ta khẳng định: “Xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”[3, tr.76]. Vì vậy, việc xác định xây dựng một mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện thực tiễn, tình hình khu vực, thế giới và trong nước là nội dung quan trọng nhằm phát huy sức mạnh thời đại kết hợp sức mạnh nội lực để xây dựng đất nước Việt Nam tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Khái niệm về mô hình chủ nghĩa xã hội

Lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời cách đây hơn 178 năm, được đánh dấu bằng tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” của C.Mác và Ph. Ăngghen và đến năm 1917 thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvich đứng đầu là V.I. Lênin đã đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Sự thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga đã cổ vũ, thúc đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, các dân tộc bị áp bức và các lực lượng tiến bộ trên thế giới trực tiếp dẫn đến sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và thiết lập mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên ở Liên Xô và Đông Âu. Vậy mô hình chủ nghĩa xã hội là gì? Mô hình chủ nghĩa xã hội có thể được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: Mô hình chủ nghĩa xã hội là tổng thể các yếu tố bản chất, đặc trưng, con đường, hình thức, phương thức, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo nghĩa hẹp: Mô hình chủ nghĩa xã hội là đặc trưng của một chế độ xã hội được xây dựng theo nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội khoa học, phù hợp với điều kiện cụ thể từng quốc gia.

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng phát triển đất nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX đã vận dụng xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội một cách máy móc, chủ quan, duy ý chí và dẫn đến sụp đổ. Chính điều đó, đã đặt ra vấn đề xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội như thế nào? Trong khi đó thì các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó đòi hỏi các Đảng Cộng sản phải không ngừng nghiên cứu thực tiễn, bổ sung lý luận để đưa ra một mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mỗi quốc gia dân tộc.

Thực tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin Người đã nhận định rằng: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” [4, tr.510]. Vì vậy, việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác 0 Lênin để xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào khác thì cần phải vận dụng đúng đắn, không ngừng bổ sung phát triển, bảo đảm phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử của đất nước, nếu không sẽ dẫn tới việc hiểu sai hoặc vận dụng máy móc, siêu hình “lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về mô hình chủ nghĩa xã hội” đồng thời là cơ hội cho các thế lực thù địch đưa ra nhiều luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

2.2. Nội dung mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với những trụ cột

Thứ nhất, trụ cột về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những trụ cột cơ bản, giữ vai trò cơ sở nền tảng vật chất và động lực chủ yếu của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định 8 đặc trưng, trong đó có đặc trưng thứ 3 xác định: Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Đây là đặc trưng kinh tế tổng quát được Đảng ta xác định trong thời kỳ quá độ, phản ánh sự kết hợp biện chứng giữa quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và bảo đảm giữ vững định hướng về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Về bản chất, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không phải là sự sao chép mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cũng chưa hẳn là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mà là một kiểu tổ chức kinh tế đặc thù, vận hành đầy đủ, đồng bộ vừa tuân thủ các quy luật của thị trường, vừa đặt dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, các yếu tố thị trường được phát huy như một công cụ hiệu quả để phân bổ nguồn lực, thúc đẩy sản xuất, đổi mới sáng tạo; còn định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở mục tiêu phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm mục tiêu phát triển vì con người, an sinh xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân.

Thực tiễn hơn 40 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả của mô hình này. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung kém hiệu quả, trong khoảng 10 năm sau thống nhất đất nước (1975 - 1985) thu nhập bình quân đầu người dao động từ 125 đến 200 USD/năm và xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, tỷ lệ lạm phát vào tháng 12/1986 lên đến 774,7%. Cho đến Đại hội VI (1986) Đảng ta khởi xướng đổi mới, chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Đại hội VII (1991) khẳng định cơ chế vận hành của kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, từ Đại hội IX (2001) đến nay Đảng ta chính thức xác định mô hình kinh tế tổng quát là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Bước đổi mới về mô hình kinh tế đưa Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường mới năng động, hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, năm 2015 đất nước ta đã chính thức trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 30 năm đầu đổi mới trung bình gần 7%/năm, trong đó có 7 năm trên 8% và 2 năm trên 9% và giai đoạn 2016 - 2025 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,2%/năm, thu nhập bình quân đầu người trên 5.000 USD/năm. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011 - 2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016 - 2020 và trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Đời sống Nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam được đo lường theo tiêu chí của Liên hợp quốc ngày càng tăng, năm 2016 xếp vị trí thứ 94/149 quốc gia đến năm 2025 xếp vị trí thứ 46, so với năm 2016 chỉ số hạnh phúc con người Việt Nam tăng 48 bậc. Những thành tựu đó là minh chứng rõ nét cho khả năng kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường xuyên xuyên tạc cho rằng việc phát triển kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc Việt Nam đã từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, hoặc quy kết rằng kinh tế thị trường chỉ gắn liền với chủ nghĩa tư bản. Đây là những quan điểm phiến diện, thiếu cơ sở khoa học, cố tình đồng nhất công cụ với bản chất chế độ. Cần khẳng định rằng, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại; việc sử dụng cơ chế thị trường như một công cụ để phát triển lực lượng sản xuất là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc có hay không có kinh tế thị trường, mà ở chỗ nó được định hướng và phục vụ mục tiêu nào? vì ai? và đem lại lợi ích cho ai?

Trong mô hình của Việt Nam, định hướng xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chi phối, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế gắn với sự phát triển thực sự vì con người, vì một xã hội nhân ái, đoàn kết, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn. Vai trò quản lý của Nhà nước, sự điều tiết vĩ mô và hệ thống chính sách xã hội là những yếu tố quan trọng nhằm khắc phục các mặt trái của kinh tế thị trường, hướng tới phát triển hài hòa, bền vững.

Vì vậy, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ là sự lựa chọn phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể của Việt Nam, mà còn là tất yếu khách quan; là sản phẩm chung của văn minh nhân loại; là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; là một trong những trụ cột của thể chế phát triển nhanh và bền vững; là minh chứng sinh động bác bỏ các luận điệu sai trái, xuyên tạc về con đường phát triển của đất nước. Đây chính là trụ cột quan trọng, tạo nền tảng vật chất vững chắc và đồng thời là cơ sở lý luận sắc bén trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Quảng cáo

Thứ hai, trụ cột xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những trụ cột quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thể hiện giữ vai trò thiết chế chính trị pháp lý bảo đảm cho sự vận hành đúng hướng của toàn bộ hệ thống xã hội. Đây là kiểu nhà nước đặc thù, vừa kế thừa các giá trị phổ quát của nhà nước pháp quyền, vừa mang bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, hướng tới mục tiêu phục vụ Nhân dân, quyền lực thuộc về Nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thực hiện công bằng xã hội.

Về bản chất, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. Tính pháp quyền được thể hiện ở việc quản lý xã hội bằng pháp luật, đề cao tính tối thượng của Hiến pháp, bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Đồng thời, tính xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở mục tiêu phục vụ lợi ích của đa số Nhân dân lao động, gắn pháp luật với công bằng, tiến bộ xã hội và định hướng phát triển vì con người.

Trong thực tiễn, quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ, thống nhất; bộ máy nhà nước từng bước được kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đã được triển khai tổng thể, triệt để và đồng bộ trong cả nước với quy mô lớn. Cụ thể: Giảm 34,9% đầu mối trực thuộc Trung ương, 100% đảng đoàn, ban cán sự đảng; giảm 46% đơn vị hành chính cấp tỉnh, 66,9% đơn vị hành chính cấp xã; lần đầu tiên kể từ năm 1945, đất nước ta giảm một cấp hành chính (không tổ chức cấp huyện), thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức làm cơ sở để xác định, giao và quản lý biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2026 – 2031. Đây là sự đột phá, đổi mới tư duy trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện bộ máy đất nước, thực sự là cuộc cách mạng “sắp xếp lại giang sơn”.

Bên cạnh đó, quyền con người, quyền công dân ngày càng được tôn trọng và bảo đảm tốt hơn; kỷ luật, kỷ cương xã hội được tăng cường. Đối với Chỉ số Chính phủ điện tử được duy trì tăng trưởng liên tục trong giai đoạn 2014 – 2024, từ vị trí thứ 99 lên vị trí thứ 71 trong 193 quốc gia; về chỉ số Tự do kinh tế của Việt Nam tăng 6 bậc, từ vị trí thứ 90 lên vị trí thứ 84. Chỉ số thành phần Tự do kinh doanh tăng điểm mạnh với mức tăng 8,4 điểm (từ 65,2 lên 73,6 điểm). Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), xếp hạng của Việt Nam năm 2024 ở vị trí thứ 44/133 quốc gia, tăng 2 bậc so với năm 2023, năm 2025 duy trì vị trí thứ 44/139, đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN. Những kết quả đó đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng vấn đề “nhà nước pháp quyền” để đưa ra các luận điệu sai trái như cho rằng: Nhà nước pháp quyền chỉ tồn tại trong chế độ tư bản chủ nghĩa, hoặc xuyên tạc rằng việc đặt Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng là trái với nguyên tắc pháp quyền, làm suy giảm dân chủ. Đây là những quan điểm phiến diện, cố tình tách rời bản chất giai cấp của nhà nước khỏi hình thức tổ chức quyền lực. Trên thực tế, nhà nước pháp quyền không phải là sản phẩm riêng của bất kỳ chế độ nào, mà là thành tựu chung của văn minh chính trị nhân loại; vấn đề cốt lõi là nhà nước đó phục vụ lợi ích của giai cấp nào, lực lượng xã hội nào.

Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng không đối lập mà thống nhất với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, bởi chính sự lãnh đạo đó bảo đảm cho nhà nước giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, không bị chệch hướng, không rơi vào tình trạng tha hóa quyền lực. Đồng thời, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn liền với việc kiểm soát quyền lực, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ và trách nhiệm giải trình, qua đó khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Vì vậy, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chỉ là yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển mà còn là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc về bản chất của chế độ chính trị ở Việt Nam. Đây chính là trụ cột bảo đảm cho sự ổn định, phát triển bền vững và đúng định hướng của mô hình chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới.

Thứ ba, trụ cột về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là trụ cột quan trọng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ, đồng thời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ là một hình thức tổ chức quyền lực mà còn là giá trị cốt lõi, bảo đảm quyền làm chủ thực sự của Nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Về bản chất, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền dân chủ mà trong đó mọi quyền lực thuộc về Nhân dân; Nhân dân vừa là chủ thể của quyền lực, vừa là người trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý nhà nước và xã hội thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Dân chủ được thực hiện toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn gắn với mục tiêu bảo đảm lợi ích của đại đa số Nhân dân lao động, hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội, khắc phục tình trạng bất bình đẳng và sự chi phối của các nhóm lợi ích.

Trong thực tiễn, việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Quyền con người, quyền công dân ngày càng được mở rộng và bảo đảm tốt hơn; cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ ngày càng được thể hiện rõ rệt; phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” từng bước được thể chế hóa, mở rộng, phát triển và triển khai trong thực tế; vai trò của Nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội ngày càng được phát huy. Văn kiện Đại hội XIV Đảng ta xác định: “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”. Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân…Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của Nhân dân... Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”[3, tr.237-238].

Cùng với quá trình Nhân dân làm chủ đất nước, đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng lên, tuổi thọ và chỉ số sức khỏe người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thị trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 năm, số năm sống khỏe là 67 năm; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025; đến tháng 9/2025 hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Những thành tựu đó không chỉ góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước mà còn tạo động lực quan trọng cho sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường xuyên xuyên tạc, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bằng những luận điệu như cho rằng Việt Nam “không có dân chủ”, hoặc đồng nhất dân chủ với mô hình dân chủ tư sản phương Tây, lấy đó làm tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá. Đây là những quan điểm phiến diện, mang tính áp đặt, cố tình bỏ qua sự khác biệt về điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa giữa các quốc gia. Cần khẳng định rằng, dân chủ không có một mô hình duy nhất, bất biến, mà luôn mang tính lịch sử - cụ thể, gắn với điều kiện và mục tiêu phát triển của từng quốc gia.

Ở Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ dừng lại ở các quyền chính trị hình thức mà được bảo đảm bằng cả các điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Việc kết hợp hài hòa giữa phát huy dân chủ với giữ vững ổn định chính trị - xã hội là một đặc trưng quan trọng, góp phần tạo nên sự khác biệt về chất so với các mô hình dân chủ khác. Đồng thời, dân chủ luôn đi đôi với kỷ luật, pháp luật, bảo đảm quyền tự do của mỗi cá nhân không xâm hại đến lợi ích chung của cộng đồng và xã hội.

Phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ là biểu hiện sinh động của bản chất tốt đẹp của chế độ, mà còn là cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc để bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vấn đề dân chủ và nhân quyền. Đây chính là trụ cột quan trọng, góp phần hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời tạo nên “lá chắn lý luận” hiệu quả trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.

2.3. Giá trị của các trụ cột về mô hình chủ nghĩa xã hội trước các quan điểm sai trái, thù địch

Ba trụ cột của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, không tồn tại một cách rời rạc mà gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất về mặt lý luận và thực tiễn.

Xét về phương diện tổng thể, hệ thống các trụ cột này phản ánh đầy đủ các phương diện cơ bản của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện đại. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giữ vai trò là cơ sở, nền tảng vật chất; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa nhân tố bảo đảm và động lực thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện ở Việt Nam. Trên nền tảng đó vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định, giữ vững định hướng chiến lược, điều hòa các mối quan hệ, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định chính trị, phát huy dân chủ trong toàn xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc. Chính sự kết hợp này đã tạo nên tính toàn diện, khoa học và đặc thù của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Không chỉ có ý nghĩa định hướng phát triển, các trụ cột này còn tạo thành một hệ thống lập luận có tính phản bác mạnh mẽ đối với các quan điểm sai trái, thù địch. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trực tiếp bác bỏ luận điệu đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa làm rõ tính phiến diện của quan điểm phủ nhận pháp quyền trong chế độ xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khẳng định bản chất dân chủ thực chất, bác bỏ sự áp đặt mô hình dân chủ phương Tây. Trên cơ sở đó, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố then chốt bác bỏ các luận điệu đòi đa nguyên, đa đảng, đồng thời khẳng định tính tất yếu lịch sử và tính phù hợp của con đường phát triển mà Việt Nam đã lựa chọn.

Sự kết hợp chặt chẽ giữa ba trụ cột cơ bản cùng với vai trò lãnh đạo của Đảng đã tạo nên một “lá chắn lý luận” vững chắc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay. Hệ thống này không chỉ khẳng định tính đúng đắn của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn nâng cao sức đề kháng của toàn xã hội trước các quan điểm sai trái, xuyên tạc, củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội và bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Trong kỷ nguyên mới, việc nhận thức đầy đủ và vận dụng hiệu quả các trụ cột của mô hình chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chỉ có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng, phát triển đất nước mà còn là cơ sở lý luận quan trọng để đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

3. Kết luận

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường, cùng với sự gia tăng các hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, việc nhận thức đúng đắn và làm rõ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thực tiễn hơn 40 năm đổi mới đã khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và điều kiện lịch sử – cụ thể của đất nước. Trên cơ sở đó, việc xác lập ba trụ cột cơ bản của mô hình, bao gồm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chỉ góp phần làm rõ cấu trúc, nội hàm của mô hình phát triển mà còn tạo thành một hệ thống lý luận thống nhất, có tính khoa học và thực tiễn sâu sắc. Khi đặt trong chỉnh thể, các trụ cột này vừa định hướng chiến lược phát triển, vừa đóng vai trò như một “lá chắn lý luận” sắc bén trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, qua đó khẳng định tính tất yếu khách quan, tính đúng đắn và ưu việt của con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong thời gian tới, việc tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận gắn với tổng kết thực tiễn, đồng thời nâng cao hiệu quả vận dụng các trụ cột này vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sẽ là yêu cầu quan trọng nhằm củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
  2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập I.
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập II.
  4. Hồ Chí Minh (1924), “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011.
  5. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.