GIÁ TRỊ VĂN HÓA - GIÁO DỤC TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

08:18 | 23/12/2025
PGS. TS Trần Đình Tuấn - Viện Nghiên cứu Hợp tác Phát triển Giáo dục Tóm tắt: Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du không chỉ là kiệt tác văn học của dân tộc Việt Nam mà còn là sự kết tinh sâu sắc của truyền thống văn hóa – giáo dục Việt Nam trong lịch sử. Thông qua nội dung, ngôn ngữ, tư tưởng nhân văn và giá trị giáo dục, tác phẩm thể hiện tinh thần hiếu học, nhân nghĩa, đạo lý và khát vọng hướng thiện – những giá trị cốt lõi của nền văn hóa giáo dục Việt Nam. Bài viết phân tích mối quan hệ gi

PGS. TS Trần Đình Tuấn -
Viện Nghiên cứu Hợp tác Phát triển Giáo dục

Tóm tắt: Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du không chỉ là kiệt tác văn học của dân tộc Việt Nam mà còn là sự kết tinh sâu sắc của truyền thống văn hóa – giáo dục Việt Nam trong lịch sử. Thông qua nội dung, ngôn ngữ, tư tưởng nhân văn và giá trị giáo dục, tác phẩm thể hiện tinh thần hiếu học, nhân nghĩa, đạo lý và khát vọng hướng thiện – những giá trị cốt lõi của nền văn hóa giáo dục Việt Nam. Bài viết phân tích mối quan hệ giữa Truyện Kiều và nền văn hóa giáo dục dân tộc, chỉ ra các giá trị giáo dục về nhân sinh, đạo đức, nhân bản, đồng thời khẳng định vai trò của tác phẩm trong việc bồi dưỡng nhân cách, tâm hồn và bản sắc con người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

Từ khóa: Truyện Kiều, Nguyễn Du, văn hóa giáo dục Việt Nam, giá trị nhân văn, tư tưởng đạo đức.

1. Mở đầu

Nguyễn Du (1765–1820), danh nhân văn hóa thế giới, là đỉnh cao của nền văn học Việt Nam trung đại. Truyện Kiều không chỉ là một áng thơ bất hủ về nghệ thuật ngôn từ mà còn là tấm gương phản chiếu tâm hồn, văn hóa, giáo dục và đạo lý Việt Nam. Trong suốt hơn hai thế kỷ, Truyện Kiều đã trở thành “sách giáo khoa của đời sống” – một kho tàng giáo dục đạo đức, nhân cách, ứng xử xã hội và triết lý nhân sinh sâu sắc. Nghiên cứu Truyện Kiều từ góc độ văn hóa giáo dục giúp nhận ra rằng Nguyễn Du không chỉ viết nên một thiên tình sử mà còn kiến tạo nên một “giáo trình nhân đạo học” mang đậm tinh thần dân tộc và giá trị giáo dục bền vững.

GIÁ TRỊ VĂN HÓA - GIÁO DỤC TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Hội thảo khoa học quốc gia “Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương: Danh nhân – Thi hào – Giá trị di sản”

GIÁ TRỊ VĂN HÓA - GIÁO DỤC TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Tham luận của Nhà thơ Trần Đăng Khoa

2. Cơ sở lý luận

2.1. Văn hóa – giáo dục Việt Nam trong lịch sử

Văn hóa giáo dục Việt Nam là hệ thống giá trị, chuẩn mực và phương thức truyền thụ tri thức, đạo đức, nhân cách được hình thành qua nhiều thế kỷ. Văn hóa là nền tảng của giáo dục. Đồng thời, giáo dục lại bổ sung, phát triển làm giàu cho văn hóa. Quá trình phát triển của văn hóa và quá trình phát triển của giáo dục luôn thống nhất với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, đồng bộ với nhau.

Nhìn lại quá trình phát triển của văn hóa và giáo dục trong chiều dài lịch sử dân tộc ta thấy, mỗi bước ngoặt phát triển mới của văn hóa là một bước ngoặt phát triển mới của giáo dục. Trong văn hóa có văn hóa dân gian và văn hóa bác học, trong giáo dục cũng có giáo dục dân gian và giáo dục bác học. Nhìn xa hơn nữa, văn hóa còn là nền tảng tồn tại và phát triển của dân tộc. Mười thế kỷ bị phương Bắc đô hộ nhưng cuối cùng dân tộc Việt Nam vẫn giành được độc lập, vẫn không bị đồng hóa. Nguồn gốc sâu xa tạo nên sức sống mãnh liệt đó chính là nền văn hóa dân gian của dân tộc.

Năm 1858 Thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam, nhưng để chuẩn bị cho cuộc tấn công bắng quân sự thì cuộc tấn công trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục đã ngấm ngầm diễn ra từ trước đó nhiều năm thông qua chiêu bài truyền đạo và dạy chữ quốc ngữ... Nhìn từ góc độ văn hóa, có thể nói đó là cuộc chiến giữa nền văn hóa phương Tây đang trong giai đoạn phát triển, do Thực dân Pháp tiến hành tấn công vào nền văn hóa của chế độ Phong kiến Việt Nam đang suy tàn.

Mặc dù phải trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc và gần trăm năm Pháp thuộc nhưng nền văn hóa dân gian và nền giáo dục dân gian Việt nam vẫn âm thầm lặng lẽ tồn tại, phát triển. Nhờ dòng giáo dục dân gian mà những giá trị văn hóa dân tộc, những giá trị tốt đẹp của con người người Việt Nam vẫn được duy trì, nuôi dưỡng và trở thành nguồn sức mạnh tinh thần để tiếp tục thúc đầy cả dân tộc vươn lên giành lại độc lập. Đúng như cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”

Nền giáo dục truyền thống chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, hướng con người đến “nhân – nghĩa – lễ – trí – tín”, đề cao hiếu thảo, trung hiếu, nghĩa tình và tinh thần “học để làm người”.

2.2. Truyện Kiều trong dòng chảy văn hóa dân tộc

Truyện Kiều là sự tổng hòa của những yếu tố văn hóa dân tộc – từ ngôn ngữ, tư tưởng đến hệ giá trị đạo đức. Nguyễn Du đã Việt hóa cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), tạo nên một tác phẩm mang hồn Việt, phản ánh tâm thức Việt và trí tuệ Việt.

Những nghiên cứu gần đây ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng, truyện kiều của Nguyễn Du là sự phản ánh thực tiễn của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Nguyễn Du đã đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng đó chỉ là một nguồn thông tin tham khảo để tác giả viết nên truyện Kiều phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam.

Truyện kiều là kết tinh của văn hóa dân tộc Việt Nam. Tác giả đã mượn những sự tích của văn hóa Trung Hoa để mô tả những sự kiện của xã hội Việt Nam. Điều đó cũng phản ánh sự tương đồng của nền văn hóa Việt Nam với nền văn hóa Trung Hoa trong lịch sử. Khi mà một nghìn năm thâm nhập của nền văn hóa Phương Bắc cùng với nền giáo dục dưới các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn lấy sách của thầy Khổng tử làm nguồn tài liệu học tập chính thống thì việc Nguyễn Du sử dụng các tích cũ của Trung Hoa trong truyện kiều cũng là lẽ đương nhiên.

Sự xuất hiện của Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều là sản phẩm của nền giáo dục Việt Nam trong lịch sử. Tương thích với sự phát triển của văn hóa, dân tộc Việt Nam cũng có một nề giáo dục phát triển rực rỡ trong lịch sử. Minh chứng còn lại hiện nay là Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) có 82 tấm bia Tiến sĩ được dựng qua các triều đại Lê Sơ, Mạc và Lê Trung Hưng, vinh danh 1304 vị Tiến sĩ Nho học, ghi dấu một thời kỳ rực rỡ của khoa cử Việt Nam và được công nhận là Di sản tư liệu thế giới.

Việt Nam có nhiều danh nhân văn hóa kiệt xuất được UNESCO vinh danh, nổi bật là Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Chu Văn An, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Lê Quý Đôn, với những đóng góp lớn lao cho văn hóa, tư tưởng và đất nước, đại diện cho những giá trị tinh hoa của dân tộc qua nhiều thời kỳ lịch sử, từ nhà chính trị, quân sự, nhà thơ, nhà giáo đến danh y. Đó là minh chứng cho sự phát triển của nền giáo dục qua các thời kỳ trong lịch sử.

Như vậy, lịch sử đã chứng minh rằng, Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều được ra đời trong dòng chảy văn hóa, giáo dục của dân tộc Việt Nam. Đó là sản phẩm, là sự kết tinh của văn hóa, giáo dục của dân tộc Việt Nam trong chiều dài lịch sử. Điều này có thể phản biện lại các ý kiến của nhiều người từ trước đến nay vẫn cho rằng, Truyện Kiều của Nguyễn Du chỉ là Việt hóa cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc).

3. Truyện kiều – kết tinh của nền văn hóa giáo dục việt nam

GIÁ TRỊ VĂN HÓA - GIÁO DỤC TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Các đại biểu tham dự hội thảo

GIÁ TRỊ VĂN HÓA - GIÁO DỤC TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

3.1. Tinh thần nhân đạo và triết lý nhân sinh

Nguyễn Du thể hiện triết lý nhân đạo sâu sắc: thương người, trân trọng con người, đặc biệt là người phụ nữ – nạn nhân của xã hội phong kiến. Các nhân vật được khắc họa trong mối quan hệ thiện – ác, chính – tà, qua đó thể hiện tư tưởng “ở hiền gặp lành”, “thiện giả thiện báo” – những bài học đạo đức truyền thống.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”

Tư tưởng “lấy tâm làm gốc” phản ánh triết lý nhân bản sâu sắc của dân tộc Việt Nam – giáo dục con người bằng tình thương, lòng nhân ái và trách nhiệm. Trong mối quan hệ giữa tài và đức thì "đức" là gốc. Giáo dục phải lấy đức làm trọng.

Quảng cáo

3.2. Giáo dục đạo đức và nhân cách

Thông qua số phận Kiều, Nguyễn Du gửi gắm bài học về hiếu thảo, thủy chung, nghĩa tình, vị tha – những giá trị giáo dục đạo đức truyền thống. Từ Hải, Kim Trọng, Vương Ông, Vương Bà... là hình mẫu biểu đạt quan niệm giáo dục Nho học: lấy đạo đức làm gốc, nhân nghĩa làm đầu.

Chúng ta hãy suy ngẫm, so sánh về đạo đức, nhân cách của các nhân vật trong Truyện Kiều với triết lý giáo dục trong ca dao tục ngữ, trong nền văn hóa giáo dục dân gian Việt Nam. Chúng ta thấy trong đó có cả bóng dáng của tác giả và các nhân vật quan trọng của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.

3.3. Ngôn ngữ và mỹ học dân tộc – công cụ giáo dục văn hóa

Ngôn ngữ Truyện Kiều là đỉnh cao của tiếng Việt. Nguyễn Du sử dụng từ ngữ bình dân, ca dao, tục ngữ, thể hiện bản sắc ngôn ngữ dân tộc. Tác phẩm trở thành tài liệu giáo dục ngôn ngữ, đạo lý và nhân cách, góp phần giữ gìn, phát triển tiếng Việt – yếu tố cốt lõi của văn hóa giáo dục.

Tại sao Truyện Kiều lại gần gủi với mọi người dân, được các tầng lớp nhân dân khác nhau trong xã hội yêu thích. Người ta có thể sử dụng Truyện Kiều để bói, để đối đáp và đố nhau trong các trò chơi dân gian, để mô tả tính cách của con người thực trong xã hội, không ít người còn thuộc làu cả cuốn Truyện Kiều tổng cộng 3.254 câu thơ lục bát. Bởi lẽ, các nhân vật và ngôn ngữ sử dụng trong Truyện Kiều gần gủi với cuộc sống của người dân, mang tính dân gian phổ biến.

3.4. Giá trị giáo dục xã hội và nhân văn

Nguyễn Du phê phán bất công, đề cao công lý và nhân nghĩa. Tư tưởng “trọng nhân – khinh vật” là biểu hiện của triết lý giáo dục khai phóng, đặt con người làm trung tâm – tinh thần xuyên suốt văn hóa Việt Nam.

Đọc Truyện Kiều không ai là không xót thương nàng Kiều. Đó là một nhân vật vừa xinh đẹp, vừa có tài, có đức “mười phân vẹn mười” nhưng đã bị xã hội xô đẩy vào tình cảnh khốn khổ, gặp hết các hạng người khác nhau của xã hội. Tác giả đã đưa người đọc trải qua các cung bậc của thái độ từ thương yêu đến căm ghét rõ ràng.

4. Vai trò của Truyện Kiều trong giáo dục Việt Nam hiện nay

4.1. Vai trò của Truyện Kiều trong chương trình giáo dục và phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh

Hiện nay, Truyện Kiều là một trong những tác phẩm trọng tâm được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn ở bậc trung học phổ thông. Thông qua việc học Truyện Kiều, học sinh được rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản văn học cổ, cảm thụ ngôn ngữ tiếng Việt và bồi dưỡng năng lực biểu đạt sáng tạo. Ngôn ngữ trong Truyện Kiều là kết tinh của trí tuệ dân tộc, vừa uyển chuyển, sâu sắc, vừa gần gũi, bình dị. Việc tiếp xúc với Truyện Kiều giúp học sinh nâng cao năng lực ngôn ngữ và thẩm mỹ tiếng Việt, biết vận dụng linh hoạt thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong giao tiếp, góp phần giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và ảnh hưởng mạnh mẽ của ngôn ngữ số.

Ngôn ngữ nghệ thuật mẫu mực trong Truyện Kiều giúp bồi dưỡng năng lực cảm thụ ngôn từ cho học sinh. Tác phẩm là “bảo tàng ngôn ngữ dân tộc”, thể hiện tài năng sử dụng ngôn từ điêu luyện của Nguyễn Du. Việc dạy – học Truyện Kiều giúp học sinh nâng cao năng lực cảm nhận cái đẹp trong ngôn ngữ, biết phát hiện và phân tích hình ảnh, từ ngữ, biện pháp nghệ thuật, nhịp điệu, vần luật...Học sinh học được cách sử dụng tiếng Việt tinh tế, giàu biểu cảm, qua đó bồi dưỡng năng lực giao tiếp và sáng tạo ngôn ngữ.

4.2. Vai trò của Truyện Kiều trong giáo dục đạo đức, nhân cách và giá trị nhân văn cho học sinh

Tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều mang giá trị giáo dục sâu sắc đối với con người Việt Nam hiện nay. Những phẩm chất đạo đức như hiếu thảo, thủy chung, vị tha, lòng trắc ẩn và tinh thần hướng thiện là những bài học sống động mà học sinh có thể tiếp nhận qua nhân vật Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Thúy Vân… Truyện Kiều giúp người học nhận ra bản chất con người không chỉ được đánh giá bằng tài năng mà còn ở chữ “Tâm”, khơi dậy ý thức sống nhân ái, biết cảm thông, biết phản tỉnh trước những bất công trong xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, khi các giá trị đạo đức truyền thống có nguy cơ bị phai nhạt, việc giáo dục thông qua Truyện Kiều trở nên đặc biệt cần thiết, giúp củng cố nền tảng văn hóa đạo lý và nhân cách Việt Nam. Thông qua dạy học Truyện Kiều để giáo dục đạo đức, nhận cách và giá trị nhân văn cho học sinh là thực hiện quan điểm dạy chữ đi đôi với dạy người tron g Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

4.3. Vai trò của Truyện Kiều trong giáo dục thẩm mỹ và năng lực cảm thụ văn học – nghệ thuật cho học sinh

Truyện Kiều là đỉnh cao của thi ca Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật ngôn từ và cảm xúc nhân sinh. Việc giảng dạy Truyện Kiều giúp học sinh rèn luyện năng lực cảm thụ cái đẹp, hiểu được giá trị của nghệ thuật chân – thiện – mỹ trong đời sống.

Truyện Kiều là biểu tượng của cái đẹp và lòng nhân đạo. Truyện Kiều chứa đựng vẻ đẹp toàn diện của văn hóa Việt: lòng nhân ái, tình nghĩa, hiếu thảo, thủy chung. Qua số phận nàng Kiều, học sinh được giáo dục về giá trị nhân văn sâu sắc, biết trân trọng con người, cảm thông và chia sẻ với nỗi đau nhân thế – đây là cốt lõi của giáo dục cảm xúc và nhân cách thẩm mỹ.

Qua việc phân tích hình tượng nhân vật, thể thơ lục bát, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, người học phát triển tư duy hình tượng, năng lực thẩm mỹ và cảm xúc sáng tạo – những năng lực được coi trọng trong giáo dục hiện đại theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học.

Tóm lại. Truyện Kiều của Nguyễn Du là đỉnh cao của văn hóa thẩm mỹ dân tộc và là phương tiện giáo dục nghệ thuật hiệu quả trong nhà trường. Qua tác phẩm, học sinh không chỉ được bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học – nghệ thuật mà còn được giáo dục nhân cách, lòng nhân ái, tình yêu quê hương và bản sắc văn hóa Việt Nam. Việc khai thác hợp lý giá trị Truyện Kiều trong giáo dục thẩm mỹ là con đường quan trọng để phát triển con người toàn diện trong kỷ nguyên hội nhập văn hóa toàn cầu.

4.4. Vai trò của Truyện Kiều trong giáo dục bản sắc văn hóa và lòng yêu nước

Không chỉ là tác phẩm văn chương, Truyện Kiều còn là biểu tượng văn hóa dân tộc. Học Truyện Kiều là học về lịch sử tư tưởng, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, quan niệm đạo lý của người Việt. Từ đó, người học hình thành niềm tự hào dân tộc, ý thức bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nhiều trường học, bảo tàng, địa phương đã đưa hoạt động tìm hiểu Truyện Kiều vào các chương trình ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo, cuộc thi ngâm Kiều, vẽ tranh minh họa Kiều, hoặc sân khấu hóa tác phẩm – qua đó lan tỏa tình yêu văn học và tinh thần Việt đến thế hệ trẻ.

Giá trị giáo dục văn hóa và bản sắc dân tộc được thể hiện rõ ở chỗ Truyện Kiều là tấm gương phản chiếu tâm hồn, lối sống, phong tục, đạo lý người Việt, giúp học sinh thêm hiểu và yêu văn hóa dân tộc. Qua việc học Truyện Kiều, học sinh hình thành thái độ trân trọng di sản văn hóa và ý thức bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống trong đời sống hiện đại.

4.5. Định hướng phát triển giáo dục Kiều học trong kỷ nguyên số

Trong thời đại số, Truyện Kiều được số hóa dưới nhiều hình thức: sách điện tử, bản Kiều song ngữ, ứng dụng tra cứu từ ngữ cổ, bản đồ hành trình nhân vật, phim hoạt hình, game giáo dục…Việc ứng dụng công nghệ giúp việc học Truyện Kiều trở nên sinh động, trực quan, dễ tiếp cận, đồng thời mở rộng không gian tiếp nhận của người học. Giảng viên, giáo viên có thể sử dụng các công cụ số, nền tảng học trực tuyến, thực tế ảo hoặc trí tuệ nhân tạo để thiết kế bài học tương tác, tạo hứng thú và giúp người học tiếp cận Truyện Kiều bằng tư duy hiện đại. Nhờ đó, giá trị nhân văn và văn hóa của Nguyễn Du được truyền tải mạnh mẽ, góp phần hiện đại hóa di sản văn học dân tộc trong nền giáo dục 4.0.

Để phát huy hơn nữa giá trị của Truyện Kiều trong giáo dục, cần phải tăng cường nghiên cứu Kiều học liên ngành (văn hóa học, giáo dục học, ngôn ngữ học, công nghệ giáo dục). Xây dựng chuyên đề giảng dạy tích hợp giữa Truyện Kiều với giáo dục đạo đức, mỹ học, lịch sử, ngôn ngữ. Đưa Truyện Kiều ra thế giới thông qua dịch thuật, giao lưu văn hóa, chương trình học tiếng Việt cho người nước ngoài. Những định hướng này không chỉ góp phần bảo tồn di sản văn hóa dân tộc mà còn khẳng định vị thế văn học Việt Nam trong nền giáo dục toàn cầu.

5. Kết luận

Truyện Kiều của Nguyễn Du là biểu tượng rực rỡ của văn hóa – giáo dục Việt Nam. Tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn gửi gắm lý tưởng nhân văn, đạo đức và giáo dục bền vững. Sau hơn hai thế kỷ, Truyện Kiều vẫn là “người thầy” lớn của dân tộc – dạy con người sống nhân hậu, yêu thương, vượt lên nghịch cảnh bằng lòng tin vào điều thiện và công lý. Có thể khẳng định rằng Truyện Kiều là kết tinh của văn hóa giáo dục Việt Nam trong lịch sử, là di sản tinh thần vô giá góp phần định hình nhân cách và tâm hồn Việt.

Truyện Kiều của Nguyễn Du là di sản giáo dục nhân văn vô giá. Từ nhà trường đến đời sống xã hội, từ phương pháp dạy học truyền thống đến công nghệ hiện đại, tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị định hướng, giáo dục con người Việt Nam sống nhân ái, trung thực, sáng tạo và có bản sắc. Trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay, việc kế thừa và phát huy giá trị Truyện Kiều chính là gìn giữ linh hồn dân tộc trong sự phát triển bền vững của nền giáo dục Việt Nam. Truyện Kiều hiện diện trong chương trình giảng dạy các cấp học, góp phần giáo dục nhân cách, thẩm mỹ, ngôn ngữ và văn hóa cho học sinh. Trong thời đại số, việc số hóa và giảng dạy Truyện Kiều bằng công nghệ hiện đại giúp lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng tình yêu văn học và bản sắc Việt Nam trong thế hệ trẻ.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Du. (2015). Truyện Kiều. NXB Giáo dục Việt Nam.

2. Phong Lê (2024), Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du (Qua Kiệt tác Truyện Kiều), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, Hà Nội 2024

3. Đặng Thai Mai. (1980). Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học cổ điển Việt Nam. NXB Văn học.

4. Từ Thị Loan (2024), Nguyễn Du và Truyện Kiều trên hành trình lan tỏa ra thế giới, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, Hà Nội 2024

5. Trần Đình Sử. (2002). Thi pháp Truyện Kiều. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. UNESCO. (2015). Nguyễn Du – Danh nhân văn hóa thế giới. Tư liệu Hội đồng UNESCO Việt Nam.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.