ĐỘT PHÁ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC – KHÂU ĐỘT PHÁ CỦA ĐỘT PHÁ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

01:27 | 25/07/2026

PGS.TS Trần Đình Tuấn

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Email: [email protected]

Tóm tắt: Phát triển giáo dục và phát triển xã hội là hai quá trình thống nhất trong mục tiêu phát triển con người, đồng thời tác động qua lại theo quan hệ biện chứng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo và hội nhập quốc tế, mối quan hệ này càng trở nên chặt chẽ, đòi hỏi phải được nhận thức trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn phát triển của Việt Nam. Bài viết phân tích mục tiêu chiến lược của phát triển giáo dục và phát triển xã hội, làm rõ tính thống nhất giữa hai quá trình, đồng thời chỉ ra yêu cầu phát triển giáo dục phải phù hợp với trình độ phát triển của xã hội nhưng đồng thời phải giữ vai trò dẫn dắt, mở đường cho sự phát triển xã hội. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm thực hiện đồng bộ đột phá phát triển giáo dục với đột phá phát triển xã hội trong giai đoạn mới.

Từ khóa: phát triển giáo dục; phát triển xã hội; phát triển con người; đổi mới giáo dục; phát triển bền vững.

1. Mở đầu

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, giáo dục và xã hội luôn tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau. Mỗi bước tiến của xã hội đều gắn liền với sự phát triển của giáo dục; ngược lại, mỗi cuộc cải cách giáo dục thành công đều tạo nên những chuyển biến sâu sắc về kinh tế, chính trị, văn hóa và đời sống xã hội. Chính vì vậy, nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển giáo dục với phát triển xã hội không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn quan trọng trong hoạch định chính sách phát triển quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định rằng, muốn có chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa. Suy rộng ra, khâu then chốt để xây dựng chủ nghĩa xã hội là giáo dục, đào tạo ra con người có trình độ phát triển ngang tầm với trình độ phát triển của chủ nghĩa xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng đó của Giáo dục, Đảng và Nhà nước luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phát huy nhân tố con người và sức mạnh văn hóa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới. Quan điểm này thể hiện sự kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quyết định của con người đối với sự phát triển xã hội, đồng thời nhấn mạnh rằng đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển.

Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới giáo dục hiện nay vẫn tồn tại những cách tiếp cận chưa thật đầy đủ về mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội. Có quan điểm cho rằng giáo dục phải luôn đi trước, dẫn dắt mọi sự phát triển xã hội mà chưa tính đến các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và trình độ phát triển của đất nước. Ngược lại, cũng có quan điểm coi giáo dục chỉ là lĩnh vực phục vụ, hoàn toàn phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội, từ đó làm giảm vai trò chủ động, tiên phong của giáo dục trong kiến tạo tương lai. Cả hai cách tiếp cận cực đoan này đều chưa phản ánh đúng bản chất biện chứng của mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội.

Trong bối cảnh mới, mối quan hệ giữa phát triển giáo dục với phát triển xã hội cần được nhìn nhận theo tư duy hệ thống và tư duy phát triển. Giáo dục không chỉ có chức năng đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện tại mà còn phải dự báo, kiến tạo và dẫn dắt sự phát triển của xã hội trong tương lai. Ngược lại, mọi chủ trương đổi mới giáo dục chỉ có thể thành công khi được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, công nghệ và thể chế của đất nước. Vì vậy, phát triển giáo dục và phát triển xã hội không phải là hai quá trình độc lập mà là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất, cùng hướng tới mục tiêu cao nhất là phát triển hoàn toàn con người và xây dựng một xã hội phát triển nhanh, bền vững, nhân văn và hạnh phúc.

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận của mối quan hệ biện chứng giữa phát triển giáo dục và phát triển xã hội; làm rõ nguyên tắc giáo dục phải phù hợp với trình độ phát triển của xã hội nhưng đồng thời phải giữ vai trò tiên phong, mở đường cho sự phát triển; từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm thực hiện đồng bộ đột phá phát triển giáo dục với đột phá phát triển xã hội trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Đây không chỉ là yêu cầu của đổi mới giáo dục mà còn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong thế kỷ XXI.

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa phát triển giáo dục với phát triển xã hội

2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa phát triển giáo dục với phát triển xã hội

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, con người là chủ thể sáng tạo lịch sử, đồng thời cũng là sản phẩm của lịch sử. Vì vậy, mọi quá trình phát triển xã hội đều gắn liền với quá trình phát triển con người, mà giáo dục là con đường cơ bản nhất để phát triển con người. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để nhận thức đúng vai trò của giáo dục trong sự phát triển xã hội. C. Mác đã chỉ ra rằng: "Con người tạo ra hoàn cảnh trong chừng mực nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người trong chừng mực ấy." Luận điểm này phản ánh bản chất biện chứng của mối quan hệ giữa con người và xã hội. Con người thông qua lao động, hoạt động nhận thức và sáng tạo đã cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và tạo nên những điều kiện phát triển mới. Ngược lại, chính những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và các quan hệ xã hội lại tác động trở lại, hình thành nên nhân cách, năng lực và phương thức sống của con người.

Trong một luận điểm nổi tiếng khác, Mác khẳng định: "Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội." Điều đó có nghĩa là con người không phát triển một cách tự nhiên mà được hình thành và phát triển trong những điều kiện xã hội cụ thể. Giáo dục chính là cầu nối giữa cá nhân và xã hội, giúp con người tiếp thu tri thức, văn hóa, chuẩn mực đạo đức và kinh nghiệm lịch sử của nhân loại để trở thành chủ thể của sự phát triển xã hội. Vì vậy, phát triển giáo dục thực chất là phát triển con người, còn phát triển con người là điều kiện tiên quyết của phát triển xã hội.

Kế thừa tư tưởng của Mác, Ph. Ăngghen nhấn mạnh rằng sự phát triển của giáo dục luôn gắn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất. Khi phương thức sản xuất thay đổi thì yêu cầu đối với nguồn nhân lực cũng thay đổi, kéo theo sự thay đổi của mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục. Điều này lý giải vì sao mỗi cuộc cách mạng công nghiệp đều dẫn đến những cuộc cải cách giáo dục tương ứng nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại.

Trên cơ sở phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, V.I. Lênin đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc phát triển giáo dục phải phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể. Trong tác phẩm Bệnh ấu trĩ "tả khuynh" trong phong trào cộng sản, Người phê phán khuynh hướng nóng vội, duy ý chí trong việc xây dựng ngay một nền giáo dục có khả năng đào tạo con người phát triển toàn diện khi các điều kiện kinh tế và xã hội chưa chín muồi. V.I.Lênin đã chỉ ra rằng, giáo dục con người phát triển toàn diện là cái đích mà chủ nghĩa cộng sản phải đi tới, đang đi tới và nhất định sẽ đi tới, nhưng đó là cái đích của tương lai, khi mà chủ nghĩa cộng sản đã phát triển đầy đủ. Còn “ngay bây giờ mà trên thực tiễn, muốn đạt được cái kết quả tương lai đó của chủ nghĩa cộng sản đã phát triển đầy đủ, đã hình thành vững chắc và đã hoàn toàn chín muồi rồi thì chẳng khác gì muốn dạy toán cao cấp cho một em bé lên bốn” [3, tr.41]. Quan điểm này có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc đối với quá trình đổi mới giáo dục hiện nay, bởi mọi cải cách giáo dục chỉ có thể thành công khi xuất phát từ thực tiễn phát triển của đất nước, tránh tư tưởng chủ quan, nóng vội hoặc sao chép máy móc các mô hình giáo dục của nước ngoài.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn khẳng định giáo dục là nền tảng của sự phát triển dân tộc và là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới. Theo Người, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa, mà muốn có con người xã hội chủ nghĩa thì phải chăm lo phát triển giáo dục.

Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc giáo dục phải gắn với thực tiễn, gắn với lao động sản xuất và phục vụ nhân dân. Người nhiều lần căn dặn việc học phải gắn với hành, lý luận phải đi đôi với thực tiễn, nhà trường phải gắn với xã hội. Đây là sự cụ thể hóa quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong lĩnh vực giáo dục, khẳng định giáo dục không thể tách rời yêu cầu phát triển của đất nước. Một tư tưởng có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc của Hồ Chí Minh là yêu cầu phát triển từng bước, phù hợp với điều kiện khách quan. Người căn dặn, mọi sự đổi mới đều phải có lộ trình, phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn và không thể vượt qua những giới hạn của lịch sử. Đối với giáo dục, điều đó có nghĩa là cải cách giáo dục phải gắn với trình độ phát triển của nền kinh tế, năng lực quản trị quốc gia, đội ngũ nhà giáo và điều kiện của xã hội.

Như vậy, từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có thể rút ra ba nguyên lý cơ bản: (i) phát triển giáo dục và phát triển xã hội thống nhất ở mục tiêu phát triển con người; (ii) giáo dục chịu sự quy định của điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhưng đồng thời có tác động mạnh mẽ trở lại đối với sự phát triển xã hội; (iii) đổi mới giáo dục phải tôn trọng quy luật khách quan, phù hợp với điều kiện lịch sử nhưng đồng thời phải có tầm nhìn chiến lược để chuẩn bị cho tương lai. Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để hoạch định chính sách phát triển giáo dục trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

2.2. Bài học từ thực tiễn phát triển giáo dục trong lịch sử

Lịch sử phát triển của giáo dục thế giới cho thấy, mỗi bước tiến của giáo dục đều gắn liền với những biến đổi lớn của xã hội. Ngược lại, những cuộc cải cách giáo dục không phù hợp với điều kiện lịch sử hoặc vượt quá trình độ phát triển của xã hội đều gặp nhiều khó khăn, thậm chí thất bại. Điều đó chứng minh rằng giáo dục và xã hội luôn tồn tại trong mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời nhau.

Trong lịch sử cận đại, các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng như Robert Owen, Charles Fourier và Henri Saint-Simon đều mong muốn xây dựng một nền giáo dục mới nhằm đào tạo những con người phát triển toàn diện, có tinh thần hợp tác và bình đẳng. Những tư tưởng này mang giá trị nhân văn sâu sắc và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của khoa học giáo dục. Tuy nhiên, các mô hình giáo dục mà họ xây dựng chưa thể thành công vì được triển khai trong bối cảnh nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vẫn vận hành theo các quy luật của sở hữu tư nhân và cạnh tranh thị trường. Khi nền tảng kinh tế - xã hội chưa thay đổi thì những mục tiêu giáo dục mang tính xã hội chủ nghĩa khó có thể được hiện thực hóa một cách bền vững.

Ngược lại, những quốc gia thực hiện thành công cải cách giáo dục đều đặt giáo dục trong chiến lược phát triển quốc gia và gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cuộc cải cách giáo dục ở Nhật Bản sau Minh Trị Duy tân, sự phát triển của hệ thống giáo dục Phần Lan hay chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc và Singapore đều cho thấy giáo dục chỉ phát huy hiệu quả khi được hỗ trợ bởi thể chế tiến bộ, nền kinh tế phát triển, chính sách đầu tư dài hạn và một nền văn hóa coi trọng học tập. Trong các trường hợp này, giáo dục không chỉ thích ứng với yêu cầu của xã hội mà còn trở thành động lực thúc đẩy hiện đại hóa đất nước và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đối với Việt Nam, lịch sử phát triển giáo dục cũng phản ánh rõ quy luật đó. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào Bình dân học vụ nhằm xóa nạn mù chữ, coi đây là nhiệm vụ cấp bách để xây dựng chế độ mới. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục cũng từng bước đổi mới về mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học và cơ chế quản lý. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay, giáo dục Việt Nam tiếp tục chuyển mạnh từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận phát triển phẩm chất và năng lực người học, đẩy mạnh tự chủ đại học, chuyển đổi số và xây dựng xã hội học tập. Những thành tựu đó đều gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế, khoa học, công nghệ và thể chế quốc gia.

Từ thực tiễn phát triển giáo dục trong lịch sử có thể rút ra một số bài học quan trọng. Thứ nhất, giáo dục không thể phát triển tách rời điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thứ hai, cải cách giáo dục phải có lộ trình phù hợp, tránh tư tưởng nóng vội, duy ý chí hoặc sao chép máy móc mô hình của các quốc gia khác. Thứ ba, giáo dục chỉ thực sự trở thành động lực của phát triển khi được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, có sự đồng bộ giữa đổi mới giáo dục với đổi mới thể chế, phát triển khoa học - công nghệ, xây dựng văn hóa và phát triển nguồn nhân lực. Thứ tư, trong mọi giai đoạn lịch sử, đầu tư cho giáo dục luôn là đầu tư cho tương lai; phát triển giáo dục không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà còn phải chuẩn bị nguồn nhân lực cho những yêu cầu phát triển của xã hội trong dài hạn.

Những bài học lịch sử đó tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của quan điểm: giáo dục phải phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể nhưng không được thụ động đi sau xã hội; ngược lại, giáo dục phải có tầm nhìn chiến lược, chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực và dẫn dắt sự phát triển của xã hội trong tương lai. Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để Việt Nam tiếp tục thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong bối cảnh phát triển mới.

3. Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển giáo dục với phát triển xã hội

3.1. Vai trò của phát triển giáo dục đối với phát triển xã hội

Trước hết, phát triển giáo dục góp phần quyết định sự phát triển của nguồn nhân lực, yếu tố trung tâm của quá trình phát triển xã hội. Trong nền kinh tế tri thức và kỷ nguyên số, lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên hay lao động giản đơn mà phụ thuộc ngày càng nhiều vào chất lượng nguồn nhân lực. Giáo dục tạo ra đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ. Một nền giáo dục phát triển sẽ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ hai, giáo dục là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Giáo dục không chỉ truyền bá tri thức mà còn sản sinh tri thức mới thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, sáng tạo công nghệ và chuyển giao tri thức vào thực tiễn. Các trường đại học, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục hiện nay đã trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, góp phần hình thành hệ sinh thái nghiên cứu – phát triển (R&D), khởi nghiệp sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ số phát triển mạnh mẽ, giáo dục đóng vai trò tiên phong trong việc hình thành năng lực số, năng lực nghiên cứu và tư duy đổi mới của thế hệ trẻ, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội.

Thứ ba, giáo dục góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa của xã hội. Văn hóa không chỉ được hình thành thông qua các hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn được truyền thụ, bảo tồn và phát triển thông qua giáo dục. Nhà trường là môi trường quan trọng để hình thành nhân cách, bồi dưỡng đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm và các giá trị nhân văn cho mỗi cá nhân. Giáo dục giúp con người tiếp thu các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp cận tinh hoa văn hóa nhân loại, từ đó hình thành bản sắc văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Một nền giáo dục tiên tiến sẽ tạo nên một xã hội học tập, xã hội đổi mới sáng tạo và xã hội phát triển bền vững trên nền tảng văn hóa.

Thứ tư, giáo dục góp phần bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Thông qua việc mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người dân, giáo dục trở thành công cụ hữu hiệu để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, giữa các nhóm xã hội và giữa các thế hệ. Giáo dục tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy tiềm năng, nâng cao vị thế xã hội bằng chính năng lực và sự nỗ lực của mình, qua đó thúc đẩy bình đẳng về cơ hội phát triển. Đồng thời, giáo dục còn góp phần giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự gắn kết xã hội.

Thứ năm, giáo dục góp phần phát triển hoàn toàn con người – mục tiêu cao nhất của phát triển xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, con người vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử, vừa là sản phẩm của các quan hệ xã hội. Vì vậy, phát triển xã hội trước hết phải là phát triển con người. Giáo dục chính là con đường cơ bản để hình thành con người có tri thức, đạo đức, bản lĩnh chính trị, năng lực nghề nghiệp, sức khỏe, khả năng sáng tạo và tinh thần cống hiến. Một xã hội muốn phát triển nhanh và bền vững không chỉ cần những con người có trình độ chuyên môn cao mà còn cần những công dân có trách nhiệm xã hội, ý thức pháp luật, tinh thần nhân văn và năng lực học tập suốt đời.

Thứ sáu, giáo dục góp phần nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và phát triển nền dân chủ xã hội. Một nền giáo dục phát triển sẽ hình thành đội ngũ cán bộ, công chức, doanh nhân, nhà khoa học và công dân có trình độ, có tư duy khoa học, năng lực quản trị và tinh thần phụng sự xã hội. Giáo dục đồng thời nâng cao dân trí, giúp người dân hiểu biết pháp luật, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tham gia tích cực vào các hoạt động quản lý nhà nước và giám sát xã hội. Chính vì vậy, trình độ phát triển giáo dục thường được xem là một trong những chỉ báo quan trọng phản ánh chất lượng quản trị và mức độ phát triển của một quốc gia.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa hiện nay, vai trò của giáo dục còn được mở rộng sang việc chuẩn bị cho xã hội những năng lực mới mà trước đây chưa từng đặt ra. Giáo dục phải hình thành cho người học năng lực số, năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo, tư duy phản biện, tư duy đổi mới sáng tạo, năng lực hợp tác toàn cầu, năng lực thích ứng với sự thay đổi và khả năng học tập suốt đời. Đây chính là những năng lực cốt lõi quyết định khả năng cạnh tranh của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và mỗi quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

3.2. Tác động của phát triển xã hội đến phát triển giáo dục

Trước hết, trình độ phát triển kinh tế của xã hội quyết định quy mô và chất lượng phát triển giáo dục. Nền kinh tế càng phát triển thì khả năng đầu tư cho giáo dục càng lớn, bao gồm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học, đào tạo đội ngũ giáo viên và phát triển các chương trình giáo dục hiện đại. Ngược lại, ở những giai đoạn nền kinh tế còn khó khăn, nguồn lực dành cho giáo dục thường bị hạn chế, dẫn đến sự chậm đổi mới về chương trình, phương pháp dạy học và điều kiện bảo đảm chất lượng. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, những nước có trình độ phát triển kinh tế cao thường cũng là những quốc gia có nền giáo dục phát triển, bởi giáo dục luôn được hưởng lợi từ sự gia tăng nguồn lực xã hội.

Thứ hai, sự phát triển của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm thay đổi căn bản mô hình giáo dục. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT) và công nghệ số đã làm thay đổi phương thức dạy học, quản trị giáo dục và tổ chức hoạt động học tập. Nhà trường không còn là nơi độc quyền truyền thụ tri thức; người học có thể tiếp cận tri thức ở mọi lúc, mọi nơi thông qua các nền tảng số và hệ sinh thái học tập mở. Điều này buộc giáo dục phải đổi mới từ mục tiêu, chương trình, phương pháp giảng dạy đến phương thức đánh giá và quản trị nhà trường. Có thể nói, chính sự phát triển của xã hội số đã tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong giáo dục.

Quảng cáo

Thứ ba, sự phát triển của thị trường lao động và cơ cấu nghề nghiệp tạo ra những yêu cầu mới đối với giáo dục. Trong nền kinh tế tri thức, nhu cầu về nguồn nhân lực không ngừng thay đổi theo sự phát triển của khoa học và công nghệ. Nhiều ngành nghề truyền thống dần được tự động hóa, trong khi nhiều nghề nghiệp mới xuất hiện, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, kinh tế số, công nghệ sinh học, năng lượng xanh và đổi mới sáng tạo. Những thay đổi đó đòi hỏi giáo dục phải điều chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo, đổi mới chuẩn đầu ra, cập nhật chương trình và phát triển các năng lực mới cho người học. Như vậy, chính sự phát triển của xã hội đã tạo ra "đơn đặt hàng" đối với hệ thống giáo dục.

Thứ tư, sự phát triển của đời sống văn hóa và nhu cầu học tập của người dân thúc đẩy sự đổi mới giáo dục. Khi mức sống được nâng cao, nhu cầu học tập không còn chỉ dừng lại ở việc biết chữ hay có bằng cấp mà chuyển sang nhu cầu phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống và học tập suốt đời. Xã hội học tập đang trở thành xu thế phát triển của nhiều quốc gia, trong đó giáo dục không chỉ dành cho trẻ em và thanh niên mà mở rộng đến mọi tầng lớp nhân dân ở mọi lứa tuổi. Điều đó làm thay đổi quan niệm truyền thống về giáo dục, thúc đẩy sự hình thành các mô hình giáo dục mở, giáo dục linh hoạt, giáo dục trực tuyến và giáo dục thường xuyên.

Thứ năm, thể chế chính trị và chính sách phát triển xã hội có vai trò định hướng sự phát triển giáo dục. Giáo dục là một bộ phận của hệ thống chính sách công, do đó chịu sự điều chỉnh trực tiếp của đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Những đổi mới về thể chế, cơ chế quản lý, chính sách tài chính, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách khoa học và công nghệ hay chính sách chuyển đổi số đều tạo ra những điều kiện thuận lợi hoặc những yêu cầu mới đối với giáo dục. Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam cho thấy, mỗi bước phát triển của giáo dục đều gắn liền với những đổi mới về thể chế và chính sách phát triển đất nước.

Thứ sáu, quá trình hội nhập quốc tế làm gia tăng yêu cầu đổi mới giáo dục theo chuẩn mực toàn cầu. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giáo dục không còn phát triển trong phạm vi một quốc gia mà chịu tác động mạnh mẽ của các xu hướng giáo dục quốc tế. Việc tham gia các mạng lưới giáo dục khu vực và thế giới, kiểm định chất lượng quốc tế, công nhận văn bằng, trao đổi học thuật và hợp tác nghiên cứu đã thúc đẩy các cơ sở giáo dục đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và mô hình quản trị theo hướng hiện đại. Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng tạo điều kiện để giáo dục tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực.

Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội không chỉ tạo ra cơ hội mà còn đặt ra nhiều thách thức đối với giáo dục. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ làm cho tri thức liên tục thay đổi, nhiều kỹ năng nhanh chóng trở nên lạc hậu; sự phân hóa giàu nghèo có thể dẫn đến bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục; tác động của mạng xã hội và môi trường số đặt ra nhiều vấn đề về đạo đức, văn hóa, an toàn thông tin và định hướng giá trị cho thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, quá trình già hóa dân số, biến đổi khí hậu, dịch bệnh toàn cầu và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt cũng đòi hỏi giáo dục phải thích ứng nhanh hơn với những yêu cầu mới của xã hội.

Như vậy, phát triển xã hội vừa là điều kiện khách quan, vừa là động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của giáo dục. Trình độ phát triển của nền kinh tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể chế và hội nhập quốc tế quyết định quy mô, chất lượng và phương hướng phát triển của giáo dục trong từng giai đoạn lịch sử. Điều đó cũng khẳng định một nguyên lý quan trọng của khoa học giáo dục và chủ nghĩa duy vật lịch sử: giáo dục không thể phát triển tách rời sự phát triển của xã hội; mọi chiến lược đổi mới giáo dục chỉ có thể thành công khi được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Đồng thời, nhận thức đúng quy luật này là cơ sở để xây dựng các chính sách phát triển giáo dục có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn nhưng vẫn đủ năng lực dự báo và dẫn dắt sự phát triển của xã hội trong tương lai.

3.3. Giáo dục vừa thích ứng vừa dẫn dắt sự phát triển xã hội

Trước hết, giáo dục phải thích ứng với trình độ phát triển của xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, giáo dục là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng và chịu sự quy định bởi cơ sở kinh tế - xã hội. Mục tiêu, nội dung, phương pháp, mô hình tổ chức và quy mô của giáo dục đều phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, trình độ khoa học - công nghệ và điều kiện văn hóa của từng giai đoạn lịch sử. Khi xã hội chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, giáo dục phải thay đổi để đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp; khi xã hội bước sang nền kinh tế tri thức và kinh tế số, giáo dục tiếp tục đổi mới để hình thành những năng lực mới như tư duy số, năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo và khả năng học tập suốt đời.

Giáo dục với chức năng phát triển con người luôn chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Không thể xây dựng một nền giáo dục vượt ra ngoài những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và trình độ phát triển của xã hội. Nếu giáo dục tách rời thực tiễn phát triển của đất nước thì sẽ rơi vào tình trạng duy ý chí, thiếu tính khả thi và khó đạt được hiệu quả mong muốn.

Tuy nhiên, giáo dục không chỉ có chức năng thích ứng mà còn phải giữ vai trò dẫn dắt sự phát triển xã hội. Nếu chỉ dừng lại ở việc đáp ứng những yêu cầu hiện tại thì giáo dục sẽ luôn đi sau sự phát triển và khó có thể tạo ra những bước đột phá. Bản chất của giáo dục là chuẩn bị con người cho tương lai. Những học sinh bước vào trường học hôm nay sẽ trở thành lực lượng lao động, nhà khoa học, doanh nhân, nhà quản lý và công dân chủ chốt của đất nước sau 10, 20 hoặc 30 năm nữa. Vì vậy, giáo dục phải có tầm nhìn dài hạn, dự báo được xu hướng phát triển của xã hội để chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu của tương lai.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số và toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, chức năng dẫn dắt của giáo dục càng trở nên rõ nét. Nhiều ngành nghề truyền thống sẽ được tự động hóa, trong khi nhiều nghề nghiệp mới chưa từng tồn tại sẽ xuất hiện. Điều đó đòi hỏi giáo dục không chỉ truyền thụ tri thức hiện có mà phải trang bị cho người học năng lực thích ứng với sự thay đổi, năng lực đổi mới sáng tạo, tư duy phản biện, năng lực số, năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo, khả năng học tập suốt đời và năng lực hợp tác trong môi trường toàn cầu. Có thể nói, giáo dục hôm nay đang đào tạo những con người để làm việc trong một xã hội của ngày mai, chứ không chỉ cho xã hội của hiện tại.

Từ góc độ phát triển quốc gia, giáo dục còn đóng vai trò kiến tạo tương lai thông qua việc hình thành hệ giá trị, văn hóa đổi mới sáng tạo và năng lực phát triển bền vững của toàn xã hội. Giáo dục không chỉ chuẩn bị nguồn nhân lực mà còn góp phần hình thành tư duy phát triển, đạo đức công dân, ý thức pháp luật, tinh thần khởi nghiệp, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến của mỗi cá nhân. Đây chính là những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sức mạnh nội sinh của một quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Như vậy, có thể khẳng định rằng giáo dục vừa mang tính thích ứng, vừa mang tính dẫn dắt. Hai thuộc tính này không đối lập mà thống nhất biện chứng với nhau. Giáo dục phải thích ứng để bảo đảm tính hiện thực, tính khả thi và phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội; đồng thời phải dẫn dắt để tạo dựng những năng lực mới, chuẩn bị nguồn nhân lực và kiến tạo những giá trị mới cho tương lai. Nếu chỉ thích ứng mà không dẫn dắt thì giáo dục sẽ trở nên thụ động, chạy theo sự phát triển của xã hội; ngược lại, nếu chỉ hướng tới những mục tiêu vượt quá điều kiện lịch sử thì giáo dục sẽ rơi vào chủ quan, duy ý chí và thiếu tính khả thi.

Sự thống nhất giữa phát triển giáo dục và phát triển xã hội được thể hiện rõ nhất ở mục tiêu phát triển con người. Giáo dục hướng tới phát triển con người thông qua việc hình thành tri thức, kỹ năng, phẩm chất và năng lực; xã hội hướng tới phát triển con người thông qua việc tạo dựng môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa và pháp lý để con người phát huy những năng lực đó. Nói cách khác, phát triển giáo dục là con đường cơ bản để phát triển con người, còn phát triển xã hội là điều kiện để con người được phát triển toàn diện. Hai quá trình này tuy có chức năng khác nhau nhưng thống nhất ở mục tiêu cuối cùng là xây dựng con người phát triển hoàn toàn, có khả năng làm chủ bản thân, làm chủ khoa học - công nghệ và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay phải quán triệt đồng thời hai nguyên tắc.

Thứ nhất, giáo dục phải xuất phát từ trình độ phát triển thực tế của xã hội, tôn trọng các quy luật khách quan và điều kiện lịch sử cụ thể;

Thứ hai, giáo dục phải có tầm nhìn chiến lược, đi trước một bước trong chuẩn bị nguồn nhân lực và kiến tạo những giá trị mới cho sự phát triển của đất nước.

Chỉ khi thực hiện được sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện thực và tính tiên phong, giữa thích ứng và dẫn dắt, giáo dục mới thực sự trở thành động lực nội sinh, giữ vai trò mở đường cho sự phát triển nhanh và bền vững của xã hội trong kỷ nguyên mới.

4. Giải pháp đột phá phát triển giáo dục đồng bộ với đột phá phát triển xã hội

Trước hết, đột phá về thể chế phát triển giáo dục.

Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định bởi thể chế chính là "điểm nghẽn của điểm nghẽn". Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục theo hướng đồng bộ, hiện đại và hội nhập; mở rộng quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục; đổi mới cơ chế đầu tư, tài chính và huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa giáo dục với khoa học - công nghệ, lao động, văn hóa, doanh nghiệp và chính quyền địa phương nhằm bảo đảm giáo dục gắn chặt với yêu cầu phát triển của xã hội.

Thứ hai, đổi mới mô hình quản trị giáo dục theo hướng hiện đại, số hóa và kiến tạo phát triển.

Quản trị giáo dục cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị chiến lược, quản trị chất lượng và quản trị dựa trên dữ liệu. Cần đẩy nhanh chuyển đổi số trong toàn hệ thống giáo dục, xây dựng cơ sở dữ liệu giáo dục quốc gia thống nhất, phát triển nền tảng học tập số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, giảng dạy, kiểm tra đánh giá và dự báo nhu cầu nhân lực. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị và tăng khả năng thích ứng của giáo dục trước những biến động nhanh chóng của xã hội.

Thứ ba, đổi mới chương trình giáo dục theo hướng phát triển năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội tương lai.

Chương trình giáo dục cần được thiết kế theo định hướng mở, liên thông và linh hoạt, chú trọng phát triển tư duy phản biện, năng lực sáng tạo, năng lực số, năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo, năng lực ngoại ngữ, kỹ năng xanh và khả năng học tập suốt đời. Nội dung giáo dục phải gắn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời có tính dự báo để chuẩn bị nguồn nhân lực cho những ngành nghề mới và những lĩnh vực công nghệ mũi nhọn của đất nước.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Nhà giáo phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển xã hội học tập. Vì vậy, cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ nhà giáo theo hướng nâng cao năng lực số, năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực đổi mới phương pháp dạy học và khả năng thích ứng với môi trường giáo dục hiện đại. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ đủ mạnh để thu hút và giữ chân đội ngũ giáo viên có chất lượng cao.

Thứ năm, gắn kết chặt chẽ giáo dục với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thị trường lao động.

Các cơ sở giáo dục cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các tổ chức khoa học - công nghệ trong xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực hành, thực tập, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Đây là giải pháp quan trọng nhằm thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, đồng thời tạo môi trường để người học hình thành năng lực nghề nghiệp và năng lực đổi mới sáng tạo ngay trong quá trình học tập.

Thứ sáu, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời.

Trong bối cảnh tri thức liên tục được đổi mới, không một hệ thống giáo dục chính quy nào có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của con người trong suốt cuộc đời. Vì vậy, cần phát triển mạnh các mô hình học tập mở, học tập trực tuyến, học tập cộng đồng, giáo dục thường xuyên và công nhận kết quả học tập không chính quy. Đồng thời, cần hình thành văn hóa học tập suốt đời trong toàn xã hội, coi việc học không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm và nhu cầu tự thân của mỗi công dân.

Thứ bảy, xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong giáo dục và trong toàn xã hội.

Đây là giải pháp mang tính nền tảng bởi mọi cuộc cải cách đều bắt đầu từ sự thay đổi trong tư duy và văn hóa. Nhà trường cần tạo môi trường khuyến khích sáng tạo, chấp nhận khác biệt, tôn trọng tư duy phản biện, khuyến khích nghiên cứu khoa học và khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, toàn xã hội cần hình thành môi trường khuyến khích đổi mới, dám thử nghiệm, dám chịu trách nhiệm và biết chấp nhận những thất bại trong quá trình sáng tạo. Văn hóa đổi mới sẽ tạo nên động lực nội sinh để giáo dục và xã hội cùng phát triển.

Tóm lại, đột phá phát triển giáo dục trong bối cảnh mới không thể chỉ giới hạn trong phạm vi của ngành giáo dục mà phải được đặt trong tổng thể đột phá phát triển xã hội. Muốn giáo dục trở thành động lực dẫn dắt sự phát triển quốc gia thì trước hết phải tạo lập được một môi trường thể chế thông thoáng, một cơ cấu tổ chức hiện đại, một nền quản trị tiên tiến và một nền văn hóa đổi mới sáng tạo. Ngược lại, mọi đột phá về kinh tế, khoa học, công nghệ và quản trị xã hội cũng chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được bảo đảm bằng một nền giáo dục hiện đại, khai phóng và nhân văn. Chính sự đồng bộ giữa đột phá giáo dục và đột phá phát triển xã hội sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao trong những thập niên tới.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Lênin, V.I. (1981), Toàn tập, tập 41 (Bệnh ấu trĩ "tả khuynh" trong phong trào cộng sản), Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

4. Mác, C. và Ăngghen, Ph. (1995), Toàn tập, tập 23 (Tư bản, Quyển I), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2019), Tương lai của giáo dục và kỹ năng đến năm 2030: Khung định hướng học tập OECD 2030, Nhà xuất bản OECD, Paris.

6. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) (2021), Cùng nhau hình dung lại tương lai của chúng ta: Một khế ước xã hội mới cho giáo dục, Nhà xuất bản UNESCO, Paris.

7. Ngân hàng Thế giới (World Bank) (2018), Báo cáo Phát triển Thế giới 2018: Học tập để hiện thực hóa lời hứa của giáo dục, Ngân hàng Thế giới, Washington, D.C.

Từ khóa:
Theo tapchigiaochuc.com.vn Sao chép

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.