Nguyễn Xuân Thủy
Đại học Nguyễn Huệ
Email: [email protected]
Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về bồi dưỡng năng lực huấn luyện của học viên các trường sĩ quan Quân đội hiện nay. Trên cơ sở phân tích khái niệm, cấu trúc năng lực huấn luyện và đánh giá thực trạng, bài viết chỉ ra những ưu điểm, hạn chế trong quá trình đào tạo. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp chủ yếu như: đổi mới chương trình, nội dung đào tạo theo hướng phát triển năng lực; tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành; đổi mới phương pháp giảng dạy; phát huy vai trò tự học của học viên; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và gắn đào tạo với thực tiễn đơn vị. Những giải pháp này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.
Từ khóa: Năng lực huấn luyện; học viên sĩ quan; đào tạo quân sự; phương pháp huấn luyện; đổi mới giáo dục Quân đội.
1. Đặt vấn đề.
Trong bối cảnh hiện nay, Đảng ta khẳng định: “Phải tiếp tục củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; chủ động nắm chắc tình hình; nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa, xử lý kịp thời các tình huống; kiên quyết không để bị động, bất ngờ”. Tiến tới hiện đại hóa toàn diện, yêu cầu đối với đội ngũ sĩ quan ngày càng cao, không chỉ vững về bản lĩnh chính trị mà còn giỏi về năng lực tổ chức, chỉ huy và huấn luyện bộ đội. Thực tiễn cho thấy, chất lượng huấn luyện ở đơn vị phụ thuộc rất lớn vào năng lực huấn luyện của đội ngũ cán bộ, trong đó học viên các trường sĩ quan chính là nguồn kế cận trực tiếp. Vì vậy, bồi dưỡng năng lực huấn luyện cho học viên ngay từ khi còn học tập tại nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội.
2. Nội dung nghiên cứu.
2.1. Một số vấn đề lý luận về năng lực huấn luyện của học viên sĩ quan
Năng lực huấn luyện của học viên các trường sĩ quan là một trong những năng lực cốt lõi, phản ánh trực tiếp chất lượng đào tạo và khả năng hoàn thành chức trách của người cán bộ khi ra trường. Xét về bản chất, năng lực huấn luyện được hiểu là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, phương pháp và phẩm chất cần thiết để tổ chức, quản lý và thực hành huấn luyện bộ đội theo đúng mục tiêu, yêu cầu, nội dung và phương pháp huấn luyện trong Quân đội. Đây không phải là một năng lực đơn lẻ mà là một cấu trúc tổng hợp, thống nhất giữa nhận thức, hành động và phẩm chất nghề nghiệp quân sự, được hình thành và phát triển thông qua quá trình đào tạo có mục tiêu, kế hoạch và gắn chặt với thực tiễn đơn vị.
Trước hết, năng lực huấn luyện của học viên thể hiện ở khả năng nhận thức và nắm vững nội dung huấn luyện. Học viên phải hiểu sâu sắc các nguyên tắc, phương châm, quan điểm huấn luyện quân sự; nắm chắc nội dung, chương trình, quy trình tổ chức huấn luyện theo từng chuyên ngành, binh chủng. Đây là cơ sở để học viên hình thành tư duy tổ chức huấn luyện đúng đắn, khoa học, tránh tình trạng dạy học máy móc, hình thức, không sát thực tế chiến đấu.
Trên nền tảng nhận thức đó, năng lực huấn luyện còn được thể hiện rõ nét ở khả năng tổ chức và điều hành huấn luyện. Học viên cần biết xây dựng kế hoạch huấn luyện chặt chẽ, khoa học; tổ chức điều hành giờ học linh hoạt, hiệu quả; duy trì luyện tập nghiêm túc; đồng thời thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện. Đây là yêu cầu trực tiếp gắn với chức trách của người chỉ huy phân đội, đòi hỏi học viên không chỉ nắm lý thuyết mà còn phải thành thạo kỹ năng tổ chức thực tiễn.
Bên cạnh đó, năng lực sư phạm quân sự là một bộ phận quan trọng cấu thành năng lực huấn luyện. Học viên cần có khả năng truyền đạt rõ ràng, dễ hiểu; biết hướng dẫn, làm mẫu, phân tích động tác; kịp thời phát hiện và uốn nắn sai sót cho bộ đội; đồng thời xử lý linh hoạt các tình huống sư phạm nảy sinh trong quá trình huấn luyện. Điều này đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và kinh nghiệm thực tiễn.
Một yêu cầu không thể thiếu là năng lực thực hành mẫu mực. Người học viên sĩ quan phải thực sự là tấm gương về động tác kỹ, chiến thuật, thực hiện đúng, đủ, nhanh, chính xác các nội dung huấn luyện. Thực hành tốt không chỉ nâng cao uy tín của người chỉ huy mà còn có tác dụng trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng tiếp thu của bộ đội.
Trong điều kiện hiện nay, năng lực huấn luyện còn bao hàm khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào quá trình huấn luyện. Học viên cần biết khai thác, sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật hiện đại, mô phỏng, phần mềm huấn luyện, công nghệ số… nhằm nâng cao tính trực quan, sinh động và hiệu quả của quá trình huấn luyện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong thời đại chuyển đổi số.
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực huấn luyện của học viên sĩ quan
Năng lực huấn luyện của học viên sĩ quan không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực cá nhân mà còn chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau, cả chủ quan và khách quan, trong đó có những yếu tố mang tính quyết định trực tiếp đến chất lượng hình thành và phát triển năng lực.
Trước hết, mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo là yếu tố nền tảng định hướng quá trình hình thành năng lực huấn luyện. Nếu chương trình đào tạo được xây dựng khoa học, sát thực tiễn chiến đấu, cân đối hợp lý giữa lý thuyết và thực hành, chú trọng phát triển năng lực thay vì chỉ truyền thụ kiến thức thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi để học viên rèn luyện toàn diện. Ngược lại, nếu nội dung còn nặng lý thuyết, thiếu tính thực tiễn sẽ làm hạn chế khả năng vận dụng và tổ chức huấn luyện của học viên.
Thứ hai, chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực huấn luyện của học viên. Giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người hướng dẫn, tổ chức, uốn nắn và hình thành phương pháp huấn luyện cho học viên. Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp sư phạm và tinh thần trách nhiệm của giảng viên có vai trò quyết định trong việc phát triển năng lực huấn luyện cho người học.
Thứ ba, phương pháp dạy học và hình thức tổ chức huấn luyện là yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả bồi dưỡng năng lực. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như dạy học tình huống, mô phỏng, thực hành thao trường, diễn tập… sẽ giúp học viên phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao kỹ năng tổ chức và xử lý tình huống. Ngược lại, phương pháp giảng dạy thụ động, một chiều sẽ làm hạn chế khả năng phát triển năng lực thực tiễn.
Thứ tư, cơ sở vật chất, trang bị và điều kiện bảo đảm huấn luyện có vai trò hỗ trợ trực tiếp. Hệ thống thao trường, bãi tập, mô hình học cụ, vũ khí trang bị, phương tiện mô phỏng và công nghệ số càng đầy đủ, hiện đại thì càng tạo điều kiện để học viên được rèn luyện sát thực tế, nâng cao chất lượng thực hành huấn luyện.
Thứ năm, môi trường giáo dục và rèn luyện trong nhà trường Quân đội là yếu tố quan trọng góp phần hình thành phẩm chất và phong cách huấn luyện của học viên. Môi trường chính quy, kỷ luật nghiêm, nề nếp tốt, gắn học tập với rèn luyện sẽ giúp học viên hình thành tác phong chỉ huy, phương pháp công tác khoa học và ý thức trách nhiệm cao trong huấn luyện.
Thứ sáu, ý thức, động cơ và tinh thần tự học, tự rèn của học viên giữ vai trò then chốt. Đây là yếu tố nội sinh quyết định trực tiếp đến kết quả hình thành năng lực. Học viên có động cơ học tập đúng đắn, tích cực rèn luyện, chủ động nghiên cứu, luyện tập sẽ nhanh chóng nâng cao năng lực huấn luyện. Ngược lại, nếu thiếu ý thức phấn đấu sẽ khó đạt được yêu cầu đào tạo.
Cuối cùng, sự gắn kết giữa nhà trường và đơn vị thực tiễn cũng có ảnh hưởng sâu sắc. Việc tổ chức cho học viên đi thực tế, thực tập tại đơn vị, tham gia huấn luyện cùng bộ đội sẽ giúp họ vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm và hoàn thiện năng lực huấn luyện.
2.3. Yêu cầu bồi dưỡng năng lực huấn luyện của học viên sĩ quan hiện nay
Trước hết, việc bồi dưỡng phải bám sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo sĩ quan trong tình hình mới. Năng lực huấn luyện của học viên không chỉ dừng lại ở việc nắm vững nội dung, chương trình mà còn phải đáp ứng yêu cầu tổ chức, chỉ huy huấn luyện trong điều kiện tác chiến hiện đại, đa dạng và phức tạp. Do đó, quá trình bồi dưỡng cần hướng đến hình thành năng lực toàn diện, gắn với chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ phân đội sau khi ra trường.
Thứ hai, bồi dưỡng năng lực huấn luyện phải bảo đảm tính toàn diện, hệ thống và liên tục. Các thành tố của năng lực huấn luyện như nhận thức, tổ chức điều hành, sư phạm quân sự, thực hành mẫu mực và ứng dụng công nghệ cần được phát triển đồng bộ, tránh phiến diện hoặc thiên lệch. Đồng thời, quá trình bồi dưỡng phải được tiến hành thường xuyên, xuyên suốt trong toàn khóa học, kết hợp chặt chẽ giữa học tập trên lớp, huấn luyện ngoài thao trường và thực tiễn đơn vị.
Thứ ba, cần gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành. Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong đào tạo quân sự. Việc bồi dưỡng năng lực huấn luyện phải thông qua thực hành là chủ yếu, tăng cường các hình thức huấn luyện theo tình huống, diễn tập, thực tập tại đơn vị, qua đó giúp học viên rèn luyện kỹ năng tổ chức, điều hành và xử lý các tình huống trong huấn luyện sát thực tế.
Thứ tư, quá trình bồi dưỡng phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học viên. Học viên không chỉ là đối tượng tiếp nhận mà còn là chủ thể của quá trình đào tạo. Do đó, cần khuyến khích học viên tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện phương pháp huấn luyện, hình thành tư duy độc lập, sáng tạo trong tổ chức huấn luyện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới.
Thứ năm, bồi dưỡng năng lực huấn luyện cần gắn với đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng khoa học công nghệ. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại như mô phỏng, lớp học đảo ngược, dạy học theo tình huống kết hợp với công nghệ số, trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo, giúp học viên tiếp cận phương pháp huấn luyện tiên tiến, phù hợp với xu thế phát triển của quân sự hiện đại.
Thứ sáu, phải bảo đảm tính chuẩn mực, chính quy và kỷ luật trong huấn luyện. Năng lực huấn luyện của học viên phải gắn liền với tác phong chỉ huy, ý thức tổ chức kỷ luật, phong cách làm việc khoa học, chính xác. Đây là yêu cầu đặc thù của môi trường Quân đội, góp phần hình thành phẩm chất và uy tín của người cán bộ đối với bộ đội.
Cuối cùng, việc bồi dưỡng năng lực huấn luyện cần gắn với đánh giá thực chất theo năng lực. Công tác kiểm tra, đánh giá phải phản ánh đúng khả năng tổ chức, điều hành huấn luyện của học viên, lấy kết quả thực hành làm tiêu chí chủ yếu, qua đó điều chỉnh quá trình đào tạo một cách kịp thời, hiệu quả.
2.4. Một số giải pháp trọng tâm bồi dưỡng năng lực huấn luyện của học viên sĩ quan hiện nay
Một là, đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực.
Đây là giải pháp nền tảng, định hướng toàn bộ quá trình đào tạo, quyết định trực tiếp đến chất lượng năng lực huấn luyện của học viên. Nghị quyết 1657-NQ/QUTW đã nhấn mạnh: “Chuẩn hóa các chương trình đào tạo bảo đảm cách mạng, khoa học, liên tục, kế thừa, tích hợp, sát với thực tế và phát triển, phù hợp với nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội và nhiệm vụ của đối tượng đào tạo”.
Vì vậy, đổi mới mục tiêu và chương trình đào tạo là cơ sở để xác định chuẩn đầu ra, bảo đảm học viên sau khi tốt nghiệp vừa nắm vững kiến thức, vừa thành thạo kỹ năng tổ chức huấn luyện, điều hành bộ đội và xử lý tình huống thực tiễn.
Chương trình cần chuẩn hóa, hiện đại, sát thực tiễn chiến đấu, cân đối giữa lý thuyết và thực hành, giữa kiến thức cơ bản và kỹ năng nghề nghiệp. Trọng tâm là “lấy phát triển năng lực thực hành huấn luyện làm trung tâm của quá trình đào tạo”, coi đây là trục chính để thiết kế học phần, đảm bảo học viên vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Nội dung tích hợp giữa kiến thức quân sự cơ bản (nguyên tắc, phương pháp, chương trình huấn luyện, pháp luật quân sự, tổ chức chỉ huy), kỹ năng thực hành huấn luyện (xây dựng giáo án, điều hành giờ học, kiểm tra, xử lý tình huống), kỹ năng ứng dụng công nghệ (mô phỏng, phần mềm huấn luyện, số hóa), cùng phẩm chất và tác phong quân sự (kỷ luật, chính quy, trách nhiệm, sáng tạo, thích ứng với tình huống). Chương trình được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp, liên thông lý luận với thực hành, học phần cơ bản với chuyên ngành, bảo đảm hệ thống, liên tục và đồng bộ, hình thành năng lực toàn diện cho học viên.
Về biện pháp thực hiện, các nhà trường cần rà soát và đánh giá chương trình hiện hành, loại bỏ nội dung trùng lặp, lạc hậu; cập nhật huấn luyện mới, bổ sung tình huống thực tiễn, phương tiện tác chiến hiện đại; tăng tỷ lệ thực hành, huấn luyện ngoài thao trường, bãi tập, diễn tập theo cương vị cán bộ phân đội; xây dựng hệ thống học phần tích hợp lý thuyết – thực hành, gắn kết lớp học với thực tiễn; đổi mới kiểm tra, đánh giá theo năng lực thực hành, kết hợp đánh giá thường xuyên với đánh giá cuối học phần và rút kinh nghiệm, điều chỉnh kịp thời; định kỳ cập nhật chương trình theo sự phát triển của nghệ thuật quân sự, vũ khí, phương thức tác chiến mới.
Hai là, tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành huấn luyện cho học viên.
Về vai trò, đây là khâu trực tiếp quyết định việc chuyển hóa kiến thức thành năng lực thực tiễn, là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng đào tạo sĩ quan. Việc rèn luyện kỹ năng thực hành giúp học viên hình thành khả năng tổ chức, điều hành huấn luyện bộ đội, xử lý tình huống và áp dụng phương pháp huấn luyện một cách chủ động, linh hoạt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tại đơn vị cơ sở.
Về nội dung, tập trung rèn luyện các kỹ năng cốt lõi: soạn thảo giáo án, thực hành giảng bài, tổ chức điều hành huấn luyện, kiểm tra đánh giá và xử lý tình huống trong quá trình huấn luyện; bảo đảm “thành thạo kỹ năng, vững vàng phương pháp, đúng cương vị chức trách”. Đồng thời, kết hợp huấn luyện kỹ năng cá nhân với kỹ năng tập thể, rèn luyện khả năng phối hợp, lãnh đạo, ra quyết định trong tình huống phức tạp và biến động.
Về biện pháp thực hiện, cần tăng cường huấn luyện ngoài thao trường, bãi tập, diễn tập theo cương vị cán bộ phân đội; tổ chức luyện tập định kỳ, thường xuyên và theo từng cấp độ từ cơ bản đến nâng cao; duy trì nghiêm chế độ hội thi, hội thao, kiểm tra thực hành để đánh giá và rút kinh nghiệm; kết hợp giữa huấn luyện thường xuyên với huấn luyện chuyên sâu, bồi dưỡng kỹ năng xử lý tình huống thực tiễn và phát triển phẩm chất chỉ huy mẫu mực.
Ba là, đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên theo hướng phát triển năng lực người học.
Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình hình thành năng lực huấn luyện của học viên, quyết định mức độ chủ động, tích cực và sáng tạo trong học tập, rèn luyện kỹ năng và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Việc đổi mới phương pháp không chỉ giúp học viên tiếp thu hiệu quả mà còn phát triển năng lực tự học, tư duy phản biện, kỹ năng xử lý tình huống và tổ chức huấn luyện bộ đội, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo. Đồng thời, đây cũng là cơ sở nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và đồng bộ hóa quá trình đào tạo với thực tiễn nhiệm vụ quân sự.
Nghị quyết 1659-NQ/QUTW nhấn mạnh: “Đổi mới nội dung và phương pháp huấn luyện, coi trọng huấn luyện làm chủ trang bị kỹ thuật có trong biên chế, nhất là trang bị kỹ thuật mới, cải tiến, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức huấn luyện và những thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống”
Vì vậy, cần chuyển từ phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều sang học tập chủ động, trải nghiệm và rèn luyện kỹ năng, tập trung “dạy cách học, dạy phương pháp tổ chức huấn luyện hơn là chỉ truyền đạt nội dung”. Nội dung đổi mới bao gồm: áp dụng các phương pháp tình huống, mô phỏng chiến thuật, thảo luận nhóm, lớp học đảo ngược; kết hợp lý thuyết trên lớp với thực hành ngoài thao trường; tổ chức các bài huấn luyện theo cương vị cán bộ phân đội; tạo cơ hội thử nghiệm, rút kinh nghiệm và tự hoàn thiện năng lực. Đồng thời, tích hợp phát triển kỹ năng sử dụng công nghệ, khai thác phần mềm và mô hình số hóa để học viên làm quen với phương tiện huấn luyện hiện đại.
Nhà trường cần áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực; tăng cường giao nhiệm vụ thực hành theo cương vị cán bộ phân đội; hướng dẫn học viên phân tích và xử lý tình huống thực tế; bồi dưỡng và nâng cao trình độ sư phạm cho giảng viên, đặc biệt kỹ năng sử dụng phương pháp tích cực và công nghệ huấn luyện; đồng thời đánh giá kết quả theo năng lực học viên, tập trung vào khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng thực hành và tư duy sáng tạo, kết hợp đánh giá thường xuyên với tổng kết cuối học phần để điều chỉnh phương pháp kịp thời.
Bốn là, gắn đào tạo với thực tiễn đơn vị.
Nghị quyết 1659-NQ/QUTW xác định: “Kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa nhà trường với đơn vị; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, cải tiến vũ khí trang bị, bảo đảm chất lượng đào tạo ngày càng cao”.
Vì vậy, đây là giải pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm khắc phục tình trạng đào tạo xa rời thực tế, giúp học viên nhanh chóng thích ứng với môi trường huấn luyện và nhiệm vụ chiến đấu. Việc gắn đào tạo với thực tiễn đơn vị không chỉ giúp học viên hiểu rõ đặc điểm, yêu cầu và điều kiện của công tác huấn luyện tại đơn vị cơ sở mà còn hình thành năng lực tổ chức, điều hành huấn luyện và khả năng xử lý tình huống trong môi trường thực tế. Đây là bước quan trọng để đảm bảo học viên sau khi tốt nghiệp có thể phát huy năng lực ngay tại đơn vị, phù hợp với mục tiêu đào tạo theo Nghị quyết 71- NQ/TW về “phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học”.
Về nội dung, tập trung tổ chức thực tập, tham gia trực tiếp huấn luyện bộ đội, diễn tập theo cương vị cán bộ phân đội, tích lũy kinh nghiệm và rèn luyện kỹ năng thực hành. Học viên được tham gia xây dựng kế hoạch huấn luyện, triển khai giờ tập, kiểm tra đánh giá, xử lý tình huống thực tế và phối hợp với các bộ phận khác, từ đó hình thành kỹ năng tổ chức, điều hành huấn luyện toàn diện. Nội dung còn bao gồm trải nghiệm quản lý, lãnh đạo trong môi trường thực tế, kết hợp lý thuyết với các bài học rút ra từ thực tiễn, giúp học viên phát triển tư duy chiến thuật và phong cách chỉ huy khoa học.
Nhà trường cần triển khai đồng bộ nhiều hoạt động như xây dựng kế hoạch thực tập sát thực tiễn, tổ chức các phiên huấn luyện mô phỏng tại đơn vị; kết hợp thao trường với công tác quản lý, điều hành thực tế; tăng cường sự tham gia trực tiếp của học viên trong các hoạt động huấn luyện, diễn tập; tổ chức đánh giá kết quả thực tập, rút kinh nghiệm và điều chỉnh chương trình, phương pháp đào tạo cho phù hợp; khuyến khích học viên chủ động quan sát, học hỏi từ kinh nghiệm thực tế của cán bộ chỉ huy và các tình huống phát sinh, giúp hoàn thiện năng lực huấn luyện toàn diện.
Năm là, phát huy vai trò tự học, tự rèn luyện của học viên.
Đây là yếu tố nội sinh, quyết định trực tiếp đến kết quả cuối cùng của quá trình đào tạo. Khả năng tự học, tự rèn luyện giúp học viên chủ động nghiên cứu tài liệu, luyện tập kỹ năng, hoàn thiện phương pháp huấn luyện, hình thành tư duy độc lập, khả năng xử lý tình huống và phong cách chỉ huy khoa học. Việc phát huy vai trò tự học không chỉ nâng cao năng lực cá nhân mà còn tạo tiền đề để học viên vận dụng kiến thức và kỹ năng một cách linh hoạt, đáp ứng yêu cầu thực tế tại đơn vị cơ sở và nhiệm vụ tác chiến hiện đại.
Về biện pháp thực hiện, cần xây dựng chế độ tự học, tự rèn luyện có định hướng, kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết, phân tích tình huống và thực hành kỹ năng; hướng dẫn học viên lập kế hoạch cá nhân về huấn luyện, tự học và nghiên cứu chuyên môn; tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ và kịp thời động viên, khuyến khích tinh thần chủ động, sáng tạo; đồng thời kết hợp tự học với huấn luyện thực hành, hội thi, diễn tập để học viên vừa củng cố kiến thức vừa phát triển kỹ năng, hình thành năng lực huấn luyện toàn diện.
3. Kết luận
Bồi dưỡng năng lực huấn luyện cho học viên sĩ quan là nhiệm vụ trọng tâm, quyết định chất lượng đào tạo và khả năng thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị cơ sở. Quá trình này đòi hỏi kết hợp đồng bộ giữa đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo; tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành; đổi mới phương pháp giảng dạy; gắn đào tạo với thực tiễn đơn vị; đồng thời phát huy vai trò tự học, tự rèn luyện của học viên.
Việc triển khai hiệu quả các giải pháp trên giúp học viên không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn thành thạo kỹ năng tổ chức, điều hành huấn luyện, xử lý tình huống thực tiễn và vận dụng công nghệ hiện đại. Đồng thời, quá trình này góp phần hình thành phẩm chất, tư duy độc lập, khả năng sáng tạo và phong cách chỉ huy khoa học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục – đào tạo trong Quân đội theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW về “phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học”./.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Quốc phòng (2020). Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2011-2020.
[2] Bùi Hiền (chủ biên, 2001). Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phá triển giáo dục và đào tạo.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tập I, II, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[5] Thủ tướng Chính phủ, (2022), Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030”, Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022.
[6] Quân ủy Trung ương (2022), Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo.
[7] Quân ủy Trung ương, (2022). Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới.
TRAINING THE TRAINING COMPETENCE OF CADETS IN MILITARY ACADEMIES IN THE CONTEXT OF CURRENT DIGITAL TRANSFORMATION IN EDUCATION
Nguyễn Xuân Thủy
Nguyễn Huệ University
Email: [email protected]
Abstract: This article focuses on clarifying theoretical and practical issues related to the training competence of cadets in military academies at present. Based on an analysis of the concept, structure of training competence, and assessment of the current situation, the article identifies strengths and limitations in the training process. At the same time, it proposes several key solutions, including: renewing training programs and content toward competency development; strengthening practical skill training; innovating teaching methods; promoting cadets’ self-learning; enhancing the application of science and technology; and linking training with unit-based practice. These solutions contribute to improving the quality of officer training, meeting the requirements of building a modern, well-trained military in the new context.
Keywords: Training competence; military cadets; military education; training methods; military education reform
Ý kiến bạn đọc