Đại tá, PGS. TS. NGƯT Nguyễn Xuân Tú -
Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự,
TS Võ Thị Dương -
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật, Bộ Công Thương
1. Mở đầu
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám là thành quả của 15 năm (1930-1945) đấu tranh kiên cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Đây là thành quả từ một quá trình chuẩn bị rất nhiều điều kiện của cách mạng, trong đó phải kể tới một điều kiện rất quan trọng, quyết định trực tiếp tới thắng lợi, đó là việc xây dựng, không ngừng mở rộng căn cứ địa cách mạng trong những năm tháng chuẩn bị và tiến hành tổng khởi nghĩa.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Quá trình xây dựng căn cứ địa cho chuẩn vị và tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Sau 30 năm buôn ba ở nước ngoài, ngày 28-01-1941 khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhận thấy tầm quan trọng của căn cứ địa cách mạng đối với cuộc đấu tranh giành chính quyền khi thời cơ đang đến gần, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào xây dựng Cao Bằng làm nơi đứng chân, thành căn cứ địa của cách mạng. Quyết định này của Nguyễn Ái Quốc là một quyết định chiến lược, sáng suốt, kịp thời. Người cho rằng: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích diễn biến của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai và tình hình trong nước, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, (5-1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã chỉ rõ phải xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi đó là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân. Hội nghị cũng quyết định lấy vùng miền núi Việt Bắc để xây dựng căn cứ địa cách mạng, trước hết là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai.
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám, Hồ Chí Minh và các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh...khẩn trương chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng căn cứ địa Cao Bằng, mà trước hết nhằm vào xây dựng các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng phong trào quần chúng. Đồng thời, chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang, với phương châm ở đâu có Việt Minh là ở đó phải có tự vệ và các đội tự vệ chiến đấu. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, căn cứ địa Cao Bằng đã hình thành và từng bước phát triển vững chắc, trở thành một trung tâm lãnh đạo phong trào trong nước cũng như tranh thủ ủng hộ từ bên ngoài.
Cùng với xây dựng hai căn cứ Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai, ở Bắc Trung kỳ, tháng 7-1941, Tỉnh ủy tỉnh Thanh Hoá đã chọn vùng Đông Bắc lấy địa bàn Ngọc Trạo (Thạch Thành) của tỉnh để xây dựng căn cứ địa cách mạng nhằm phát triển lực lượng, thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân.
Từ cuối năm 1941 đến năm 1942, các Hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Tự vệ cứu quốc... đã được thành lập ở nhiều vùng căn cứ của các tỉnh miền Bắc, một số tỉnh miền Trung và ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng. Ở Cao Bằng xuất hiện các xã, tổng toàn dân tham gia Việt Minh (“xã hoàn toàn”, “tổng hoàn toàn”). Ở Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Việt Minh phát triển mạnh mẽ tại nhiều vùng nông thôn và thị xã.
Cũng thời gian này, Đảng thường xuyên quan tâm tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, nhanh chóng phát triển hệ thống tổ chức đảng ở các căn cứ địa, vùng giải phóng và an toàn khu; nâng cao cảnh giác, ngăn ngừa bọn phản động chui vào phá hoại Đảng từ bên trong. Tại căn cứ địa, công tác đào tạo cán bộ được tiến hành nhờ các lớp huấn luyện ngắn ngày, các lớp bồi dưỡng công tác ở tất cả các cấp. Thông qua Mặt trận Việt Minh, Đảng mở rộng các tổ chức quần chúng và lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nông dân ở những vùng xung quanh căn cứ cách mạng, từng bước tập dượt hướng tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Từ căn cứ địa Cao Bằng, các phong trào “Nam tiến”, “Bắc tiến” “Đông tiến” và “Tây tiến” tiếp tục phát triển mạnh. Phong trào “Nam tiến” đã thành lập 19 đội “xung phong” phát triển phong trào Việt Minh từ Cao Bằng xuống Bắc Kạn. Đến cuối năm 1943, các đội “xung phong Nam tiến” đã tạo dựng và mở rộng các đoàn thể Việt Minh ở Ngân Sơn, Chợ Rã, Bạch Thông, Chợ Đồn (Bắc Kạn) tạo điều kiện ra đời của khu Việt Minh Quang Trung, kéo dài từ Nguyên Bình (Cao Bằng) xuống Chợ Đồn (Bắc Kạn), tiếp giáp với Thái Nguyên, Tuyên Quang. Cũng trong thời gian này, phong trào “Tây tiến” thành lập được các đoàn thể cứu quốc từ Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình lên Bảo Lạc, Thông Nông (Cao Bằng) sang Đường Thượng, Phố Cáo (Hà Giang), dẫn đến sự ra đời của Khu Thiện Thuật. Phong trào “Đông tiến” cũng phát triển mạnh sang phía Lạng Sơn. Bằng “Bắc tiến” đã nối liền căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai với các vùng căn cứ ở Tràng Định (Lạng Sơn) và từ Đại Từ, Định Hoá, Sơn Dương, Yên Sơn lên Chợ Đồn (Bắc Kạn). Để tạo thế liên hoàn vững chắc, hỗ trợ, thúc đẩy các căn cứ cùng phát triển, đầu năm 1944, Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ đã thống nhất hai trung tâm căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và Đại Từ - Định Hoá - Sơn Dương thành chiến khu Hoàng Hoa Thám. Trên cơ sở cao trào cách mạng của quần chúng, từ hai căn cứ địa trung tâm Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai, nhiều căn cứ địa liên hoàn được hình thành nối liền Cao Bằng với Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Bắc Giang, Vĩnh Yên.
Trước sự phát triển của các trung tâm căn cứ địa ở Việt Bắc, vào tháng 8-1944, Trung ương Đảng, quyết định thành lập 4 chiến khu ở miền Bắc gồm:
Chiến khu I gồm ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, có nhiệm vụ phát triển cơ sở ở khu vực biên giới với Trung Quốc; bắt liên lạc với Bắc Giang, Thái Nguyên; khống chế đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn và Đường số 4.
Chiến khu II gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang và một phần của tỉnh Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Yên, có nhiệm vụ xây dựng căn cứ, phát triển cơ sở, đánh thông đường liên lạc với Chiến khu I, khống chế đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Lào Cai và các Quốc lộ 1,2,3; tích cực xây dựng và phát triển Cứu quốc quân, tự vệ chiến đấu, huấn luyện phổ cập quân sự cho hội viên Việt Minh.
Chiến khu III, gồm tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, một phần Sơn Tây, có nhiệm vụ khống chế đường xe lửa Hà Nội - Thanh Hoá, Quốc lộ 1.
Chiến khu IV, gồm Móng Cái, Hải Ninh, Hòn Gai, Kiến An, Hải Phòng, Quảng Yên, Hải Dương, có nhiệm vụ liên lạc với Trung Quốc, khống chế vùng duyên hải Đông Bắc.
Trước tình hình khu giải phóng ngày càng mở rộng, đầu tháng 5-1945, Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về chiến khu Hoàng Hoa Thám (Thái Nguyên - Tuyên Quang). Dưới sự chỉ đạo của Người, các khu giải phóng ở Việt Bắc được mở rộng và nối liền. Ngày 04-6-1945, khu giải phóng bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên thành lập và được xây dựng thành một căn cứ vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá với nhiều yếu tố mới của chế độ dân chủ nhân dân để làm bàn đạp “Nam tiến”, giải phóng toàn quốc. Tân Trào (Sơn Dương - Tuyên Quang) được chọn làm thủ đô của Khu Giải phóng. Tháng 6 và tháng 7-1945, phong trào đấu tranh giành chính quyền phát triển mạnh mẽ. Nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi và đã nhanh chóng phát triển đến tổng khởi nghĩa. Khi Quân lệnh số 1 (Lệnh khởi nghĩa) của Ủy ban khởi nghĩa được ban ra đêm 13-8-1945, toàn thể dân tộc Việt Nam nhất tề đứng lên với lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang được xây dựng ở các căn cứ địa, cùng với những “bàn đạp” khu giải phóng đã đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật và bọn tay sai làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
2.2. Căn cứ địa cách mạng góp phần trực tiếp quyết định thắng lợi của cao trào giải phóng dân tộc mà đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám năm 1945
Bằng thực tiễn công tác xây dựng căn cứ địa trong chuẩn bị và tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Việt Nam, một lần nữa đã chứng minh rằng căn cứ địa, hậu phương là nhân tố cơ bản thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh. Vai trò to lớn của căn cứ địa, góp phần trực tiếp quyết định thắng lợi trong chuẩn bị và tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 ở Việt Nam được biểu hiện cụ thể trên một số điểm sau đây:
Một là, căn cứ địa cách mạng mà trước hết là căn cứ trung tâm ở Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai là nơi đứng chân, chỗ dựa vững chắc cho cơ quan đầu não của cuộc đấu tranh là Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Tất cả những nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh được phát đi từ nơi này trực tiếp quyết định sự phát triển và dẫn tới thắng lợi của cuộc đấu tranh. Cũng chính nơi đây là địa điểm đầu tiên bảo đảm việc cung cấp các loại vật chất để xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng ban đầu. Đó là lương thực, thực phẩm, các loại vật chất khác phục vụ huấn luyện, chiến đấu. Đặc biệt, đây còn là địa bàn để bắt đầu phát triển, mở mang, tạo nên những vùng căn cứ địa mới ngày càng rộng lớn hơn bao gồm cả khu Việt Bắc và nhiều vùng khác làm chỗ đứng mới cho các lực lượng cách mạng - điều kiện quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh giành chính quyền.
Hai là, căn cứ địa cách mạng được xây dựng trong quá trình chuẩn bị và tiến tới tổng khởi nghĩa ngày càng rộng lớn chính là nơi cung cấp nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển các đội vũ trang cách mạng sơ khai, ban đầu là các đội tự vệ chiến đấu, đội du kích, đội cứu quốc quân tiến lên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Quân giải phóng. Đây chính là nguồn lực rất quan trọng cho thắng lợi của đấu tranh giành chính quyền. Thực tiễn này càng chứng minh cho tính đúng đắn điều mà V.I. Lênin đã chỉ ra: ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực hơn.... thì người đó sẽ thu được thắng lợi. Trong đấu tranh thương vong, hy sinh, mất mát là không thể tránh khỏi, do đó nếu không có nguồn lực bổ sung từ các vùng căn cứ, vùng giải phóng thì sẽ không còn lực lượng để đấu tranh.
Ba là, căn cứ địa cách mạng được xây dựng để chuẩn bị và tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền còn là địa bàn đứng chân cực kỳ quan trọng của các lực lượng. Tiến hành đấu tranh không phải khi nào phía cách mạng cũng luôn chiến thắng kẻ thù, vì vậy những lúc tạm thời thất bại, lui quân, thì căn cứ địa là nơi đứng chân và che chở an toàn nhất. Trên thực tế trong quá trình đấu tranh giành chính quyền, vùng căn cứ luôn luôn là địa bàn quan trọng nhất, an toàn nhất cho các lực lượng, nhất là những thời điểm Nhật, Pháp tiến hành càn quét, tìm diệt cách mạng.
Bốn là, căn cứ địa còn là nơi “cung cấp” nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cho quần chúng cách mạng. Thắng hay bại trong đấu tranh phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó yếu tố chính trị, tinh thần đóng vai trò đặc biệt quan trọng. V.I. Lênin khẳng định rõ điều này: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường” [5, tr.165]. Đấu tranh để giành chính quyền, lật đổ sự thống trị của giai cấp bóc lột là cuộc đấu tranh rất khốc liệt, gian khổ hy sinh, là một sự nguy hiểm, là đổ máu, là đối mặt với vũ khí; ranh giới giữa cái sống và cái chết rất mong manh. Do đó, đấu tranh càng ác liệt, càng đòi hỏi quần chúng cách mạng, nhất là các lực lượng vũ trang phải có bản lĩnh vững vàng và tinh thần chiến đấu cao, mới chịu đựng được gian khổ, hy sinh, sự khốc liệt của đấu tranh. Tinh thần thấp kém sẽ làm cho kết quả đấu tranh giảm xuống, thậm trí thất bại.
3. Kết luận:
Có căn cứ địa vững mạnh tức là có chỗ dựa, nơi đứng chân vững chắc. Chính một chế độ dân chủ nhân dân - chế độ xã hội mới tốt đẹp, dù chỉ rất sơ khai được xây dựng cả về kinh tế, chính trị, văn hoá ở vùng căn cứ, vùng giải phóng và nguồn lực gồm sức người, sức của sẽ “cung cấp” lòng tin, niềm hy vọng vào chiến thắng của cách mạng tạo nguồn lực sức mạnh tinh thần to lớn cho quần chúng cách mạng thêm kiên trung, “trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”. Chính các căn cứ địa cách mạng được xây dựng, ngày càng mở rộng đã quyết định trực tiếp tới thắng lợi của công cuộc đấu tranh giành chính quyền, đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Tài liệu tham khảo
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, HN, 1998.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, HN, 1998.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, HN, 1998.
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, HN, 1998.
[5]. V.I. Lênin, Toàn tập, tập 31, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1978.