Đặng Thị Kim Hồng, Vũ Thị Thùy Phương, Nguyễn Phạm Thanh Huyền
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt: Nghiên cứu này khảo sát xu hướng lựa chọn lợi ích ngắn hạn ở sinh viên dưới góc nhìn lý thuyết chiết khấu trì hoãn trong bối cảnh nhịp sống nhanh, công nghệ số phát triển và xu hướng thỏa mãn tức thời ngày càng gia tăng. Nghiên cứu được thực hiện trên 415 SV Ho Chi Minh City University of Education, sử dụng phương pháp hỗn hợp. Dữ liệu định lượng được thu thập thông qua bảng câu hỏi lựa chọn tiền tệ Monetary Choice Questionnaire (MCQ) và các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc. Kết quả cho thấy 66,02% sinh viên có mức chiết khấu trì hoãn cao (
= 20,16;
= 5,058), phản ánh xu hướng ưu tiên phần thưởng tức thời. Phỏng vấn cho thấy các quyết định mang tính ngắn hạn thường gắn với nhu cầu giải tỏa căng thẳng, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố gây xao nhãng như mạng xã hội, giải trí trực tuyến và áp lực học tập. Sự khác biệt theo giới tính cũng được ghi nhận, với sinh viên nam có mức chiết khấu trì hoãn cao hơn so với sinh viên nữ.
Từ khóa: Xu hướng lựa chọn, lựa ích ngắn hạn, chiết khấu trì hoãn, sinh viên, sự khác biệt giới tính.
1. Đặt vấn đề
Hiện tượng chiết khấu trì hoãn (delay discounting) được hiểu là xu hướng cá nhân ưu tiên lựa chọn phần thưởng nhỏ hơn nhưng nhận được ngay lập tức thay vì phần thưởng lớn hơn phải chờ đợi trong tương lai; đồng thời, giá trị chủ quan của phần thưởng có xu hướng giảm dần khi thời gian trì hoãn tăng lên (Odum, 2011). Mức độ chiết khấu trì hoãn phản ánh sự khác biệt cá nhân trong khả năng đánh giá lợi ích dài hạn và kiểm soát xung động trước các phần thưởng tức thời. Do có liên hệ với nhiều dạng hành vi thích nghi và không thích nghi, hiện tượng này ngày càng được quan tâm trong nghiên cứu tâm lý học và khoa học hành vi hiện đại.
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy chiết khấu trì hoãn có liên quan đến nhiều hành vi và kết quả quan trọng trong đời sống của thanh thiếu niên và sinh viên (SV). Những cá nhân có mức chiết khấu trì hoãn cao thường có xu hướng đưa ra các quyết định thiên về lợi ích ngắn hạn, chẳng hạn như trì hoãn học tập, chi tiêu bốc đồng, sử dụng chất kích thích, chế độ ăn uống không lành mạnh hoặc duy trì lối sống ít vận động (Odum, 2011; Odum, 2020). Các nghiên cứu thực nghiệm cũng ghi nhận sự khác biệt cá nhân đáng kể về mức độ chiết khấu trì hoãn giữa các nhóm dân số khác nhau, trong đó có SV và thanh thiếu niên. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Ha, Minh và Weiss (2019) cho thấy chiết khấu trì hoãn có liên quan đến các hành vi nguy cơ đối với sức khỏe như hút thuốc, uống rượu, chế độ ăn uống thiếu lành mạnh và ít vận động. Những kết quả này cho thấy chiết khấu trì hoãn là một chỉ báo có giá trị trong việc dự đoán hành vi lựa chọn của cá nhân trong nhiều bối cảnh văn hóa - xã hội khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu hiện nay vẫn tập trung tại các quốc gia phương Tây, trong khi bằng chứng thực nghiệm tại các nước đang phát triển, bao gồm Việt Nam, còn tương đối hạn chế. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu chiết khấu trì hoãn ở SV Việt Nam có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. SV là nhóm đang ở giai đoạn chuyển tiếp quan trọng của sự phát triển cá nhân, thường xuyên phải đưa ra các quyết định liên quan đến học tập, tài chính, nghề nghiệp và lối sống. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát mức độ chiết khấu trì hoãn ở SV, qua đó mô tả đặc điểm của hiện tượng này trong bối cảnh học tập và đời sống hiện đại, đồng thời góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực tâm lý học hành vi và ra quyết định.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Phương pháp nghiên cứu
Công cụ nghiên cứu: Sử dụng thang đo và phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc phù hợp với báo nghiên cứu.
- Thang đo MCQ (Monetary Choice Questionnaire): do Kirby, Petry và Bickel (1999) phát triển, MCQ trong nghiên cứu này chưa được chuẩn hóa tại Việt Nam, do đó nhóm nghiên cứu đã chuyển đổi đơn vị tiền tệ từ USD sang VNĐ, đồng thời đảm bảo giữ nguyên cấu trúc các tình huống và tỷ lệ lợi ích - thời gian như thang đo gốc. Dữ liệu từ thang đo MCQ được mã hóa theo nguyên tắc: lựa chọn phần thưởng tức thì nhận 1 điểm, lựa chọn trì hoãn nhận 0 điểm. Tổng điểm (từ 0 đến 27) được dùng để phân loại mức độ chiết khấu của SV thành 3 nhóm: thấp (1-8 điểm), trung bình (9-18 điểm) và cao (19-27 điểm). Việc phân nhóm này nhằm phục vụ cho công tác phân tích tỉ lệ và so sánh các đặc điểm hành vi giữa các nhóm SV
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: Nhằm bổ sung cho MCQ và khai thác hành vi chiết khấu trì hoãn trong bối cảnh phi tiền tề như học tập, quản lý thời gian, cảm xúc và nỗ lực.
Quy trình thu thập dữ liệu: Được triển khai và thu thập thông qua google form, khảo sát trực tiếp. SV tham gia trả lời đảm bảo tính ẩn danh và tự nguyện.
Phân tích dữ liệu: Dữ liệu thu thập được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả và phân tích suy luận nhằm xác định mức độ chiết khấu trì hoãn và khả năng tự kiểm soát của SV trong mẫu nghiên cứu. Các thang đo được sử dụng trong nghiên cứu có mục đích đánh giá xu hướng chiết khấu trì hoãn. Nghiên cứu triển khai thêm phỏng vấn bán cấu trúc với một số SV để khai thác sâu hơn trải nghiệm và cách lý giải các hành vi liên quan đến chiết khấu trì hoãn. Dữ liệu định tính thu được được sử dụng nhằm hỗ trợ diễn giải và làm rõ kết quả định lượng, nâng cao giá trị sinh thái và độ tin cậy diễn giải của nghiên cứu.
2.2. Kết quả nghiên cứu và bình luận
2.2.1. Đặc điểm mẫu khách thể
Nhằm thu thập dữ liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát trên diện rộng đối với SV đang theo học tại các khoa khác nhau thuộc Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Sau giai đoạn làm sạch dữ liệu, loại bỏ những phiếu trả lời không hợp lệ, mẫu nghiên cứu chính thức được đưa vào phân tích là
Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu
|
STT |
Giới tính |
Số lượng (N) |
Tỉ lệ (%) |
|
1 |
Nam |
179 |
43,13 |
|
2 |
Nữ |
236 |
59,87 |
|
Tổng |
Cả hai giới |
415 |
100 |
Dựa trên kết quả thống kê mô tả tại bảng 1, có thể thấy một sự chênh lệch về cơ cấu giới tính trong mẫu nghiên cứu được chia thành hai nhóm. Ở nhóm SV nữ, số lượng khách thể là 236 SV. Con số này tương ứng với tỉ lệ phần trăm là 59,87% so với tổng số khách thể. Còn ở nhóm SV nam, số lượng khách thể là 179 SV tương ứng với 43,13% trên tồng số lượng khách thể. Như vậy, tổng số khách thể là 415 SV, trong đó tỷ lệ nhóm SV nữ cao hơn SV nam trong mẫu khảo sát này.
Dù có sự chênh lệch về mặt số lượng giữa hai nhóm giới tính, mẫu nghiên cứu vẫn đảm bảo được quy mô đủ lớn để tiến hành các phân tích một cách tin cậy. Sự hiện diện của cả hai nhóm giới tính cho phép nghiên cứu có một cái nhìn đa chiều hơn. Sự hiện diện của cả hai nhóm giới tính cho phép nghiên cứu có một cái nhìn đa chiều hơn. Nữ giới thường được biết đến với sự tỉ mỉ, cẩn trọng và có xu hướng kết nối cảm xúc mạnh mẽ khi đưa ra lựa chọn, trong khi nam giới thường có phong cách quyết định nhanh gọn và đôi khi chịu ảnh hưởng bởi tính bốc đồng. Việc mẫu khảo sát bao quát được cả hai nhóm với số lượng đủ lớn (trên 150 người mỗi nhóm) giúp những kết luận về chiết khấu trì hoãn ở sinh viên trở nên khách quan, có độ tin cậy cao và mang tính đại diện tốt cho cộng đồng sinh viên trong bối cảnh hiện nay.
2.2.2. Thực trạng chiết khấu trì hoãn ở sinh viên
Qua khảo sát trên 415 SV của Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh cho thấy sự phân bố không đồng đều giữa các nhóm chiết khấu trì hoãn. Nhóm có mức độ chiết khấu trì hoãn cao chiếm tỉ lệ SV lớn nhất với 274 SV (66,02%), sau đó là nhóm có mức độ chiết khấu trì hoãn ở mức trung bình với 127 SV (30,60%), nhóm có mức độ chiết khấu thấp chiếm tỉ lệ nhỏ nhất với 14 SV (3.37%). Kết quả được trình bày chi tiết theo bảng 2 dưới đây:
Bảng 2: Thực trạng chiết khấu trì hoãn ở SV
|
Biến nghiên cứu |
Số lượng ( |
Giá trị nhỏ nhất Min |
Giá trị lớn nhất Max |
Điểm trung bình ( |
Độ lệch chuẩn ( |
|
Chiết khấu trì hoãn (MCQ) |
415 |
4 |
27 |
20,16 |
5,058 |
Dữ liệu kết quả từ bảng 2 đã thể hiện điểm trung bình thang đo chiết khấu trì hoãn (MCQ) của 415 SV đạt
Độ lệch chuẩn
Xét về tỉ lệ phân bố, nhóm SV có mức độ chiết khấu trì hoãn cao chiếm ưu thế với 274 SV (66,02%). Nhóm trung bình có 127 SV (30,60%). Nhóm thấp chỉ có 14 SV (3,37%). Như vậy, phần lớn SV (gần 2/3) đang ở mức chiết khấu cao, trong khi nhóm có khả năng kiên nhẫn tốt chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ.
Kết quả này phù hợp với giả thuyết ban đầu của nghiên cứu và phản ánh đúng bối cảnh thực tế, nơi các tác nhân kích thích sự thỏa mãn tức thời (mạng xã hội, giải trí trực tuyến, mua sắm điện tử) và áp lực học tập có thể đang đẩy mức độ chiết khấu trì hoãn của SV lên cao.
Phỏng vấn các SV cho thấy nhóm chiết khấu cao có xu hướng ưu tiên hoạt động mang lại niềm vui tức thời, thường xuyên trì hoãn việc học và trải qua cảm xúc tiêu cực sau mỗi lần trì hoãn. Một SV chia sẻ: “Bữa đó có tiết học nhưng bạn rủ đi chơi mặc dù thầy có cho bài tập nhưng vẫn nghỉ để đi chơi với bạn” (SV1 - nam), sau đó cảm thấy “mệt mỏi, suy sụp, cảm giác như một đứa tồi tệ không chú tâm vào việc học”. Một trường hợp khác cho biết: “Đang ngồi làm bài tập thì lướt TikTok một chút và rồi coi hơi lâu nên việc làm bài tập cũng không hiệu quả” (SV2 - nữ) và thường “cảm thấy tội lỗi và thất vọng về bản thân”. Có SV thừa nhận thói quen làm bài đến tận đêm trước ngày nộp: “Ngày mai nộp tiểu luận thì tối trước đó mới làm, thức nguyên đêm” (SV6 - nữ), vì “không có kỷ luật, không có động lực”. Không những thế, nhiều SV chi tiêu theo cảm xúc: “Có tiền thưởng hay được cho thì sẽ chi tiêu trước mắt” (SV7 - nam), “từng dùng hết một triệu đồng mua truyện tranh và hối hận ngay khi bước ra khỏi cửa hàng” (SV12 - nữ). Nhìn chung, nhóm này gặp khó khăn trong việc từ bỏ thú vui trước mắt; cảm xúc hối tiếc xuất hiện phổ biến nhưng chưa đủ mạnh để thay đổi hành vi bền vững. Điều này cho thấy một vòng tuần hoàn: càng trì hoãn càng cảm thấy tội lỗi nhưng cảm xúc tiêu cực đó lại không đủ mạnh để tạo ra động lực thay đổi lâu dài - chỉ càng làm gia tăng mức độ chiết khấu trì hoãn.
Nhóm chiết khấu trung bình có ý thức rõ hơn về quản lý thời gian và chi tiêu nhưng vẫn gặp khó khăn trong duy trì kỷ luật. Một SV chia sẻ: “Bình thường nếu biết hạn deadline thì sẽ ngồi chơi cho đến sát hạn 1-2 ngày mới bắt đầu làm vì bài tập không có hứng thú hoặc nghĩ nó khó” (SV10 - nữ). Sau khi trì hoãn, cảm thấy “thất vọng hoặc tội lỗi vì nghĩ mình có thể làm sớm hơn” nhưng nhận thức này chưa đủ để thay đổi hành vi: “Biết là sai nhưng khó đổi ý, và nó vẫn hiệu quả với mình”. Một SV khác kể: “Lúc mở tập sách ra lại muốn đi mua trà sữa hoặc xem phim, xem xong thường nản và nằm luôn” (SV11 - nữ). Về khía cạnh tài chính, một SV có cách nhìn cân bằng: “Vẫn mua những thứ mình thích đôi khi theo cảm xúc nhưng sau đó sẽ suy nghĩ lại, có thể hủy đơn” (SV14 - nữ). Một số SV áp dụng chiến lược kiểm soát như “tắt mạng, tắt thông báo” hay phương pháp Pomodoro, nhưng tự đánh giá khả năng tự kiểm soát ở mức “trung bình - thấp”. Nhóm này thể hiện sự giằng co nội tâm giữa “nên làm” và “muốn làm”; có nhận thức nhưng kỷ luật chưa bền vững.
Nhóm chiết khấu thấp chỉ chiếm 3,37% nhưng thể hiện khả năng tự kiểm soát và định hướng mục tiêu dài hạn rất rõ ràng. Trong học tập, một SV khẳng định: “Muốn tập trung học thì không cái gì cám dỗ được, học xong đã, cái khác tính sau” (SV3 - nam). Một SV khác có chiến lược bài bản: “Xử lý ngay việc nhỏ trong vòng 2 phút; với việc dài hơn, trì hoãn đến gần deadline nhưng trong thời gian chờ vẫn suy nghĩ và lên ý tưởng” (SV4 - nam). Một khách thể khác chia sẻ nguyên tắc rõ ràng: “Chia 40% tiết kiệm, 60% chi tiêu, tiết kiệm để sau có việc còn dùng” (SV3 - nữ). SV này cũng thể hiện sự nhất quán cao: “Đặt ra thì phải làm được, nhiều khi không đúng 100% thì cũng 80-90%”; “Đã đặt thì phải làm cho xong, không có bỏ ngang”. Một SV nam cũng cho biết: “Có xu hướng tiết kiệm và chi tiêu thận trọng, hình thành từ hoàn cảnh gia đình từng khó khăn”(SV13 - nam). Nhóm chiết khấu thấp không phải là không bao giờ trì hoãn nhưng họ có chiến lược rõ ràng, kỷ luật tốt và khả năng ưu tiên mục tiêu dài hạn một cách nhất quán.
2.2.3. Sự khác biệt về mức độ chiết khấu trì hoãn theo giới tính
Xem xét liệu có sự khác biệt mang tính giới tính trong xu hướng chiết khấu trì hoãn hay không, nghiên cứu đã tiến hành so sánh điểm trung bình thang đo MCQ giữa hai nhóm SV nam và nữ. Kết quả thống kê mô tả được trình bày tại bảng 3 dưới đây.
Bảng 3: Sự khác biệt về mức độ chiết khấu theo giới tính
|
Biến số so sánh |
Giới tính |
Số lượng ( |
Điểm trung bình ( |
Độ lệch chuẩn ( |
|
Chiết khấu trì hoãn (MCQ) |
Nữ |
236 |
20,01 |
5,257 |
|
Nam |
179 |
20,34 |
4,791 |
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tương đồng đáng kể về mặt định lượng nhưng lại có sự phân hóa rõ rệt về mặt chất trong trải nghiệm tâm lý. Cụ thể, số liệu thống kê mô tả ghi nhận điểm trung bình chiết khấu trì hoãn của SV nam (
Các SV nữ trong nhóm chiết khấu cao thường đưa ra lý do liên quan đến cảm xúc tiêu cực và áp lực tâm lý khi giải thích cho hành vi trì hoãn hoặc chi tiêu bộc phát của mình. Một SV nữ thừa nhận: “Thường cảm thấy hơi tội lỗi và cũng hơi thất vọng về bản thân. Kết quả học tập cũng không được như mong muốn” (SV2 - nữ). Những chia sẻ này cho thấy SV nữ có xu hướng gắn kết cảm xúc cá nhân khá mạnh với các quyết định hàng ngày, và chính những cảm xúc tiêu cực như mệt mỏi, tội lỗi, thất vọng,... có thể thúc đẩy họ tìm kiếm các hoạt động giải trí ngắn hạn như một cách để “chữa lành” hoặc tạm quên đi áp lực.
Qua cuộc phỏng vấn cho thấy, các SV nam thường liên quan đến sự thiếu kỷ luật và thói quen hơn là cảm xúc tiêu cực sâu sắc. Một SV nam năm thứ ba chia sẻ: “Rất nhiều, ví dụ đơn giản như là hiện tại cũng đang có một deadline là nghiên cứu khoa học, khá gấp nhưng mà vẫn đang cày game với nhóm bạn” (SV4 - nam). Khi được hỏi về cảm xúc sau khi trì hoãn, SV này trả lời khá thoải mái: “Hối hận vì đã không học nhưng vẫn không học, đơn giản là như thế, về kết quả học tập, nếu cứ tiếp tục thì nó sẽ tệ đi nhưng mà tại vì lúc đó mình nghĩ là vì mình đã không học rồi, kết quả như vậy vẫn là ok, du di đi”. Một SV nam khác cũng có thái độ tương tự: “Hiện tại khá chill với cuộc sống đầy sự trì hoãn, tùy xem mình thích làm hay không thôi”(SV5 - nam). Những trích dẫn này cho thấy SV nam có xu hướng “du di” và chấp nhận trì hoãn như một phần của cuộc sống, ít khi rơi vào trạng thái cảm xúc tiêu cực sâu sắc như SV nữ.
Đối với sự đối mặt với cám dỗ từ mạng xã hội và điện thoại. Một SV nữ chia sẻ: “Khó kiểm soát bản thân nhất khi sử dụng điện thoại và mạng xã hội, đặc biệt là TikTok; thường xuyên nằm lướt các video ngắn từ 1 đến 2 tiếng liên tục” (SV7 - nữ). SV nữ này thừa nhận cảm giác bị cuốn theo một cách khó cưỡng và sau đó thường có cảm xúc hối tiếc. Trong khi đó, một SV nam khi được hỏi về tác nhân gây xao nhãng lại trả lời khá đơn giản: “Sử dụng điện thoại, kiểu nó cuốn và dễ bị lặp lại, ví dụ như mình học xong, mình tự thưởng cho bản thân một thời gian giải trí 5 phút thôi, xong lại 10 phút, lại tiếp tục lặp lại như vậy” (SV2 - nam). Điều đáng chú ý là SV nam này không miêu tả cảm xúc tiêu cực kèm theo mà chỉ đơn thuần mô tả hành vi như một thói quen khó bỏ.
Sự khác biệt này còn thể hiện ở trong cách quản lý tài chính và cảm xúc sau khi chi tiêu. Một SV nữ kể: “Từng dùng hết một triệu đồng để mua truyện tranh tại Fahasa và cảm thấy hối hận ngay khi vừa bước ra khỏi cửa hàng” (SV12). Một SV nữ khác cũng có trải nghiệm tương tự: “Mua những món đồ online trước mắt thấy cần thiết dù sau đó không đụng được một lần. Ví dụ như mua quần áo mà không vừa thì cũng để đó luôn”(SV2 - nữ). Khi cùng câu hỏi về có hối tiếc sau khi tiêu tiền hay không thì đã trả lời: “Có, rất nhiều lần như vậy, một vài lần mua hàng shopee, thấy nó cũng hay hay, mua về thấy hối hận nhưng mà lần sau vẫn mua tiếp, mua về không dùng được và vẫn mua” (SV 3 - nam). Điều này cho thấy dù cả nam hay nữ đều có thể cảm thấy hối tiếc nhưng cách thể hiện cảm xúc lại có sự khác biệt. SV nữ thường kể một cách mạnh mẽ và chi tiết hơn trong khi SV nam thường kể một cách hài hước, xuề xòa và có phần “bất cần” hơn.
Xét trên những điểm số, không thể kết luận rằng giới tính ảnh hưởng đến xu hướng ưu tiên phần thưởng tức thời hay khả năng kiên nhẫn với mục tiêu dài hạn. Tuy nhiên, các trích dẫn từ phỏng vấn cho thấy sự khác biệt về mặt chất trong cách hai nhóm trải nghiệm và phản ứng với cám dỗ, áp lực học tập cũng như quản lý cảm xúc sau trì hoãn. SV nam có xu hướng “du di”, xem nhẹ việc trì hoãn và ít bị cảm xúc tiêu cực kéo dài. Ngược lại, SV nữ thường gắn kết cảm xúc mạnh mẽ hơn với các quyết định của mình, dễ rơi vào trạng thái hối tiếc và thất vọng, nhưng những cảm xúc này không đủ mạnh để tạo ra thay đổi hành vi bền vững. Những sự khác biệt này, dù không thể khái quát hóa thống kê nhưng có giá trị tham khảo quan trọng. Chúng gợi ý rằng các can thiệp giảm chiết khấu trì hoãn có thể cần được điều chỉnh theo giới tính: tập trung vào thay đổi thói quen và thiết kế môi trường cho SV nam và chú trọng điều tiết cảm xúc cũng như giảm cảm giác choáng ngợp cho SV nữ. Các nghiên cứu tiếp theo với mẫu lớn hơn và thiết kế định tính - định lượng kết hợp có thể làm rõ hơn những khác biệt này.
3. Kết luận
Nghiên cứu cho thấy chiết khấu trì hoãn là một hiện tượng phổ biến trong nhóm SV, với hơn một nửa số người tham gia thuộc mức độ cao. Kết quả này phản ánh xu hướng ưu tiên phần thưởng ngắn hạn. Các tác nhân kích thích sự thỏa mãn tức thời như mạng xã hội, mua sắm, giải trí trực tuyến.... trong bối cảnh áp lực học tập và đời sống ngày càng gia tăng. Kết quả khảo sát 415 SV cho biết xu hướng chọn phần thưởng ngắn hạn rất phổ biến, bị chi phối mạnh bởi môi trường số như mạng xã hội và điện thoại thông minh. Nghiên cứu chỉ ra vấn đề cốt lõi là khoảng cách giữa nhận thức và hành động: SV hiểu rõ tác hại của sự trì hoãn nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc tự kiểm soát hành vi thực tế. SV nữ có xu hướng gắn kết cảm xúc mạnh mẽ hơn với các lựa chọn hàng ngày và dễ tìm kiếm sự thỏa mãn tức thời như một cơ chế đối phó với các áp lực, trong khi các SV nam thường có thái độ “du di” và ít khi để cảm xúc chi phối sâu sắc. Điều này cho thấy việc tiếp cận chiết khấu trì hoãn dưới góc độ “thiếu kỷ luật” là chưa đủ. Có thể hiểu nó như một cách nghi trước áp lực, một phản ứng có điều kiện của cá nhân trước những môi trường sống có rất nhiều căng thẳng. Từ những kết quả trên, nghiên cứu nhấn mạnh rằng các biện pháp can thiệp cần chú trọng vào việc thiết kế môi trường hỗ trợ như không gian học tập hạn chế xao nhãng, các khóa đào tạo về điều tiết cảm xúc và cung cấp chiến lược quản lý cảm xúc thực tiễn cho SV. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn những hạn chế nhất định về phương pháp và đặc điểm mẫu. Các nghiên cứu trong tương lai cần mở rộng phạm vi và kết hợp các thiết kế thực nghiệm để kiểm chứng sâu hơn các kết luận đã đạt được.
____________
Tài liệu tham khảo
1.Casey, B. J., Jones, R. M., & Hare, T. A. (2008). The adolescent brain. Annals of the New York Academy of Sciences, 1124(1), 111-126. https://doi.org/10.1196/annals.1440.010
2.Ha, T. H., Minh, D. H., & Weiss, B. (2019). Delay Discounting and Health Risk Behaviors: A Review and Suggestions for School-Based Intervention in Vietnam.
3.Kirby, K. N., & Herrnstein, R. J. (1995). Preference reversals due to myopic discounting of delayed reward. Psychological Science, 6(2), 83-89. https://doi.org/10.1111/j.1467-9280.1995.tb00311.x
4.Kirby, K. N., Petry, N. M., & Bickel, W. K. (1999). Heroin addicts have higher discount rates for delayed rewards than non-drug-using controls. Journal of Experimental Psychology: General, 128(1), 78-87. https://doi.org/10.1037/0096-3445.128.1.78.
5.Madden, G. J., & Bickel, W. K. (Eds.). (2010). Impulsivity: The behavioral and neurological science of discounting. American Psychological Association. https://doi.org/10.1037/12069-000.
6.Odum, A. L. (2011). Delay discounting: I’m a k, you’re a k. Journal of the Experimental Analysis of Behavior, 96(3), 427-439.
https://doi.org/10.1901/jeab.2011.96-423.
7.Odum, A. L. (2020). Delay discounting: Trait variable? Behavioural Processes, 177, 104139. https://doi.org/10.1016/j.beproc.2020.104139.
8.Tangney, J. P., Baumeister, R. F., & Boone, A. L. (2004). High self-control predicts good adjustment, less pathology, better grades, and interpersonal success. Journal of Personality, 72(2), 271-324. https://doi.org/10.1111/j.0022-3506.2004.00263.x.
SHORT-TERM REWARD PREFERENCE AMONG STUDENTS: A DELAY DISCOUNTING PERSPECTIVE
Dang Thi Kim Hong, Vu Thi Thuy Phuong, Nguyen Pham Thanh Huyen
Ho Chi Minh City University of Education
Email: [email protected]
Abstract: This study examines short-term reward preferences among university students through the lens of delay discounting theory in the context of rapid lifestyle, digital technology development, and the increasing trend of instant gratification. The study was conducted on 415 students at Ho Chi Minh City University of Education using a mixed-methods approach. Quantitative data were collected through the Monetary Choice Questionnaire (MCQ) and semi-structured interviews. Results show that 66.02% of students had a high level of delay discounting (
Keywords: Choice preference, short-term reward preference, delay discounting, university students, gender differences.