MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC VÀ SỰ CHÚ Ý TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN SĨ QUAN HIỆN NAY

07:47 | 21/03/2026
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa GDQP&AN - Đại học Bách khoa Hà Nội Tóm tắt: Quán triệt và nắm vững Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về “Đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới”, cùng với phương châm “Chất lượng đào tạo của các học viện, nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, các học viện, nhà trường quân đội luôn chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học tích cực, co

ThS. Trần Đức Khánh Hùng

Khoa GDQP&AN - Đại học Bách khoa Hà Nội

Tóm tắt: Quán triệt và nắm vững Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về “Đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới”, cùng với phương châm “Chất lượng đào tạo của các học viện, nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, các học viện, nhà trường quân đội luôn chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học tích cực, coi đây là khâu đột phá trong công tác giáo dục và đào tạo. Các nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo hằng năm của các đơn vị đều xác định một nội dung đột phá quan trọng là “Nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng phương pháp dạy học tích cực”, đồng thời đề ra nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo phù hợp và hiệu quả.

Từ khóa: dạy và học tích cực; sự chú ý, giáo dục quốc phòng và an ninh, Đại học Bách khoa Hà Nội

1. Mở đầu

Trong những năm gần đây, công tác giáo dục và đào tạo tại các nhà trường quân đội đã có những chuyển biến tích cực, chiều sâu chất lượng ngày càng được khẳng định, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện chuẩn đầu ra theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của từng đối tượng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy hiệu quả vận dụng các phương pháp học tập tích cực của học viên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu thực tế. Nhận thức của một bộ phận học viên về vai trò của tính chủ động trong nhận thức còn hạn chế; cá biệt vẫn tồn tại tư tưởng "trung bình chủ nghĩa", thiếu ý chí phấn đấu và tinh thần tự giác nghiên cứu. Đặc biệt, tình trạng một số học viên dù đầu tư nhiều thời gian, công sức ôn luyện nhưng kết quả thu được không cao đã phản ánh sự thiếu hụt về kỹ năng quản trị học tập khoa học.

Qua khảo sát và đánh giá, một trong những nguyên nhân căn cốt dẫn đến hệ quả này chính là sự thiếu tập trung và khả năng duy trì trạng thái chú ý không liên tục trong quá trình tiếp nhận tri thức tại lớp học. Sự phân tán tư tưởng trong huấn luyện không chỉ làm suy giảm hiệu quả giảng dạy của giáo viên mà còn trực tiếp cản trở việc hình thành tư duy và kỹ năng quân sự của người học.

2. Nội dung nghiên cứu

Việc tìm kiếm và triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao sự chú ý học tập của học viên đã trở thành yêu cầu bức thiết, có ý nghĩa quyết định đến tính bền vững của chất lượng đào tạo hiện nay. Những nguyên nhân khiến học viên khó duy trì sự chú ý trong quá trình học tập thường xuất phát từ các yếu tố khách quan bên ngoài, nhưng lại có ảnh hưởng thường xuyên hoặc gián đoạn lên các hoạt động tâm lý như tri giác, tưởng tượng, tư duy và giao tiếp của họ. Cụ thể gồm các khía cạnh sau:

Môi trường học tập: Đây là yếu tố bao gồm không gian, thời gian, cùng các trang thiết bị và phương tiện giảng dạy. Môi trường này đóng vai trò nền tảng hỗ trợ quá trình nhận thức và hoạt động của học viên. Một số yếu tố như không gian lớp học chật hẹp, tiếng ồn, hệ thống âm thanh kém chất lượng, phòng học quá tối, nhiệt độ không phù hợp (quá nóng hoặc lạnh) thường xuyên tác động đến khả năng tập trung, dễ gây mất chú ý hoặc gián đoạn sự tập trung có chủ đích. Theo ý kiến của nhiều giáo viên, môi trường học tập thường là nguyên nhân chính dẫn đến sự phân tán chú ý trong lớp học.

Địa điểm huấn luyện: Nhiều nơi tổ chức học tập và huấn luyện cũng gây ra tình trạng mất tập trung. Ví dụ như thao trường nằm gần khu vực đông người qua lại; phòng thực hành ồn ào do máy móc hoạt động; ánh sáng kém; hoặc thời tiết không thuận lợi như nắng nóng hay mưa lớn. Tất cả những yếu tố này làm cho học viên không duy trì được sự tập trung lâu, dễ phân tâm bởi các yếu tố xung quanh và xuất hiện nhu cầu nghỉ ngơi hoặc thư giãn. Ngoài ra, việc bố trí không gian học quá cầu kỳ với nhiều mô hình, tranh ảnh gây rối loạn hoặc tạo sự tò mò cũng có thể làm phân tán sự chú ý của học viên.

Nội dung học tập: Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tiếp thu kiến thức của học viên. Đặc điểm của nội dung học tập như tính phức tạp, mức độ trừu tượng hoặc khả năng ứng dụng thực tiễn có thể khiến cho học viên cảm thấy hứng thú hoặc ngược lại, khó khăn trong việc tiếp thu. Khi gặp thử thách với những môn học hoặc bài học quá khó hiểu, hiệu quả học tập thường thấp và dẫn đến tâm lý học đối phó hoặc chỉ chú ý vì những lý do bên ngoài.

Phương pháp giảng dạy của giáo viên: Cách thức giảng dạy của giáo viên đóng vai trò quyết định đối với khả năng duy trì sự chú ý của học viên. Tuy nhiên, nhiều giáo viên vẫn chưa đổi mới phương pháp giảng dạy mà chủ yếu sử dụng cách đọc – chép truyền thống hoặc tổ chức lớp học theo những hình thức cứng nhắc. Việc chưa hiểu rõ đối tượng dạy học cũng như thiếu kinh nghiệm thực tiễn là nguyên nhân trực tiếp gây mất hứng thú và làm giảm khả năng tập trung của học viên. Nếu phương pháp giảng dạy thiếu hiệu quả được kéo dài, sẽ dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về mức độ chú ý.

Tổ chức quá trình học tập: Việc sắp xếp chương trình học chưa hợp lý cũng ảnh hưởng đáng kể tới khả năng tập trung. Một số môn học kéo dài thời gian liên tục trong ngày hoặc nhiều ngày liên tiếp có thể gây mệt mỏi. Đôi khi, trong một buổi học, học viên phải di chuyển giữa nhiều địa điểm hoặc thay đổi cách thức học tập (lý thuyết - thực hành - kiểm tra), làm tăng áp lực và giảm hiệu quả giữ chú ý.

Để giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực từ những nguyên nhân khách quan này, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía nhà trường, khoa giáo viên, đơn vị quản lý học viên, đồng thời khuyến khích bản thân từng học viên đưa ra những phản hồi và áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm duy trì trạng thái học tập hiệu quả. Bên cạnh một số nguyên nhân khách quan gây ảnh hưởng đến khả năng tập trung, chú ý của học viên thì cũng phải nói đến những nguyên nhân chủ quan. Đây là những nguyên nhân gắn liền với chủ thể nhận thức và hoạt động trong học tập. Những nguyên nhân này giữ vị trí chủ đạo, tác động đến năng lực làm chủ bản thân trong học tập cũng như cuộc sống. Có thể là:

Thiếu ý thức học tập: Kết quả khảo sát cho thấy một bộ phận học viên chưa thực sự tập trung chú ý trong học tập. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức chưa đầy đủ hoặc phiến diện về vai trò, vị trí của môn học và mối liên hệ giữa môn học với công việc chuyên môn mà họ đảm nhiệm. Vì vậy, một số học viên có xu hướng học đối phó, học chỉ để hoàn thành nghĩa vụ thay vì tiếp cận kiến thức một cách nghiêm túc. Bên cạnh đó, ý thức học tập trên lớp cũng chưa cao; trong trạng thái mệt mỏi hoặc thiếu hứng thú, họ có dấu hiệu chỉ học lấy lệ, làm cho hiệu quả học tập không được đảm bảo.

Thiếu động cơ học tập: Việc thiếu động lực học tập là một yếu tố quan trọng dẫn đến thái độ hời hợt, thiếu ý chí vượt qua khó khăn trong học tập. Trong thực tế, học viên thường tập trung phần lớn thời gian và công sức vào các môn học chuyên ngành có nội dung hấp dẫn, dễ lĩnh hội hoặc những môn được giáo viên giảng dạy một cách thu hút. Kết quả là họ ít đầu tư sự quan tâm và chú trọng vào các môn học khác, khiến việc học trở nên mất cân đối.

Thiếu phương pháp và kỹ năng học tập: Đặc biệt là kỹ năng tập trung chú ý. Nhiều học viên phản ánh rằng họ thường không tập trung nghe giảng mà bị cuốn vào những suy nghĩ không liên quan. Thêm vào đó, họ chưa biết cách áp dụng các phương pháp hiệu quả để lấy lại sự tập trung khi gặp tình trạng này. Việc thiếu kỹ năng và phương pháp phù hợp không chỉ làm giảm hiệu quả tiếp thu bài giảng mà còn làm suy giảm hứng thú cũng như sự chủ động tham gia vào các hoạt động học tập khác.

Trạng thái sức khoẻ: Hiện tượng thiếu ngủ, mệt mỏi, bị stress, .v.v. ảnh hưởng nhiều đến việc chú ý học tập của học viên. Điều này xuất phát từ thực tế cách thức tổ chức, thực hiện kế hoạch học tập, công tác của học viên (như canh gác ban đêm, trực sẵn sàng chiến đấu, lao động, tăng gia sản xuất,... ).

Quảng cáo

Tóm lại, các nguyên nhân chủ quan phần lớn được học viên ý thức đầy đủ và được giáo dục, bồi dưỡng thường xuyên. Vấn đề quan trọng là học viên phải có những biện pháp, cách thức tổ chức hoạt động một cách có hiệu quả cũng như là phương thức đối phó với trạng thái tập trung chú ý kém, nâng cao năng lực làm chủ bản thân. Từ việc phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về sự chú ý học tập trên lớp của học viên đặc biệt là kết quả khảo sát sự lựa chọn các biện pháp từ phía học viên nhằm nâng cao sự chú ý trong học tập, đề xuất một số giải pháp tác động nhằm nâng cao khả năng tập trung chú ý học tập trên lớp của học viên như sau:

Một là, chú trọng đổi mới, hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, sát thực tiễn.

Nội dung chương trình là một phần quan trọng của quá trình sư phạm tổng thể. Nội dung chương trình là sự thể hiện mục tiêu, yêu cầu giáo dục – đào tạo đã được xác định. Tuy chương trình đã ấn định song trên cơ sở thực tiễn giảng dạy phải kịp thời tổng kết, rút kinh nghiệm, bổ sung và đổi mới nội dung cho phù hợp, áp dụng chúng tốt hơn với các đối tượng đào tạo những khoá sau. Việc đổi mới nội dung, chương trình còn được thể hiện ở việc kịp thời bổ sung những tri thức khoa học mới, cập nhật kinh nghiệm và thực tiễn xã hội, quân đội cũng như là phương thức truyền tải tri thức khoa học, kinh nghiệm xã hội, lịch sử khách quan thành những hiểu biết, kỹ năng, phẩm chất và ý chí ở mỗi học viên sĩ quan.

Hai là, đẩy mạnh đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tối đa tính tích cực hóa hoạt động nhận thức.

Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của giáo viên chưa được học viên đánh giá cao, trong khi đa số học viên cho rằng yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sự chú ý học tập của họ. Vì vậy, để nâng cao sự chú ý của học viên trên lớp, giáo viên cần đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng đa dạng, linh hoạt, kết hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm phát huy tối đa các giác quan, tạo hứng thú học tập và phát triển tư duy sáng tạo của học viên. Đặc biệt, cần tăng cường các phương pháp dạy học tích cực như: dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, xêmina; gắn nội dung học tập với kinh nghiệm thực tiễn, nhất là các tình huống chiến đấu và nhiệm vụ công tác sau khi ra trường. Đồng thời, đẩy mạnh sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để nâng cao hiệu quả giảng dạy. Bên cạnh đó, giáo viên cần kết hợp giảng dạy với giáo dục nhận thức về ý nghĩa của hoạt động học tập, hướng dẫn học viên phương pháp học tập khoa học, hợp lý. Việc giảng dạy cần gắn với củng cố kiến thức cũ, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, thực hiện kiểm tra, đánh giá thường xuyên, khách quan; đồng thời duy trì nghiêm kỷ luật lớp học, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ lớp và quản lý, khai thác hiệu quả vũ khí, trang bị trong quá trình huấn luyện nhằm bảo đảm an toàn và nâng cao chất lượng đào tạo.

Ba là, chủ động duy trì trạng thái chú ý và kiểm soát hiện tượng phân tán tư tưởng trong lớp học.

Biện pháp này tập trung vào một số cách thức duy trì trạng thái chú ý thường xuyên, đối phó với hiện tượng học viên mất tập trung. Giáo viên phải bao quát lớp học, giáo viên cần có sự thay đổi vị trí trong lớp không lạm dụng quá tại vị trí bục giảng và sử dụng ngôn ngữ cơ thể để tạo sự tập trung; học viên: tham gia trả lời các câu hỏi, cho ý kiến liên quan, đặt ý kiến tranh luận, v.v…Khi học viên lơ đãng: giáo viên cần có những tín hiệu đủ mạnh thông báo nhanh chóng đưa học viên từ những gì họ đang làm, đang nghĩ trở lại hoặc giáo viên sử dụng một tín hiệu mà yêu cầu một phản ứng, đáp ứng từ học viên; liên hệ kiến thức, bài học với thực tế, những cái gì đó trong cuộc sống, hoạt động của học viên, giáo viên đi quanh lớp học và giám sát học viên làm việc, có lúc giáo viên cũng nên sử dụng ngôn từ hài hước để giảm sự căng thẳng, tạo sự thoải mái và thu hút học viên chú ý. Giáo viên duy trì nghiêm túc kỷ luật học tập, phải kết hợp chặt chẽ giữa động viên khuyến kích với nhắc nhở, phê bình để từ đó duy trì trạng thái học tập có ý thức tự giác của học viên.

Bốn là, tăng cường đầu tư hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học theo hướng đồng bộ, hiện đại và sát thực tiễn chiến đấu.

Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện cơ sở vật chất, các trang thiết bị bảo đảm cho việc dạy và học khá đầy đủ, phong phú. Tuy nhiên, trước sự phát triển của lĩnh vực quân sự và thực tiễn trang bị kỹ thuật ở đơn vị đòi hỏi Nhà trường và cơ quan cấp trên phải tăng cường bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, thao trường bãi tập, phòng chuyên dụng,... cho hoạt động dạy học của Nhà trường. Ngoài ra, cơ quan đào tạo xây dựng và bố trí lịch huấn luyện khoa học, các đơn vị quản lý học viên duy trì các hoạt động, phân công nhiệm vụ hợp lý bảo đảm vừa rèn luyện học viên vừa bảo đảm đủ sức khoẻ để học tập và thực hiện các nhiệm vụ khác.

Năm là, phát huy vai trò nội lực, không ngừng nâng cao nhận thức, thái độ và động cơ học tập của học viên.

Học viên là chủ thể trung tâm của quá trình đào tạo, đồng thời là nhân tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả điều tiết trạng thái chú ý của bản thân. Trước hết, cần giáo dục cho học viên nhận thức sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa thái độ học tập và năng lực thực hiện nhiệm vụ sau khi tốt nghiệp. Việc xây dựng động cơ học tập đúng đắn, ý chí quyết tâm vượt khó là "động lực tự thân" giúp học viên duy trì sự tập trung cao độ, ngay cả trong những nội dung huấn luyện cường độ cao hoặc khô khan. Quá trình tự quản trị nhận thức cần được thực hiện một cách hệ thống thông qua ba giai đoạn:

Giai đoạn chuẩn bị (Trước khi lên lớp): Học viên cần thiết lập kế hoạch học tập khoa học, có tính khả thi cao, tránh tình trạng chồng chéo nội dung giữa các môn học. Việc chủ động nghiên cứu tài liệu tại đơn vị, tự đặt ra các vấn đề nghi vấn và hệ thống câu hỏi thảo luận giúp tạo ra một "tâm thế chờ đón" tri thức, từ đó kích thích sự chú ý có chủ định ngay từ những phút đầu giảng bài.

Giai đoạn tiếp nhận (Trong giờ học): Học viên cần chủ động lựa chọn vị trí học tập tối ưu nhằm hạn chế các tác nhân gây nhiễu và tăng cường khả năng tương tác với giáo viên. Việc đa dạng hóa các hình thức tương tác như: ghi chép thông minh (sơ đồ tư duy, làm nổi bật từ khóa), đặt giả thuyết, tranh luận khoa học và liên hệ với các tri thức cũ không chỉ giúp duy trì trạng thái tỉnh táo mà còn chuyển hóa tri thức từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn.

Giai đoạn củng cố (Sau giờ học): Đây là khâu then chốt để kiểm chứng tính đúng đắn của quá trình chú ý. Học viên phải kịp thời ôn luyện, thực hiện hóa lý luận vào các tình huống thực hành, đồng thời tự đánh giá, rút kinh nghiệm về phương pháp học tập của bản thân. Việc hình thành đồng bộ các kỹ năng: nghe giảng, đọc tài liệu tham khảo, quản lý thời gian và khai thác thông tin sẽ tạo thành "bộ công cụ" hoàn chỉnh, giúp học viên làm chủ quá trình nhận thức và nâng cao chất lượng đào tạo một cách bền vững.

3. Kết luận

Nâng cao chất lượng sự chú ý trong học tập của học viên sĩ quan là một quá trình sư phạm phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ và hệ thống của nhiều nhân tố tác động. Trong chỉnh thể đó, giáo viên giữ vai trò chủ đạo, là người định hướng, điều tiết và tổ chức mọi hoạt động nhận thức; không chỉ dừng lại ở việc tác động vào nhu cầu, động cơ hay thái độ, mà còn phải trực tiếp kích thích, duy trì hành vi chú ý tích cực của người học thông qua nghệ thuật sư phạm và phương pháp hiện đại. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng chỉ đạt được khi vai trò chủ thể của học viên được phát huy tối đa, biến ý thức trách nhiệm thành nỗ lực tự thân trong việc làm chủ tri thức. Việc thực hiện quyết liệt và sáng tạo các nhóm giải pháp nêu trên chính là chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới.

Tài liệu tham khảo:

[1] Ban Chấp hành Trung ương. (2013). Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Hà Nội.

[2] Bộ Quốc phòng. (2021). Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2021–2030. Hà Nội.

[3] Giáo trình giáo dục học quân sự. (2016). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

[4] Giáo trình tâm lí học quân sự. (2005). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

[5] Tổng cục Chính trị. (2006). Từ điển giáo dục học quân sự. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.