Đại tá, PGS. TS. NGƯT Nguyễn Xuân Tú -
Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự,
TS Võ Thị Dương -
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật, Bộ Công Thương
1. Mở đầu
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nhân tố quyết định thắng lợi vĩ đại đó chính là sự đoàn kết một lòng của toàn dân tộc, với ý chí quyết tâm cao, triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, lực lượng vũ trang và đấu tranh quân sự giữ vai trò quan trọng, là lực lượng nòng cốt, tiên phong, dẫn dắt, hỗ trợ đắc lực cho lực lượng quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Để đi tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Hồ Chí Minh đã không ngừng chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh và chỉ đạo đấu tranh quân sự kiên quyết, kịp thời.
2. Nội dung nghiên cứu
Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (02/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định con đường giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân chỉ có thể là con đường cách mạng, phải đứng lên đấu tranh bằng bạo lực để tự giải phóng. Để thực hiện được mục tiêu đó, phải xây dựng lực lượng của toàn dân, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng - “tổ chức ra quân đội công nông”[1, tr.2].
Thực hiện tư tưởng chiển lược đó, trong phong trào cách mạng những năm 1930 - 1931, quần chúng công nhân, nông dân đã tỏ rõ sức mạnh to lớn làm rung chuyển nền móng thống trị của chế độ thuộc địa của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, làm tan rã chính quyền địch ở nhiều làng xã, huyện, nhất là ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Trong sức mạnh to lớn đó, có vai trò đấu tranh quân sự của các lực lượng tự vệ đỏ (Xích vệ) hỗ trợ và kết hợp với những cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công rộng lớn của quần chúng công, nông.
Tháng 3/1935, tại Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã có Nghị quyết riêng về Đội tự vệ. Trên cơ sở phân tích những kinh nghiệm của các cuộc cách mạng trên thế giới và kinh nghiệm ở Nghệ - Tĩnh những năm 1930-1931, Nghị quyết khẳng định: “Nếu không sớm liệu dự bị võ trang quần chúng thì cách mạng không thành công được” [2, tr.93], đồng thời xác định những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Đó là những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong buổi đầu xây dựng đội tự vệ công nông, tạo cơ sở để xây dựng các đội du kích, tự vệ chiến đấu những năm sau này.
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Trước tình hình Đông Dương thay đổi nhanh chóng, tại Hội nghị Trung ương 6 (11/1939), Đảng càng nhấn mạnh việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang với các đội tự vệ to, rộng. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, tháng 3/1940, Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương tổ chức đội tự vệ và du kích ở các địa phương. Đến tháng 7/1940 tại nhiều nhà máy, trường học, đường phố các tỉnh Nam Kỳ, ngoài tổ chức tự vệ đã hình thành các tổ, tiểu tổ du kích. Ở vùng nông thôn, nhiều xã tổ chức được từ một tiểu đội đến một trung đội du kích, trang bị thô sơ, tiến hành huấn luyện quân sự, chuẩn bị khởi nghĩa. Đội du kích Hóc Môn (Gia Định), đội du kích Cần Giuộc (Chợ Lớn), đội du kích Vĩnh Liên (Vĩnh Long), đội du kích Mỹ Tho là những đội quân du kích đầu tiên của Nam Kỳ tham gia khởi nghĩa tháng 11/1940.
Tháng 9/1940, phát xít Nhật đánh chiếm Việt Nam, tại Lạng Sơn đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) và sau đó quân khởi nghĩa tiến hành đấu tranh du kích ở vùng căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai. Từ thực tiễn của khởi nghĩa Bắc Sơn và tiếp sau đó là khởi nghĩa ở Nam Kỳ (23/11/1940), một thời kỳ mới của cách mạng giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ đòi hỏi phải đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh quân sự. Tháng 02/1941, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Xứ uỷ Bắc Kỳ, đội du kích Bắc Sơn có gần 200 người, biên chế thành từng tiểu đội, vũ khí có khoảng 20 súng trường mới thu được của địch và hơn 100 súng kíp đã phát triển thành đội Cứu quốc quân, lực lượng nòng cốt trong xây dựng và chiến đấu ở căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai. Tiếp đó, để đáp ứng nhiệm vụ cứu nước, Trung đội Cứu quốc quân I, được thành lập ngày 14/02/1941 ở châu Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, có 37 người, biên chế 3 tiểu đội; Trung đội Cứu quốc quân II được thành lập ngày 15/9/1941 ở huyện Vũ Nhai, tỉnh Thái Nguyên gồm 47 người, trong đó có 3 nữ, chia thành 5 tiểu đội, đến cuối tháng 10/1941 đã phát triển lên 70 người; Trung đội Cứu quốc quân III được thành lập ngày 25/02/1944 ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, gồm 30 đội viên. Đây là lực lượng vũ trang rất quan trọng để tiến hành đấu tranh quân sự.
Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trở về nước sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, tại Pác Bó (Cao Bằng), Người cùng các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên… tổ chức vận động quần chúng nhân dân, xây dựng thí điểm Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng. Từ đó tiến hành xây dựng các đội du kích và phát triển căn cứ địa cách mạng. Người đã chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (10 - 19/5/1941), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”; chủ trương xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng; xác định chuẩn bị tổng khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại. Trung ương Đảng chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang” [3, tr.129]. Vì thế, phải phát triển những tổ chức tiểu tổ du kích, rèn luyện năng lực tổ chức, chỉ huy của cán bộ, đảng viên; phát triển lực lượng về mọi mặt để sẵn sàng tận dụng cơ hội thuận lợi nhất đánh bại kẻ thù.
Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ngày càng ác liệt. Đặc biệt, sau khi Đức tiến công Liên Xô (22/6/1941), cuộc chiến tranh bước sang thời kỳ mới với sự đối đầu giữa một bên là chủ nghĩa phát xít (Đức, Ý, Nhật) và một bên là lực lượng Đồng minh chống phát xít, gồm Liên Xô, Anh, Mỹ và nhiều nước tham gia. Dân tộc và cách mạng Việt Nam đứng vào hàng ngũ của lực lượng Đồng minh chống phát xít. Ngày 07/12/1941, Nhật tấn công cảng Trân Châu, tuyên chiến với Anh, Mỹ, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ. Ngày 21/12/1941, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Thông cáo gửi các cấp bộ đảng: Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng. Trung ương Đảng nhấn mạnh việc phát triển, tăng cường thực lực cách mạng: “Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta cũng vậy” [3, tr.240].
Với tư tưởng sáng suốt đó, ở Việt Nam đã đẩy mạnh phát triển mạnh mẽ cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. Trong vùng căn cứ địa Việt Bắc, lực lượng Cứu quốc quân và du kích phát triển mạnh ở các địa bàn Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Theo Chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này) được thành lập ngày 22/12/1944. Đội gồm 34 cán bộ, chiến sĩ là những người kiên quyết, dũng cảm được lựa chọn từ các đội vũ trang ở Cao - Bắc - Lạng và những người đi học quân sự ở nước ngoài về có lòng yêu nước, chí căm thù giặc, hầu hết đã trải qua chiến đấu. Với sự ra đời của đội quân chủ lực này, hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng đã gồm “ba thứ quân”: Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - đội quân chủ lực; các đội vũ trang thoát ly ở các tỉnh, các châu, các huyện và các đội quân địa phương; các đội tự vệ chiến đấu, tự vệ cứu quốc ở các làng xã, xí nghiệp, đường phố - lực lượng bán vũ trang địa phương.
Sau khi phát xít Nhật làm đảo chính (09/3/1945) gạt thực dân Pháp khỏi Đông Dương, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra bản Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/1945), phát động cao trào kháng Nhật cứu nước. Thời kỳ tiền khởi nghĩa phát triển với nhiều hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh diễn ra sôi nổi trên cả nước. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (15 - 20/4/1945) chủ trương thống nhất các lực lượng vũ trang. Theo đó, ngày 15/5/1945, tại vùng giải phóng ở Thái Nguyên, lễ hợp nhất các tổ chức vũ trang cách mạng thành Việt Nam Giải phóng quân, tổng số gồm 13 đại đội. Ngoài các đại đội chủ lực đó, nhiều đơn vị Giải phóng quân địa phương đã được thành lập tại một số tỉnh và cả ở một số huyện khác thuộc Khu giải phóng Việt Bắc. Nhiệm vụ về tổ chức quân sự được đề ra cho Khu giải phóng là mỗi xã phải tiến tới thành lập một số tiểu tổ du kích. Do đó ở nơi nào có tổ chức cứu quốc là nơi ấy có các đội tự vệ, du kích.
Ngoài Khu Giải phóng Việt Bắc, tại các chiến khu khác và vùng ngoại vi Khu giải phóng, nhiều đội du kích tập trung đã được thành lập và ngày càng lớn mạnh. Tại chiến khu Trần Hưng Đạo (duyên hải Đông Bắc), đội du kích khi mới được thành lập vào tháng 6/1945 có khoảng 200 người, đến hạ tuần tháng 7 lên tới 500 người. Tại chiến khu Quang Trung (Hòa Bình – Ninh Bình - Thanh Hóa), ở khu căn cứ trung tâm Quỳnh Lưu (Ninh Bình) ngoài các trung đội tự vệ chiến đấu còn có một trung đội vũ trang thường trực mang tên Giải phóng quân. Tại Quảng Ngãi, lực lượng du kích Ba Tơ khi mới thành lập vào trung tuần tháng 3/1945, chỉ có một trung đội, cho tới đầu tháng 8 đã phát triển thành hai đại đội du kích tập trung ở hai chiến khu Vĩnh Sơn (Sơn Tịnh) và Núi Lớn (Mộ Đức) với tổng số lên tới 1.000 người. Tại Bắc Giang, cùng với việc tổ chức các đội tự vệ ở khắp các thôn xã, trung tuần tháng 2/1945 thành lập đội du kích tập trung của tỉnh, đến tháng 6 thành lập thêm 4 đội du kích của các huyện Hiệp Hòa, Yên Thế, Phú Bình và Lục Ngạn. Đồng thời, tại nhiều địa phương khác như Hải Dương, Hà Đông, Hà Nam, Hòa Bình… các đội tự vệ cứu quốc và các đội du kích tập trung cũng được xây dựng và phát triển. Tại Nghệ An, các đội tự vệ công nhân, tự vệ cứu quốc được thành lập ở Vinh, Bến Thủy. Tại Thừa Thiên, hầu khắp các xã có cơ sở Việt Minh đều có từ vài tiểu đội đến vài trung đội tự vệ. Hàng loạt đội du kích, tự vệ chiến đấu được hình thành ở An Lỗ, An Sơn (Bình Định), Bầu Bàn (Ninh Thuận), Chánh Lưu, Bến Cát (Thủ Dầu Một), U Minh (Bạc Liêu)... Tại Hà Nội, hầu hết các hội viên Công nhân cứu quốc, các đoàn viên Thanh niên cứu quốc có tinh thần hăng hái dũng cảm đều gia nhập tự vệ chiến đấu. Tới trung tuần tháng 8/1945, lực lượng tự vệ chiến đấu Hà Nội lên tới 8.000 người…
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai đã bước vào giai đoạn cuối. Ngày 09/5/1945, phát xít Đức đầu hàng Hồng quân Liên Xô và lực lượng Đồng minh. Trong nước, cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh mẽ khắp cả nước. Ngày 12/8/1945, sau khi được biết Nhật Bản đề nghị mở đàm phán với các nước Đồng minh để ngừng bắn, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng Việt Bắc đã hạ lệnh cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trong Khu khởi nghĩa. Ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Uỷ ban khởi nghĩa do Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách và đã ra Quân lệnh số 1. Trong giờ phút quyết định vận mệnh dân tộc và đất nước, từ ngày 14 đến 15/8/1945, tại Tân Trào đã diễn ra Hội nghị toàn quốc của Đảng để quyết định tổng khởi nghĩa. Về nhiệm vụ quân sự, Hội nghị nêu rõ: “Mục đích tiến đánh cho quân giặc những đòn chí tử, tiêu diệt lực lượng của chúng, chớp lấy những căn cứ chính (cả các đô thị) trước khi quân Đồng minh vào” [3, tr.429].
Trước thời cơ “ngàn năm có một”, với vai trò làm nòng cốt trong tuyên truyền, vận động nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ cho quần chúng nổi dậy, các đơn vị Giải phóng quân đã nhanh chóng tỏa về các địa phương, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang tại chỗ, các đội du kích, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hưởng ứng, nổi dậy giành chính quyền. Tại các địa bàn trọng yếu, lực lượng vũ trang đã trở thành các mũi xung kích, đi đầu trong việc tuyên truyền để toàn thể nhân dân nhận rõ thời cơ của cách mạng, thực hiện các phương pháp đấu tranh phù hợp với tình hình, đối tượng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa các tổ chức phản động, chống phá cách mạng, v.v. Đây thực sự là cuộc vận động lớn, trực tiếp, thiết thực và hiệu quả nhất để toàn thể nhân dân các địa phương thấy rõ kẻ thù đấu tranh lúc này, đồng loạt nổi dậy phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng tiêu diệt quân Nhật, vô hiệu hóa và lật đổ chính phủ bù nhìn thân Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân. Cùng với đó, lực lượng vũ trang còn tích cực làm công tác địch vận, phân hóa hàng ngũ kẻ thù; khích lệ, động viên những người lầm đường, lạc lối đi theo cách mạng. Nhờ đó, nhiều công chức của chính quyền tay sai đã quay sang làm việc phục vụ cách mạng; nhiều binh lính địch không tuân lệnh chỉ huy, cung cấp tin tức và làm nội ứng cho ta.
Cùng với truyên truyền, vận động nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ cho quần chúng nổi dậy, lực lượng vũ trang đã thực hiện vai trò xung kích, chủ lực trong đấu tranh quân sự, trực tiếp xóa bỏ chính quyền địch, góp phần đưa cách mạng đến thành công. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, mặc dù buộc phải đầu hàng quân Đồng minh, nhưng lực lượng quân đội Nhật ở Đông Dương vẫn còn trên 6 vạn tên. Ở một số nơi, chúng chưa chịu buông vũ khí, thậm chí còn đàn áp phong trào cách mạng. Đây là đối tượng trực tiếp và chủ yếu mà cuộc cách mạng phải loại bỏ. Vì nếu không vô hiệu hóa đội quân này, thì chúng sẽ là chỗ dựa để các lực lượng cơ hội, phản động thừa cơ chống cự, khiến Tổng khởi nghĩa phải kéo dài, bất lợi. Không những thế, việc kéo dài sự tồn tại của quân Nhật sẽ tạo cớ để quân Đồng minh tiến vào giải giáp, khi đó chúng ta không chỉ mất thời cơ thuận lợi để giành chính quyền, mà Tổng khởi nghĩa có thể chuyển sang một tình thế khác với những khó khăn phức tạp mới đi tới được thắng lợi. Trước tình hình đó, Tổng bộ Việt Minh và các ủy ban khởi nghĩa đã chỉ đạo các đơn vị Giải phóng quân và du kích từ căn cứ địa, các chiến khu và căn cứ vũ trang nhanh chóng về các địa phương, phối hợp chặt chẽ với lực lượng tại chỗ, các tổ (đội) bán vũ trang, tổ chức trấn áp, tiêu diệt địch ở các mục tiêu trọng yếu, tạo điều kiện và cùng với quần chúng nhân dân trực tiếp xóa bỏ chính quyền địch, tổ chức chính quyền cách mạng.
Thực hiện chủ trương đó, tại Việt Bắc, ngày 16/8/1945 một đơn vị chủ lực Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy từ Tân Trào tiến về Thái Nguyên đánh địch, phối hợp với quần chúng thiết lập chính quyền cách mạng ở đây, sau đó tiến thẳng về Hà Nội. Tại các địa phương, như: Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Kạn, Yên Bái, Tuyên Quang,… các đơn vị Giải phóng quân đều tập trung lực lượng, cơ động tiến công giải phóng các tỉnh lỵ. Đặc biệt, tại tỉnh Quảng Ngãi, từ chiến khu Vĩnh Sơn, Núi Lớn, hai đại đội du kích: Phan Đình Phùng và Hoàng Hoa Thám, với quân số hạn chế, vũ khí thô sơ, nhưng với quyết tâm cao đã lần lượt tiến đánh và giải phóng các huyện lỵ, tiến tới làm chủ tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Trong thời khắc giành chính quyền, sự xuất hiện và tổ chức hoạt động đấu tranh quân sự của lực lượng vũ trang trên các địa bàn không chỉ cổ vũ toàn dân vùng lên, mà còn khiến kẻ địch khiếp sợ, đầu hàng và nhanh chóng thất bại. Đây là một trong những nét độc đáo về hoạt động phối hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, góp phần quan trọng, trực tiếp giành chính quyền về tay nhân dân ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước.
Đặc biệt, lực lượng vũ trang đã kịp thời hỗ trợ, bảo vệ và là chỗ dựa vững chắc cho lực lượng chính trị quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Với khí thế cách mạng sục sôi, ngay từ khi lệnh Tổng khởi nghĩa được phát ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương, khắp cả nước, từ thành thị đến nông thôn, hơn 20 triệu quần chúng nhất tề vùng lên giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn tay sai. Ở nhiều địa phương, mặc dù Giải phóng quân chưa đến kịp, nhưng với lực lượng chính trị mạnh mẽ của nhân dân, có lực lượng vũ trang và bán vũ trang tại chỗ đã tiên phong, hỗ trợ, tạo động lực lớn cho lực lượng chính trị của quần chúng nổi dậy đấu tranh. Chính từ sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng vũ trang mà lực lượng quần chúng dù chỉ có gậy gộc, giáo mác, thậm chí là tay không, đã nhất tề vùng lên, tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy, biểu tình vũ trang, rồi phát triển đánh chiếm các cơ quan chính quyền của địch, thiết lập chính quyền của nhân dân. Đây là phương thức đấu tranh chủ yếu, quyết định đến thắng lợi nhanh gọn, đồng loạt của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Tiêu biểu cho phương thức này là cuộc nổi dậy của nhân dân các thành phố: Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Đặc biệt, tại Hà Nội - nơi đặt trụ sở của Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim và Bộ Chỉ huy quân Nhật (với số quân khoảng 10.000 tên), nhưng lực lượng vũ trang của ta chỉ có 3 chi đội tự vệ chiến đấu cùng đông đảo quần chúng đối phó với địch. Trước tình hình đó, Đảng bộ Hà Nội đã tổ chức các đội tự vệ, xung kích đi đầu, dẫn dắt hàng chục vạn quần chúng nhân dân mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy, biểu tình vũ trang, nhanh chóng chiếm phủ Khâm Sai, tòa Thị Chính, Bưu Điện, trại Bảo An,… đưa cuộc khởi nghĩa ở trung tâm đầu não địch giành thắng lợi to lớn. Thắng lợi nhanh gọn ở Hà Nội đã thúc đẩy nhiều địa phương trên cả nước tiến hành khởi nghĩa và giành chính quyền về tay nhân dân.
3. Kết luận
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, trong đó lực lượng vũ trang cách mạng và đấu tranh quân sự giữ vai trò quan trọng. Đây là lực lượng nòng cốt, tiên phong, dẫn dắt, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Đúng như đánh giá của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/1960): “Cách mạng tháng Tám thành công căn bản do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy cơ hội thuận tiện nhất, giành chính quyền nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập những khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng không thể mau chóng giành được thắng lợi” [4, tr.631]. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và nhân dân ta đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về khởi nghĩa vũ trang, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh quân sự cho kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ những năm 1945-1975 và trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Tài liệu tham khảo
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, HN, 1998, tr.2.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, HN, 1998, tr.93.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, HN, 1998, tr.129, 240, 429.
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, HN, 1998, tr.631.