PGS.TS. Vũ Nho -
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và bồi dưỡng nhân tài là một nội dung đặc biệt sâu sắc trong di sản tư tưởng của Người, phản ánh tầm nhìn chiến lược, tinh thần nhân văn và triết lý phát triển bền vững, gắn kết giữa con người và vận mệnh dân tộc. Bài viết này giới thiệu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tài, phát hiện, giáo dục, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài. Rút ra những bài học về giáo dục, bồi dưỡng nhân tài trong giai đoạn hiện nay
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục, bồi dưỡng, nhân tài
Nhận bài: 22/9/2025; Biên tập: 26/9/2025; Duyệt đăng:28/9/2025
1. Lời nói đầu
Giáo dục và đào tạo nhân tài luôn là vấn đề mang tầm chiến lược sống còn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, tư tưởng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” đã trở thành nền tảng tư tưởng vững chắc cho mọi triều đại trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Tư tưởng ấy càng được khẳng định mạnh mẽ và phát triển sâu sắc hơn trong thời đại Hồ Chí Minh - Thời đại của độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp phát hiện, đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng nhân tài. Theo Người, muốn xây dựng đất nước độc lập, hùng cường thì nhất thiết phải coi trọng giáo dục, phải tìm kiếm, trọng dụng và phát huy nhân tài. Người không chỉ khẳng định vai trò, vị trí then chốt của nhân tài trong công cuộc “kiến quốc”, mà còn trực tiếp đề ra nhiều phương châm, biện pháp cụ thể trong việc giáo dục và phát triển đội ngũ cán bộ có đức, có tài - những người sẽ đảm đương trọng trách dựng xây đất nước trong hiện tại và tương lai.
Trong bối cảnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và bồi dưỡng nhân tài có ý nghĩa to lớn về cả lý luận và thực tiễn. Tư tưởng ấy chính là kim chỉ nam để Đảng, Nhà nước ta xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài - những trụ cột để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Xuất phát từ nhận thức trên, chuyên đề này tập trung làm rõ những nội dung trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và bồi dưỡng nhân tài; đồng thời phân tích giá trị và ý nghĩa vận dụng tư tưởng đó trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực, phát triển giáo dục và đào tạo hiện nay ở Việt Nam.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân tài
Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh đất nước mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, trí thức để phục vụ công cuộc kiến thiết quốc gia. Trong bài báo “Nhân tài và kiến quốc” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 14/11/1945, Người khẳng định: “Kiến quốc cần có nhân tài”. Đây là một tuyên bố quan trọng, đặt vấn đề nhân tài vào vị trí then chốt trong công cuộc xây dựng đất nước sau cách mạng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tài là người có tài năng, nhưng không thể tách rời đạo đức. Trong bài viết “Tìm người tài đức” (Báo Cứu quốc, số 411, ngày 20/11/1946), Người nêu rõ: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài”; “Người tài thì nhiều. Nhân dân ta rất thông minh. Tìm người tài là việc rất cần thiết, là một trong những việc rất quan trọng”. Như vậy, nhân tài theo tư tưởng Hồ Chí Minh là người vừa có đức, vừa có tài. Người cho rằng: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.
Trong bài nói tại lớp huấn luyện cán bộ vào năm 1956, Bác ví von rất hình ảnh: “Có tài mà không có đức thì tham ô, hủ hóa, có hại cho nước. Có đức mà không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”. Như vậy, tiêu chuẩn “tài” và “đức” luôn là hai yếu tố không thể tách rời trong nhân cách của người cán bộ, người tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “tài” là khả năng chuyên môn, năng lực thực tiễn, còn “đức” là tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Người nhấn mạnh rằng “dụng nhân như dụng mộc” - tức là phải dùng đúng người, đúng việc, phát huy tốt nhất sở trường của từng người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không coi nhân tài là thứ gì xa vời hay chỉ có ở giới trí thức, mà ngược lại, người tài nằm trong nhân dân. Người từng căn dặn: “Nhân tài không phải từ trên trời rơi xuống. Nhân tài ở ngay trong nhân dân. Các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì báo cáo cho Chính phủ biết”. Quan niệm đó thể hiện một tư tưởng rất dân chủ, tiến bộ và nhân văn: Phải đặt niềm tin vào nhân dân, phải chủ động tìm kiếm, khơi dậy và phát triển nhân tài từ trong quần chúng. Đây cũng là điểm rất đặc sắc, tạo nên chiều sâu thực tiễn và giá trị lâu dài trong tư tưởng giáo dục và dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem nhân tài là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp cách mạng; là “nguyên khí quốc gia” theo đúng truyền thống văn hóa dân tộc. Việc phát hiện, đào tạo, sử dụng và phát huy nhân tài là một nhiệm vụ chiến lược, không thể coi nhẹ. Quan niệm về nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, là kim chỉ nam cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta.
2.2. Nhân tài tiềm ẩn trong nhân dân
Một trong những điểm đặc sắc, thể hiện rõ tầm nhìn sâu rộng và tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân tài là quan niệm: Nhân tài không tự nhiên sinh ra, mà tiềm ẩn trong nhân dân. Từ những ngày đầu lập quốc, Người đã khẳng định, đội ngũ nhân tài phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết nước nhà không thể chỉ bó hẹp trong giới trí thức được đào tạo bài bản, mà phải được tìm kiếm và bồi dưỡng từ mọi tầng lớp trong xã hội.
Trong bài viết “Tìm người tài đức” (1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhân tài ở nước ta rất nhiều. Nhân dân ta rất thông minh. Vấn đề là chúng ta có biết tìm, biết quý, biết trọng dụng và tạo điều kiện cho họ phát triển hay không”. Người đã nhiều lần nhấn mạnh: “Nhân tài không phải ở trên trời rơi xuống. Nhân tài ở ngay trong nhân dân”; “Cần phải tìm người tài trong quần chúng, không phân biệt già trẻ, gái trai, dân tộc, tôn giáo, miễn là có tài, có đức thì đều có thể đóng góp cho nước”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mọi con người đều có khả năng phát triển nếu được phát hiện, giáo dục và rèn luyện đúng cách. Vì vậy, Người chỉ đạo các địa phương phải khẩn trương rà soát, điều tra nơi nào có người tài đức thì phải báo cáo với Chính phủ để có kế hoạch sử dụng hợp lý. Người căn dặn: “Tài to thì dùng làm việc to, tài nhỏ thì dùng làm việc nhỏ. Ai có năng lực gì thì đặt vào đúng việc ấy. Biết dùng người như vậy thì không lo thiếu cán bộ”. Cách nhìn nhận ấy thể hiện tư tưởng rất thực tiễn và linh hoạt của Người. Không cứng nhắc chỉ dùng người theo bằng cấp, lý lịch hay xuất thân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến khả năng thực tế và hiệu quả công việc. Đây là một quan điểm hết sức tiến bộ và vẫn còn nguyên tính thời sự trong công tác cán bộ, giáo dục nhân tài hiện nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tài không chỉ dừng lại ở nhận thức, mà còn được thể hiện sinh động trong thực tiễn cách mạng. Ngay từ những năm đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã trực tiếp mời nhiều trí thức nổi tiếng cả trong và ngoài nước, không phân biệt Nho học hay Tây học, tham gia Chính phủ, đảm nhiệm những chức vụ quan trọng. Những nhân vật tiêu biểu như: Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Trần Đại Nghĩa, Phan Anh, Vũ Đình Huỳnh… đều là những ví dụ điển hình cho việc trọng dụng người tài từ nhiều nguồn khác nhau, không hề gò bó trong khuôn khổ hành chính thông thường.
Không chỉ vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chủ trương tạo điều kiện để mọi người dân đều được học tập, khai mở năng lực cá nhân nhằm phục vụ đất nước. Chiến dịch “Bình dân học vụ” do Người phát động không chỉ để xóa nạn mù chữ, mà còn là một bước quan trọng để phát triển tiềm năng nhân lực trong toàn xã hội - đặt nền móng cho sự phát hiện và phát triển nhân tài từ trong dân chúng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “nhân tài trong dân” thể hiện một quan niệm hết sức nhân văn và cách mạng: Nhân dân là cội nguồn của nhân tài. Đó là tư tưởng dân chủ, đề cao giá trị con người và khuyến khích phát triển cá nhân để phụng sự cộng đồng. Chính tư tưởng này đã góp phần làm nên sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nguồn lực vững mạnh cho cách mạng Việt Nam từ những ngày đầu.
2.3. Giáo dục là con đường để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem giáo dục là nền tảng để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Người đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục với câu thơ: “Thiện ác nguyên lai vô định tính; Đa do giáo dục đích nguyên nhân
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn; Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Theo Người, một dân tộc muốn tiến bộ, muốn độc lập thực sự, thì phải có tri thức, có con người đủ năng lực để gánh vác công cuộc kiến thiết đất nước. Do đó, giáo dục không chỉ là nhiệm vụ thiết yếu của một quốc gia văn minh, mà còn là chiến lược căn bản để tạo ra nhân tài phục vụ Tổ quốc.
Ngay từ những năm đầu của chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp phát động chiến dịch “diệt giặc dốt” nhằm xóa mù chữ cho hàng triệu người dân. Với Người, việc biết chữ là bước đầu tiên để con người mở mang tri thức, khai mở năng lực, từ đó mới có thể vươn lên làm chủ cuộc sống và đóng góp cho xã hội. Đây cũng là cách Người mở rộng nền tảng để phát hiện và phát triển nhân tài từ toàn dân.
Người nói rõ: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Muốn giữ vững độc lập, phải phát triển văn hóa, nâng cao trình độ dân trí”. Không dừng lại ở xóa mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng xây dựng hệ thống giáo dục mới - một nền giáo dục Việt Nam độc lập, dân tộc, khoa học và đại chúng, nhằm phát triển toàn diện năng lực con người. Trong bức thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên (5/9/1945), Bác đã viết: “Ngày nay, các em được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo các em thành những công dân hữu ích cho nước Việt Nam… phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.
Quan điểm “phát triển năng lực sẵn có” phản ánh tầm nhìn tiến bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục. Đó là một quá trình khơi dậy, bồi dưỡng, phát triển tiềm năng cá nhân thay vì áp đặt hoặc nhồi nhét. Giáo dục, vì thế, chính là chiếc nôi để ươm mầm và phát hiện nhân tài từ khi còn là học sinh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh vai trò đặc biệt của người thầy trong sự nghiệp phát triển con người. Người từng nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường học tập”; “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.
Trong kháng chiến chống Pháp và sau này chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt quan tâm đến việc mở các lớp đào tạo cán bộ, các trường đại học dự bị, trường sư phạm, trường khoa học cơ bản…, như: Trường Đại học Y - Dược Việt Bắc, Trường Sư phạm cao cấp tại Khu IV, hay các lớp tại Khu học xá Trung Quốc. Những cơ sở đó không chỉ cung cấp cán bộ cho kháng chiến, mà còn là nơi ươm mầm nhân tài cho đất nước sau hòa bình. Đặc biệt, trong phong trào thi đua “Hai tốt” (Dạy tốt - Học tốt) được Người phát động, Bác yêu cầu các trường học không chỉ truyền đạt tri thức mà phải rèn luyện đạo đức, nhân cách, phẩm chất cho học sinh - những nhân tố cốt lõi cấu thành nên một người tài đúng nghĩa.
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thể hiện rõ quan điểm:
Giáo dục là quyền của toàn dân;
Giáo dục là phương tiện nâng cao trí tuệ dân tộc;
Giáo dục là nền tảng để đào tạo đội ngũ kế cận có đức, có tài;
Giáo dục là con đường chủ đạo để phát hiện, bồi dưỡng và phát huy nhân tài.
Ngày nay, các mô hình trường chuyên, lớp chọn, chương trình đào tạo học sinh giỏi quốc gia, đưa học sinh đi thi Olympic quốc tế… chính là sự kế thừa trực tiếp từ tư tưởng giáo dục phát hiện nhân tài của Người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức rõ vai trò quyết định của giáo dục trong chiến lược phát triển con người - nguồn lực quan trọng nhất của mọi quốc gia. Người không chỉ xác lập cơ sở lý luận vững chắc về giáo dục nhân tài, mà còn xây dựng hệ thống chính sách và thực tiễn giáo dục phù hợp để ươm mầm và bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp cách mạng.
2.4. Quan tâm đặc biệt đến thế hệ trẻ - nền tảng của nhân tài tương lai
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thế hệ trẻ chính là rường cột của nước nhà, là chủ nhân tương lai của đất nước, và cũng là lực lượng quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Người nhiều lần khẳng định vai trò quyết định của thế hệ trẻ trong công cuộc dựng xây và bảo vệ Tổ quốc.
Ngay trong bức thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (5/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ tình cảm chân thành, niềm tin sâu sắc và kỳ vọng lớn lao đối với thế hệ học sinh - lớp người trẻ sẽ gánh vác trọng trách tương lai của dân tộc. Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, Dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, Chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Câu nói ấy không chỉ mang ý nghĩa cổ vũ học trò, mà còn hàm chứa triết lý giáo dục sâu sắc: Đầu tư cho thế hệ trẻ là đầu tư cho tương lai của quốc gia, dân tộc. Những em học sinh chăm học hôm nay chính là nhân tài kiến quốc ngày mai.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ. Theo Người, thanh thiếu niên phải được:
- Học tập đầy đủ để phát triển năng lực cá nhân;
- Được giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh, tinh thần yêu nước và ý thức phục vụ nhân dân;
- Được tạo điều kiện tham gia thực tiễn xã hội để trưởng thành về trí tuệ, phẩm chất và bản lĩnh.
Người nhiều lần căn dặn thanh niên: “Thanh niên là rường cột của nước nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”; “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Câu nói trong Di chúc thiêng liêng ấy là lời dặn cuối cùng của Bác, thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự lo toan sâu sắc cho tương lai đất nước.
Để thực hiện nhiệm vụ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của giáo dục toàn diện: Không chỉ học chữ, học nghề, mà còn phải học làm người, học làm công dân có ích. Người kêu gọi các trường học tích cực thi đua “Dạy tốt - Học tốt”, xây dựng môi trường học đường lành mạnh, nơi ươm mầm lý tưởng sống, khơi dậy khát vọng cống hiến và rèn luyện bản lĩnh cho học sinh, sinh viên.
Trong suốt quá trình cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng, động viên, giao nhiệm vụ cho lớp trẻ. Người khuyến khích họ tham gia công việc nước nhà, từ các đội thiếu niên tình báo trong kháng chiến cho đến cán bộ trẻ trong các phong trào thi đua yêu nước, phát triển khoa học kỹ thuật sau ngày hòa bình lập lại.
Đặc biệt, tư tưởng "lấy thanh niên làm trung tâm trong việc phát triển nhân tài" của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở lời nói, mà còn cụ thể hóa trong hành động: mở các lớp đào tạo, trường chuyên biệt, phát động phong trào học sinh, sinh viên thi đua học tập tốt, rèn luyện tốt. Ngày nay, việc Đảng và Nhà nước tiếp tục xây dựng các trường năng khiếu, tổ chức kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và quốc tế, các học bổng khuyến tài… chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng ấy.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định vai trò trung tâm của thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, mà còn đặc biệt coi họ là lực lượng cốt lõi trong chiến lược phát triển nhân tài quốc gia. Quan điểm này là kim chỉ nam để toàn xã hội hướng tới một nền giáo dục khai phóng - phát triển - nhân bản, nhằm bồi dưỡng lớp người “vừa hồng, vừa chuyên”, có khả năng đưa dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu.
2.5. Nghệ thuật dùng người - Trọng dụng và phát huy nhân tài trong thực tiễn cách mạng
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là điều cần thiết, nhưng biết sử dụng đúng người, đúng việc, đúng lúc mới là yếu tố then chốt để nhân tài phát huy hết khả năng cống hiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề cao việc trọng dụng người tài, mà còn là một nghệ sĩ trong nghệ thuật dùng người, thể hiện rõ trong cách Người tổ chức bộ máy lãnh đạo, lựa chọn cán bộ và điều hành cách mạng.
- Quan điểm “dụng nhân như dụng mộc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ví việc dùng người giống như việc dùng gỗ: “Dụng nhân như dụng mộc - gỗ thẳng thì làm cột, làm xà; gỗ cong thì làm bánh xe, làm khuôn cửa… biết dùng đúng chỗ thì không có gỗ nào là vô dụng cả”. Quan điểm này thể hiện cách nhìn toàn diện và thực tế của Người: Mỗi người đều có điểm mạnh, điểm yếu khác nhau, điều quan trọng là phải đặt họ đúng vị trí phù hợp với năng lực. Bác nhấn mạnh: “Tài to thì làm việc to, tài nhỏ thì làm việc nhỏ; ai có năng lực gì thì đặt vào việc ấy”. Đây là nguyên lý cơ bản của nghệ thuật dùng người, giúp phát huy tối đa năng lực từng cá nhân và tránh lãng phí nguồn nhân lực - điều mà ngày nay vẫn luôn là bài học quý giá trong công tác cán bộ.
- Trọng dụng nhân tài không phân biệt lý lịch, xuất thân. Chủ tịch Hồ Chí Minh có tư duy dùng người rất khoan dung, cởi mở, vượt lên trên định kiến. Người không phân biệt nguồn gốc, xuất thân, học vấn hay quá khứ, mà chỉ căn cứ vào tài năng, đạo đức và khả năng cống hiến thực tế. Điều này thể hiện rõ qua việc Bác mời những nhân sĩ trí thức Nho học như: Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn; các trí thức Tây học như: Trần Đại Nghĩa, Phạm Huy Thông, Phan Anh… vào Chính phủ cách mạng ngay từ buổi đầu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tin rằng, nếu người tài được tin tưởng, được tạo điều kiện và trao cơ hội, họ sẽ tận tâm, tận lực phục vụ đất nước, dù họ từng đứng ở đâu trong quá khứ. Đây là biểu hiện sâu sắc của tinh thần đại đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước bao dung, vị tha.
- Phát huy vai trò người quản lý trong sử dụng nhân tài. Bác từng nói: “Phải biết tùy tài mà dùng người thì sẽ thành công. Lãnh đạo khéo thì tài nhỏ hóa thành tài to; lãnh đạo vụng thì tài to hóa ra tài nhỏ”. Câu nói này không chỉ thể hiện tư tưởng dùng người, mà còn là lời cảnh báo đối với người làm công tác tổ chức, lãnh đạo. Theo Người, nếu người quản lý không có tâm, không có tầm, thì sẽ lãng phí hoặc làm thui chột nhân tài - đó là mất mát không gì bù đắp được.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề cao việc sử dụng người tài, mà còn yêu cầu người lãnh đạo phải có “con mắt tinh đời”, phải trọng người hiền, đãi người tài, tôn vinh người giỏi, đồng thời không ghen ghét, không ích kỷ, không kiêu ngạo.
- Tấm gương trong thực tiễn cách mạng. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp lựa chọn, rèn luyện và sử dụng nhiều nhân tài cho các lĩnh vực: Chính trị, quân sự, khoa học, giáo dục, y tế… Các tướng lĩnh như: Võ Nguyên Giáp, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Sơn… hay các nhà khoa học như: Lê Văn Thiêm, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Xiển… đều được Bác tin tưởng giao nhiệm vụ quan trọng từ khi họ còn rất trẻ. Sự tin tưởng và khích lệ của Bác chính là động lực để họ cống hiến hết mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tạo điều kiện để nhân tài được thử sức trong thực tiễn, được rèn luyện và phát triển, chứ không chỉ đánh giá dựa trên văn bằng hay lý lịch. Đó chính là biểu hiện sinh động nhất cho quan điểm “trọng dụng người tài vì việc nước”.
Tóm lại, nghệ thuật dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tổng hòa giữa nhận thức sâu sắc, niềm tin vào con người, tư duy chiến lược và khả năng tổ chức tài tình. Đó là sự kết hợp giữa cái tâm, cái tầm và bản lĩnh lãnh đạo. Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, việc học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật dùng người - trọng dụng và phát huy nhân tài - vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2.6. Tư tưởng Hồ Chí Minh trong chính sách của Đảng và Nhà nước về bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài không chỉ dừng lại ở những quan điểm lý luận mang tính nền tảng, mà đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam kế thừa, cụ thể hóa thành đường lối, chính sách lớn trong chiến lược phát triển con người và đất nước.
- Quan điểm nhất quán của Đảng về vai trò của nhân tài. Ngay từ những văn kiện đầu tiên, Đảng ta đã xác định trí thức và nhân tài là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp cách mạng. Quan điểm này xuyên suốt từ thời kỳ đấu tranh giành độc lập đến công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại hội X của Đảng (2006) đã nêu rõ trong văn kiện: “Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Thu hút chuyên gia, đặc biệt là chuyên gia giỏi người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia giảng dạy, phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam”.
Tư tưởng “trọng người hiền, đãi người tài” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được cụ thể hóa trong chủ trương “phát hiện - bồi dưỡng - trọng dụng - đãi ngộ - phát huy nhân tài” trong nhiều văn kiện Đảng.
- Đào tạo, bồi dưỡng nhân tài qua hệ thống giáo dục. Đảng và Nhà nước đã đẩy mạnh chủ trương xây dựng các hệ thống trường chuyên, lớp chọn, tổ chức các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, Olympic quốc tế và phát triển chương trình đào tạo tài năng ở các trường đại học lớn. Đại hội XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”; “Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ”. Đây là sự kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rằng giáo dục là con đường bền vững để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, là cơ sở để nâng cao dân trí và phát triển nguồn lực quốc gia.
- Chính sách thu hút và sử dụng nhân tài. Nhằm hiện thực hóa tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử dụng người tài không phân biệt xuất thân, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mở như:
Nghị định 140/2017/NĐ-CP về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ;
Các chương trình học bổng, du học, hỗ trợ nghiên cứu khoa học cho học sinh giỏi, sinh viên tài năng, nhà khoa học trẻ;
Quy hoạch các khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo nhằm quy tụ đội ngũ trí thức trong và ngoài nước cùng đóng góp cho sự phát triển đất nước.
Các địa phương cũng chủ động xây dựng chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” phù hợp, coi trọng người thực tài và trao quyền tự chủ nhiều hơn cho nhà khoa học, nhà giáo, chuyên gia giỏi.
- Tôn vinh, khích lệ tinh thần cống hiến. Ngoài chính sách đãi ngộ, Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh việc tôn vinh giá trị cống hiến của trí thức và nhân tài thông qua:
Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới;
Danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Thầy thuốc Nhân dân, Nghệ sĩ Nhân dân;
Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học - công nghệ, văn học - nghệ thuật.
Những hình thức ghi nhận này không chỉ mang tính biểu dương, mà còn góp phần nuôi dưỡng động lực cống hiến và khát vọng vươn lên của các thế hệ trí thức trẻ - đúng như Bác Hồ từng mong muốn: “Cần phải có chính sách khuyến khích những người có tài, có đức đóng góp cho đất nước”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài đã trở thành nền tảng lý luận và kim chỉ nam cho các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển nhân tài là nhiệm vụ chiến lược để đất nước phát triển nhanh, bền vững, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc như Bác hằng mong mỏi.
2.7. Giá trị thời đại và bài học vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, bồi dưỡng nhân tài trong giai đoạn hiện nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài không chỉ mang giá trị lịch sử, mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.
Giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tài:
Thứ nhất, xác lập vai trò trung tâm của con người trong phát triển quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Muốn “kiến quốc” thì “phải có nhân tài”. Trong bối cảnh hiện nay, khi tài nguyên thiên nhiên không còn là lợi thế lớn, thì nguồn nhân lực chất lượng cao chính là động lực tăng trưởng bền vững.
Thứ hai, tư tưởng của Bác đặt ra tầm nhìn chiến lược về giáo dục như một con đường cốt lõi để “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đó là mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm - một nguyên lý cốt lõi trong lý luận phát triển hiện đại.
Thứ ba, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yếu tố “đức và tài song hành”. Đây là định hướng quan trọng trong bối cảnh đất nước đối diện với nhiều thách thức về đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm của một bộ phận người trẻ. Bác nhấn mạnh: “Có tài mà không có đức là người vô dụng; có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.
2.8. Bài học vận dụng trong giai đoạn hiện nay:
Một là, khẳng định lại vai trò chiến lược của giáo dục và đào tạo. Trong thời đại chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và nền kinh tế tri thức, giáo dục cần đổi mới mạnh mẽ từ tư duy đến phương pháp và chương trình, để phát hiện và nuôi dưỡng những năng lực đặc biệt của từng học sinh. Cần hướng đến một nền giáo dục khai phóng, sáng tạo và cá nhân hóa, để mỗi học sinh đều có cơ hội phát triển thành nhân tài theo thế mạnh riêng.
Hai là, xây dựng môi trường tôn trọng và phát huy người tài. Phát hiện nhân tài là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là giữ chân và tạo động lực để họ cống hiến. Vì vậy, cần hoàn thiện các cơ chế đãi ngộ công bằng, minh bạch, chống tệ nạn “trọng bằng cấp hơn thực tài” và “bè phái - thân hữu”. Mỗi tổ chức, cơ quan cần trở thành “môi trường hiền tài phát triển”.
Ba là, coi trọng giáo dục đạo đức, lý tưởng và tinh thần cống hiến. Không ít nhân tài trẻ hiện nay đối mặt với khủng hoảng giá trị, thiếu định hướng. Tư tưởng Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc đào tạo con người toàn diện “vừa hồng, vừa chuyên” - không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có bản lĩnh, trách nhiệm, đạo đức. Giáo dục lý tưởng sống, khơi dậy tinh thần yêu nước, phụng sự, là điều đặc biệt cần thiết.
Bốn là, phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong chiến lược nhân tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi trọn niềm tin vào thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không… chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Ngày nay, với dân số trẻ, Việt Nam có cơ hội lớn nếu biết đầu tư đúng vào thế hệ thanh, thiếu niên thông qua giáo dục chất lượng cao, môi trường đổi mới sáng tạo và chính sách phát triển tài năng trẻ toàn diện.
Năm là, học theo nghệ thuật dùng người của Bác. Lãnh đạo các cấp cần nâng cao tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh lựa chọn đúng người, đúng việc, tạo cơ hội phát triển cho nhân tài trẻ, nhân tài địa phương, nhân tài tiềm ẩn. Đặc biệt, phải có “con mắt tinh đời” để không bỏ sót người giỏi vì rào cản lý lịch, xuất thân.
Tóm lại, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và nhân tài không chỉ là di sản quý báu của dân tộc, mà còn là kim chỉ nam trong xây dựng chiến lược phát triển con người, yếu tố then chốt để đất nước vươn lên. Trong bối cảnh mới của đất nước, việc vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh trong chính sách phát triển nhân tài là điều kiện tiên quyết để xây dựng một Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu.
3. Kết luận:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và bồi dưỡng nhân tài là một nội dung đặc biệt sâu sắc trong di sản tư tưởng của Người, phản ánh tầm nhìn chiến lược, tinh thần nhân văn và triết lý phát triển bền vững, gắn kết giữa con người và vận mệnh dân tộc.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò then chốt của nhân tài đối với sự nghiệp kiến quốc, đồng thời chỉ rõ: Muốn có nhân tài thì phải đầu tư cho giáo dục, phải tìm người tài trong nhân dân, phải biết “trọng đức, trọng tài” và “tùy tài mà dụng”. Tư tưởng đó không chỉ được thể hiện trong lời nói, bài viết, mà còn được cụ thể hóa bằng hành động, qua cách Người lựa chọn, bồi dưỡng và sử dụng lớp cán bộ, trí thức từ những năm đầu giành độc lập dân tộc cho đến khi Người đi vào cõi vĩnh hằng.
Ngày nay, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và bồi dưỡng nhân tài tiếp tục soi sáng đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong quá trình xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc phát triển đất nước. Việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát huy giá trị thời đại của Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục và phát triển nhân tài là nhiệm vụ cấp thiết để Việt Nam vững bước trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức.
Mỗi người làm công tác giáo dục, mỗi cán bộ quản lý, mỗi cơ quan, tổ chức đều có trách nhiệm góp phần phát hiện, nuôi dưỡng, bảo vệ và phát huy nhân tài - vì tương lai của dân tộc, vì một Việt Nam hùng cường, nhân ái và phát triển bền vững.
--------------
Tài liệu tham khảo
1. Hồ Chí Minh (1945), Nhân tài và kiến quốc, Báo Cứu quốc, 14/11/1945.
2. Hồ Chí Minh (1946), Tìm người tài đức, Báo Cứu quốc, số 411, 20/11/1946.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, NXB CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 345, 346.
6. Thư Bác Hồ gửi các học sinh năm 1945 (Báo Nhân Dân điện tử, 17/9/2010).
7. Hồ Chí Minh (1996) Nhật kí trong tù, NXB Văn hóa-Thông tin, 1996, (tr.191).
8. Hồ Chí Minh (1956), Bài nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp 1, ngày 12/6/1956.
9. Hồ Chí Minh (1969), Di chúc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, 2006.
11. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, 2011.
12. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, 2016.
13. Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về phát triển nguồn nhân lực.
14. Phạm Tất Dong (2007), Giáo dục và phát triển con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 3.
15. Nguyễn Trọng Phúc (2021), Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài, Báo Nhân Dân điện tử.
16. Đặng Quốc Bảo (2008), Giáo dục với sự nghiệp phát triển đất nước và tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, số chuyên đề.
Ý kiến bạn đọc